1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN PHỐ NỐI, TỈNH HƯNG YÊN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.55 MB, 110 trang )


1.1.1. Ở nước ngoài

Vấn đề GDHN đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ

những năm giữa thế kỷ XIX.

1.1.1.1. Ở các nước phương Tây:

- Năm 1848, cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” xuất hiện ở Pháp đã

đề cập tới xu thế phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển của công

nghiệp tạo nên và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn

nghề nghiệp. Cuốn sách cũng đã khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh

thiếu niên, HS đi vào thế giới nghề nghiệp nhằm sử dụng có hiệu quả lực lượng

lao động trẻ. Sau cải cách giáo dục 1975, GDHN trong trường học chú trọng

đến việc dạy môn Công nghệ học; coi việc GDHN cho HS trong trường phổ

thông là đào tạo "tiền nghề nghiệp", là cơ sở cho việc học tập liên tục và chuẩn

bị để bước vào cuộc sống.

- Các tác giả Rolf Oberliesen, Helmut keim, Michaell Schumann, Gehart

Duismamn… (Cộng hoà liên bang Đức) đã có những công trình nghiên cứu về

phương thức tổ chức cho HS phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, các

cơ sở kinh doanh, dịch vụ. Đức đã có những kinh nghiệm về tổ chức hệ thống

trường phổ thông quán triệt nguyên tắc hướng nghiệp, chuẩn bị cho HS đi vào

trường đào tạo nghề tùy theo trình độ và năng lực học tập của mỗi HS. Quan

điểm của họ là phải tiến hành phân loại HS dựa vào khả năng học tập của từng

em để định hướng cho học sinh đi học để trở thành công nhân lành nghề song

song với việc học hết lớp 12 và tiếp tục phân loại cho HS khá giỏi học lên lớp

13 thi tú tài toàn phần, thi vào đại học... và vì thế, HS có thể học nghề ngay khi

đang học PT. Bên cạnh đó, các nhà khoa học sư phạm ở Cộng hoà Dân chủ Đức

(Heinz Frankiewiez, Bernd Rothe, B.Germer… đã nghiên cứu những vấn đề cơ

sở khoa học sư phạm của tổ chức hoạt động dạy học lao động nghề nghiệp cho

HS, trong đó quan tâm đến công tác phối hợp, cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm

GD kỹ thuật tổng hợp (KTTH) và các trường PT trong việc lập kế hoạch thực

18



tập cho HS phổ thông. Các tác giả đã chỉ ra sự cần thiết phải tổ chức cho HS

thực tập thực tế tại các trung tâm hoặc các đơn vị sản xuất; tổ chức hoạt động

lao động nghề nghiệp cho HS phổ thông bằng việc áp dụng phương thức phối

hợp cộng tác chặt chẽ giữa trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp và trường phổ

thông trong việc lập kế hoạch thực tập cho học sinh phổ thông.

- Dưới ánh của Chủ nghĩa Mác - Lênin, đã có nhiều nhà khoa học ở Liên

xô (cũ) phát triển lý luận về giáo dục. N.K.Krupxkaia, A.V.Lunasatsky,

M.I.Kalinin, N.O.Blonxkii, M.Z.Akmaliv, P.R.Atutov... là những nhà khoa học

có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực giáo dục lao động KTTH trong

những năm 70 của thế kỷ XX. Các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu ý tưởng

học tập kết hợp với lao động sản xuất để hình thành nhân cách toàn diện cho

HS, những ý tưởng đó có giá trị lớn cả mặt chính trị lẫn KT-XH. Các nhà giáo

dục Xô Viết đã làm nổi bật vai trò to lớn của giáo dục KTTH trong nhà trường

nước Nga, coi đó là một trong những bộ phận quan trọng nhất của giáo dục

Cộng sản chủ nghĩa, có tác dụng giúp HS tiếp nhận về mặt lý thuyết và thực

tiễn về những nguyên lý cơ bản của nền sản xuất hiện đại, hình thành kỹ năng,

kỹ xảo lao động và HN cho HS, tạo khả năng lựa chọn có ý thức con đường lao

động, xây dựng cơ sở cho việc đào tạo nghề về sau. Đặc biệt, N.K.Krupxkaia đã

phát triển nguyên lý giáo dục KTTH của V.I.Lênin, nhấn mạnh yêu cầu phải

quán triệt nguyên lý này vào các môn học của nhà trường, giữa các môn học với

nhau phải có sự quan hệ mật thiết, liên hệ với hoạt động thực tiễn và nhất là đối

với học môn kỹ thuật.

- Ở Mỹ chương trình “giáo dục nghề nghiệp” đã được đưa vào các cấp học

phổ thông. Chương trình này đã tạo điều kiện cho HS được tham gia vào các quá

trình công nghệ để giải quyết các vấn đề thực tế của đất nước.

- Allan Walker trong công trình khoa học "Một số vấn đề về quản lý GD

ở Australia" đã chỉ ra rằng, nhà trường hiện nay không chỉ là nơi dạy lý thuyết,



19



mà phải cung cấp cho HS một khả năng chuyển đổi thật nhanh và có sự bình

đẳng trong tất cả các HS, làm cho HS vừa có kỹ năng lao động, vừa có tri thức.

