1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.45 MB, 116 trang )


viên, ảnh hưởng của lối sống thực dụng, chán học, hay bỏ học, động cơ học

tập chưa rõ ràng, các tệ nạn xã hội len lỏi vào nhà trường, đây cũng là một

trong những vấn đề nổi cộm ở thời gian gần đây.

Do đó, sự kết hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội là sự kết hợp rất

cần thiết, cần có sự liên kết chặt chẽ trong giáo dục sinh viên, GVCN là một

trong những người đóng vai trò quan trọng trong sự giáo dục sinh viên.

Công tác GVCN đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu, tìm hiểu và

phân tích, tiêu biểu là:

Cải tiến việc Quản lý đội ngũ GVCN lớp của Hiệu trưởng trường phổ

thông của Lưu Xuân Mới (chủ nhiệm đề tài). Trường cán bộ quản lý giáo dục

và đào tạo, Hà Nội, 1998.

- Giáo dục học (Chương XVI, Người GVCNL) của Phạm Việt Vượng,

Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.

- Rèn luyện một số kỹ năng làm công tác GVCNL cho sinh viên Cao

đẳng Sư phạm Vũ Đình Mạnh, Tạp chí Giáo dục số 126 (11/2005).

- Phương pháp công tác của người GVCN ở trường THPT của Hà Nhật

Thăng (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.

- Một số học viên cao học đã quan tâm, cơ sở như luận văn thạc sĩ:

"Các biện pháp tăng cường quản lý công tác sinh viên tại trường Đại học dân

lập Văn Lang" của tác giả Bạch Thanh Sơn đề cập đến một số biện pháp tăng

cường quản lý công tác học sinh, sinh viên tại trường Đại học Dân lập Văn

Lang, năm 2008, luận văn thạc sĩ QLGD: "Biện pháp hoàn thiện công tác

QLSV tại Viện Đại học Mở Hà Nội" của tác giả Lương Tuấn Long. Đề cập

đến một số biện pháp hoàn thiện công tác QLSV tại Viện Đại học Mở Hà Nội,

năm 2008. Một số nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng công tác QLSV trên

nhiều lĩnh vực của các nhà trường và đề xuất các biện pháp quản lý, góp phần

vận dụng những hiểu biết về quản lý, quản lý giáo dục vào công tác QLSV



15



trong các trường đại học, cao đẳng để từng bước nâng cao chất lượng Giáo

dục và Đào tạo theo yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước. Tuy nhiên

đó là những nghiên cứu mang tính cụ thể, áp dụng trong những môi trường cụ

thể của từng trường, còn bản than công tác QLSV lại liên quan và phụ thuộc

rất nhiều nghiên cứu cụ thể thực trạng công tác QLSV với đặc thù của trường

Cao đẳng Du lịch Hà Nội trong giai đoạn hiện nay là cần thiết để làm cơ sở đề

xuất các biện pháp QLSV có hiệu quả.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý

Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người và

hoạt động ngày càng phát triển trong xã hội. Trong quá trình lãnh đạo, đấu

tranh với thiên nhiên để sinh tồn và phát triển, con người cần phải hợp sức

nhau lại để tự bảo vệ và kiếm kế sinh sống. Những hoạt động tổ chức, chỉ

đạo, điều khiển,... các hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục

tiêu chung là những dấu hiệu đầu tiên của quản lý.

Như vậy, hoạt động quản lý xuất hiện từ rất sớm và trải qua tiến trình

phát triển từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh, thì hoạt động quản lý cũng

ngày càng phát triển, hoàn thiện và trở thành một hoạt động phổ biến.

Còn nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nội dung,

thuật ngữ "quản lý", có thể nêu một số định nghĩa như sau:

- Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về quản lý: Quản lý xã hội

một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn

bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và

vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo

cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra.

- Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái

đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất (William - Tay Lor).



16



- Quản lý là sự tác động của cơ quan quản lý vào đối tượng quản lý, tạo

ra sự chuyển biến của toàn bộ hệ thống, hướng vào mục tiêu nhất định. (Giáo

trình - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh).

- Quản lý là dạng dao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổng

hợp các loại lao động trí óc, liên kết các bộ máy thành chỉnh thể thống nhất,

điều hoà, phối hợp các khâu, các cấp quản lý, hoạt động nhịp nhàng đểtạo

hiệu quả quản lý (Mai Hữu Khuê - Học viện Hành chính quốc gia).

- Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tác

động vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mục

tiêu đã đề ra.. (Nguyễn Văn Lê - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh).

- Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý là sự tác

động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến

khách thể quản lý (người bị quản lý), trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức

vận hành và đạt được mục đích của tổ chức". Cũng theo đó các tác giả còn

phân định rõ hơn về hoạt động quản lý: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ

chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức,

chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [13].

Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, cách diễn đạt khác nhau về quản

lý, song một cách tổng quát nhất có thể khái quát: Quản lý là cách thức tác

động (sự tác động có tổ chức, có mục đích...) của chủ thể quản lý lên chủ thể

bị quản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ chức nguồn nhân lực, tài lực và

vật lực, phẩm chất, uy tín của cơ quan quản lý hoặc người quản lý nhằm sử

dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục

đích trong điều kiện môi trường luôn biến động.

* Chức năng quản lý: Quản lý là một quá trình mà chủ thể quản lý tác

động đến khách thể quản lý bằng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo kiểm tra đánh

giá, dựa trên những nguồn lực và những điều kiện có thể nhằm đạt được mục

đích của tổ chức.



17



Thông qua cách tiếp cận và xem xét quản lý với tư cách là một hành

động thì quản lý có 4 chức năng cơ bản là: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và

kiểm tra các công việc của các thành viên trong tổ chức và việc sử dụng tất cả

các khả năng, cách tổ chức để đạt được mục tiêu mà tổ chức đã đề ra.

Bốn chức năng trên quan hệ với nhau tạo thành một chu trình quản lý,

được biểu diễn bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2: Chu trình quản lý

Kế hoạch



Kiểm tra



Thông tin

quản lý



Tổ chức



Chỉ đạo

- Lập kế hoạch: Bao gồm việc xác định sứ mệnh, nhiệm vụ, dự báo xu

hướng trong tương lai của tổ chức trên cơ sở thu thập và phân tích các thông

tin và điều kiện thực tế của tổ chức. Từ đó, xác định các mục tiêu, các kế

hoạch mang tính chiến lược, chiến thuật dựa trên việc tính toán về điều

kiện thực tế các nguồn lực của tổ chức và xây dựng các giải pháp thực

hiện. Thực chất của việc lập kế hoạch là xác định mục tiêu của tổ chức và

cách thức hoạt động, thực hiện của tổ chức để đặt được mục tiêu đó trong

điều kiện nhất định.

- Tổ chức: Chức năng này được xem như là công cụ của quản lý và có ý

nghĩa quan trọng nhất trong hoạt động quản lý. Hoạt động quản lý có đạt



18



được mục tiêu hay không, có thực hiện được kế hoạch hoặc không thì công

tác tổ chức giữ vai trò quyết định, đó chính là việc sắp xếp, lựa chọn các

nguồn lực và xây dựng một cơ cấu hợp lý dựa trên việc phân tích các nhiệm

vụ nhằm thực hiện được kế hoạch mục tiêu đã đề ra.

- Lãnh đạo: Việc thống nhất một đường lối hành động mà mọi bộ phận

của tổ chức phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu cần thiết. Tuy

nhiên, để thực hiện được mục tiêu này thì chức năng lãnh đạo của nhà quản lý

phải được thực hiện một cách có hiệu quả. Đó là quá trình điều hành, điều

khiển người bị lãnh đạo hoạt động theo sự lãnh đạo thống nhất thông qua việc

hướng dẫn, động viên giúp cho họ nhiệt tình, hăng say và có ý thức tự giác

sáng tạo, hoàn thành các công việc được giao.

- Kiểm tra: Đối với hoạt động quản lý thì kiểm tra, đánh giá là khâu

quan trọng, then chốt giúp nhà quản lý đánh giá được kết quả thực hiện mục

tiêu kế hoạch trên cơ sở so sánh với các tiêu chuẩn theo quy định. Mặt khác,

kiểm tra đánh giá cũng giúp cho các nhà quản lý phát hiện được những hạn

chế của hệ thống để kịp thời điều chỉnh hoạt động và trong những trường hợp

cần thiết có thể phải điều chỉnh cả mục tiêu để thông qua việc điều chỉnh kế

hoạch, tổ chức, lãnh đạo để hoạt động quản lý đạt được mục tiêu quản lý.

Công tác kiểm tra có 3 yếu tố cơ bản:

+ Xây dựng chuẩn kiểm tra.

+ Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn kiểm tra.

+ Điều chỉnh hoạt động hoặc điều chỉnh mục tiêu (trong trường hợp

cần thiết).

- Ngoài 4 chức năng quản lý cơ bản trên, trong thực hiện quá trình quản

lý không thể không đề cập đến thông tin quản lý và quyết định quản lý.

+ Thông tin quản lý là những dữ liệu về tình hình thực hiện các

nhiệm vụ đã được xử lý giúp người quản lý hiểu đúng về đối tượng quản

lý mà họ đang quan tâm để phục vụ cho việc đưa ra các quyết định quản

lý cần thiết.



19



+ Quyết định quản lý, là sản phẩm của người quản lý trong quá trình

thực hiện các chức năng quản lý. Mỗi chức năng có vị trí, vai trò riêng, song

nó luôn quan hệ khăng khít, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành chu trình

quản lý, trong đó chất xúc tác và liên kết giữa các chức năng cơ bản này là

thông tin quản lý và quyết định quản lý.

1.2.2. Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là một loại hình quản lý xã hội, tức là quản lý mọi

hoạt động giáo dục trong xã hội.

Có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về quản lý giáo dục theo cách tiếp

cận khác nhau:

Theo tác giả Khuđôminski: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống,

có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác

nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục

cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa

của họ. Trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có của

CNXH cũng như những quy luật khách quan của quá trình dạy học - giáo dục,

của sự phát triển về thể chất và tâm lý của trẻ em, thiếu niên cũng như thanh

niên" [20, tr. 10].

Có tác giả nói: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều

hành, phối hợp các lực lượng trong xã hội nhằm thúc đẩy mảng công tác đào

tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.

Bên cạnh đó có tác giả cho quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực

hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là

đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo

dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học

sinh. Từ các quan điểm trên có thể khái quát rằng: Quản lý giáo dục là hệ

thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể



20



quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân,

các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân

lực, bồi dưỡng nhân tài. Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp

các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thể hệ trẻ

theo yêu cầu phát triển xã hội.

Chính sách quản lý nhà nước về giáo dục được quy định tại Điều 14

của luật giáo dục năm 2005 là: Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo

dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu

chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản

lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp QLGD, tăng cường

quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục.

Quản lý giáo dục vừa có những đặc điểm của quản lý nói chung và vừa

có những đặc điểm của riêng lĩnh vực quản lý giai đoạn:

- Đặc điểm kết hợp quản lý hành chính và quản lý chuyên môn trong

các hoạt động quản lý đào tạo.

- Đặc điểm về tính quyền lực nhà nước trong hoạt động quản lý.

- Đặc điểm kết hợp Nhà nước - xã hội trong quá trình triển khai quản lý

nhà nước về giáo dục.

Tuỳ theo việc xác định đối tượng quản lý mà quản lý giáo dục có nhiều

cấp độ khác nhau cả về tầm vĩ mô và tầm vi mô. Ở tầm vĩ mô, toàn quốc gia

người ta thường nói đến quản lý hệ thống giáo dục quốc dân ở tầm vi mô,

trong phạm vi một cơ sở giáo dục, người ta thường nói đến quản lý nhà

trường hay còn gọi là quản lý trường học.

1.2.3. Quản lý nhà trường

Tại Điều 48, Luật Giáo dục năm 2005 quy định: Nhà trường trong hệ

thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo các loại hình sau đây:

- Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật

chất, đảm bảo kinh phí cho nhiệm vụ chi thường xuyên.



21



- Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây

dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động.

- Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ

chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm

bảo kinh phí hoạt động bằng vốn ngân sách nhà nước.

Nhà nước trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều

được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự

nghiệp giáo dục.

Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong

hệ thống giáo dục quốc dân.

Nhà trường là thiết chế xã hội, là một tổ chức chuyên biệt trong xã hội

thực hiện chức năng tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát

triển của xã hội bằng các con đường giáo dục cơ bản.

Quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt

liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi nhà trường. Đó là một hệ

thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể

quản lý giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra trong từng giai đoạn phát

triển của đất nước.

Quản lý nhà trường là một khoa học mang tính nghệ thuật được thực

hiện trên những quy luật chung của khoa học quản lý, đồng thời có nét đặc

thù riêng. Đó cũng là những nét quy định của bản chất của sự lao động.

Lao động ở môi trường là lao động sư phạm của người giáo viên mà

đối tượng tác động chính là học sinh. Học sinh vừa là chủ thể, khách thể của

hoạt động dạy và hoạt động. Sản phẩm đào tạo của nhà trường chính là

nhân cách, phẩm chất. Nói cách khác quản lý nhà trường chính là quá trình

tổ chức giáo dục và đào tạo nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách của

học sinh một cách khoa học, có hiệu quả, đạt chuẩn để đáp ứng nhu cầu

ngày càng cao của xã hội.



22



Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, khi nghiên cứu về Quản lý nhà trường,

quan niệm: "Quản lý nhà trường là quản lý một thiết chế vừa có tính sư phạm,

vừa có tính kinh tế, trong đó nhà trường trung học phải xác định sứ mệnh là

đào tạo học sinh trở thành người lớn có trách nhiệm tự lập với 3 giấy thông

hành đi vào đời đó là: giấy thông hành học vấn, giấy thông hành kỹ thuật

nghề nghiệp và giấy thông hành kinh doanh" [11, tr. 19].

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường ở Việt Nam là

thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của

mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới

mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ

và từng học sinh [17, tr. 34].

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: "Quản lý nhà trường là quản lý

quá trình dạy và quá trình học, tức là đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang

trạng thái khác để dần dần tiến tới mục đích giáo dục" [26, tr. 34].

Vậy bản chất của quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy và hoạt

động học, tức là tác động làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này tới trạng

thái khác để dần tiến tới hoàn thành mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo trên

phạm vi của một trường.

1.2.4. Người học, sinh viên

Điều 83 Luật giáo dục năm 2005 quy định: Người học là người đang học

tập tại cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. Người học bao gồm:

a) Trẻ em cơ sở giáo dục mầm non;

b) Học sinh của cơ sở giáo dục phổ thông, lớp dạy nghề, trung tâm dạy

nghề, trường trung cấp, trường dự bị đại học;

c) Sinh viên của trường Cao đẳng, trường Đại học;

d) Học viên của cơ sở đào tạo thạc sỹ;

e) Nghiên cứu sinh của cơ sở đào tạo tiến sỹ;

f) Học viên theo học chương trình giáo dục thường xuyên.



23



Như vậy, học sinh - sinh viên là người học đang học tập tại cơ sở

giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. Học sinh là người học của cơ sở

giáo dục phổ thông, lớp dạy nghề, trung tâm dạy nghề, trường trung cấp

chuyên nghiệp, trường dự bị đại học. Sinh viên là người học tại Trường

Cao đẳng, Đại học.

Sinh viên là một trong các thành tố quan trọng, là yếu tố trung tâm của

quá trình giáo dục [19].

Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội là một trường đào tạo đa hệ, nên theo

khái niệm trên thì người học trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp được

gọi là học sinh và sinh viên là người học ở bậc Cao đẳng, Đại học. Sinh viên

là nhân vật trung tâm của nhà trường.

1.3. Quản lý công tác học sinh, sinh viên

1.3.1. Chức năng, nhiệm vụ của quản lý công tác học sinh sinh viên

Quản lý công tác HSSV là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo,

kiểm tra các nội dung của công tác HSSV để góp phần thực hiện mục tiêu đào

tạo chung của nhà trường.

Điều 1 Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003 của Chính phủ

quy định về chức năng nhiệm vụ quyền hạn của Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu

rõ: "Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng

quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ

thông, giáo dục trung học chuyên nghiệp, giáo dục Đại học, sau Đại học và

giai đoạn không chính quy...".

Tại khoản 11 Điều 2 Nghị định này cũng quy định nhiệm vụ quyền hạn

của Bộ Giáo dục và Đào tạo là ban hành các quy định về tuyển sinh, QLSV,

học viên, nghiên cứu sinh, kể cả lưu học sinh nước ngoài học tại Việt Nam và

lưu học sinh Việt Nam tại nước ngoài.

Như vậy, quản lý công tác HSSV là một trong những nhiệm vụ quan

trọng của công tác quản lý giáo dục. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đòi hỏi



24



các cơ quan tham gia hoạt động giáo dục, cụ thể là cán bộ quản lý giáo dục

phải không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ

chuyên môn, năng lực quản lý và trách nhiệm cá nhân. Đồng thời, Nhà nước

có kế hoạch xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục

nhằm phát huy vai trò và trách nhiệm của cán bộ quản lý giáo dục, đảm bảo

phát triển sự nghiệp giáo dục.

Theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các ngành có trường đào

tạo và các Sở Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm cụ thể hoá công tác HSSV

cho phù hợp với đặc điểm đào tạo của ngành, của địa phương; tiến hành chỉ

đạo, kiểm tra công tác HSSV tại các trường thuộc quyền quản lý.

Theo Điều 13 Quy chế sinh viên các trường Đại học, cao đẳng và trung

cấp chuyên nghiệp hệ chính quy thì: hệ thống tổ chức quản lý công tác HSSV

của trường gồm có Hiệu trưởng, đơn vị phụ trách công tác HSSV, GVCN và

lớp sinh viên. Căn cứ vào Điều lệ nhà trường của từng chương trình đào tạo,

Hiệu trưởng quy định hệ thống tổ chức, quản lý công tác HSSV phù hợp, bảo

đảm thực hiện các nội dung công tác HSSV. Trong điều lệ của trường Cao

đẳng Du lịch Hà Nội thì công tác HSSV chủ yếu do Hiệu trưởng và đơn vị

phụ trách sinh viên là phòng công tác quản lý HSSV đảm nhiệm bên cạnh đó

là trách nhiệm của GVCN lớp và ban cá sự lớp.

Tại Điều 14 Quy chế này quy định về trách nhiệm của Hiệu trưởng

trong việc quản lý công tác HSSV như sau:

(1) Chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức quản lý các hoạt động của công

tác HSSV.

(2) Tổ chức chỉ đạo việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng,

pháp luật của Nhà nước, các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngành, địa

phương trong công tác HSSV, bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch và

dân chủ trong công tác HSSV.



25



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (116 trang)

×