1.1.1.2. Các nước Đông Nam Á

- Giáo dục Trung Quốc rất chú trọng đến giáo dục lao động kỹ thuật

nghề nghiệp cho HS phổ thông. HS cấp THCS và THPT được học môn kỹ

thuật lao động và được thực hành ngay trong trường học một số nội dung như

chế biến, gia công đồ gỗ, kim loại, lắp ráp điện, điện tử, các nghề thủ công

truyền thống. HS được tham gia lao động tại địa phương và các nhà máy, cơ

sở sản xuất dịch vụ. Trong các nhà trường phổ thông có bộ phận chuyên môn

làm công tác tư vấn tâm lý và tư vấn nghề cho HS, nhằm giúp các em khắc

phục trở ngại về tâm lý trong quá trình học tập và định hướng chọn ngành

nghề phù hợp với năng lực bản thân và thị trường lao động. Đặc biệt, giáo dục

nghề nghiệp đã được đưa vào loại hình trường THPT có dạy nghề khá sớm.

HS vừa được trang bị học vấn phổ thông và có kỹ năng cần thiết để có thể học

lên bậc đại học hoặc ra làm việc theo ngành nghề được đào tạo ngay từ khi

còn học phổ thông. Việc đưa giáo dục nghề nghiệp vào trường phổ thông vừa

đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực của xã hội, vừa góp phần quan trọng

vào việc phân luồng HS cấp THCS và THPT.

- Ở Nhật Bản, một nước có tốc độ phát triển KHCN cao trên thế giới, Tác

giả Magumi Nishino (Viện nghiên cứu Giáo dục Nhật Bản) đã nghiên cứu vấn

đề bồi dưỡng tri thức và những kỹ năng cơ bản cho HS trung học, đúc rút ra yêu

cầu cần phải bồi dưỡng tri thức và kỹ năng cơ bản của những ngành nghề cần

thiết trong xã hội, có thái độ tôn trọng đối với lao động và khả năng lựa chọn

ngành nghề tương lai phù hợp với mỗi cá nhân. Trong những năm 50 của thế kỷ

XX, giáo dục Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề hoàn thiện nội dung, hình thức

dạy học kỹ thuật cung cấp tri thức rèn luyện kỹ năng lao động nghề nghiệp và

phát triển tư duy sáng tạo cho HS, đã góp phần quan trọng cho hoạt động

GDHN ở trường phổ thông. "Luật về duy trì hệ thống khuyến khích học tập suốt



20



đời" được thông qua năm 1990 về xây dựng một xã hội học tập suốt đời đã thể

hiện một cách nhìn có tính bao quát rộng lớn về thế kỷ XXI của các nhà khoa

học giáo dục Nhật Bản. Trong tương lai mỗi người công dân Nhật Bản cần phải

có những kỹ năng đa dạng, phong phú, kỹ năng này không chỉ được học ở

trường phổ thông, mà còn được luyện tập, thực hành hàng ngày và trong suốt

cuộc đời.

1.1.1.3. Nghiên cứu của UNESCO

- Với quan điểm coi học tập là quá trình liên tục kéo dài suốt cả cuộc

đời, Tổ chức quốc tế UNESCO khuyến cáo phải nhìn nhận lại cả nội dung và

cách tổ chức giáo dục trung học. Sự phát triển vũ bão của KHKT và công

nghệ đòi hỏi một thị trường lao động lớn, cần phải có những giải pháp tiên

quyết và đồng bộ nhằm huy động các lực lượng xã hội tham gia vào công tác

giáo dục, mà đặc biệt là GDHN để phân luồng HS từ đầu cấp THCS.

- Chủ tịch Ủy ban Quốc tế độc lập về GD cho thế kỷ XXI của UNESCO

(Jacques Delors) đã khẳng định vấn đề “Học làm việc” (Learning to do) là trụ cột

thứ hai trong bốn trụ cột mà Uỷ ban đưa ra như là nền tảng của giáo dục. Vấn đề

học nghề của HS là một căn bản trong giáo dục để thông qua đó HS có thể phát

triển năng lực của mình trong quá trình tham gia các hoạt động nghề nghiệp.

Theo Jacques Delors: Học để biết, học để làm việc, học để chung sống và học để

tồn tại. Đó là bốn cột trụ mà ủy ban đã trình bày và minh họa như những nền tảng

giáo dục. Tác giả đã nhấn mạnh: HS phổ thông cần phải chiếm lĩnh cơ hội phát

triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song

song với việc học.

- Quan điểm chủ đạo của UNESCO là tạo điều kiện và cơ hội tốt nhất để

mọi người đều có thể tham gia ở những loại hình học tập phù hợp, đặc biệt quan

tâm đến các đối tượng có điều kiện, hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, phải tạo ra

nhiều chương trình học tập liên thông để mọi người có thể chia quá trình tích

lũy kiến thức của mình ra làm nhiều giai đoạn (học tập suốt đời) và có cơ hội để

21



thường xuyên cập nhật, bổ sung kiến thức về tất cả các lĩnh vực mà mình có

nhu cầu tìm hiểu. Theo quan điểm này, lực lượng lao động sẽ không ngừng

được đào tạo ở tất cả mọi cấp độ, được giáo dục một cách toàn diện với những

kiến thức, kỹ năng và tri thức khoa học luôn luôn được cập nhật, đáp ứng yêu

cầu nhân lực của xã hội.

Từ các nghiên cứu trên, có thể rút ra một số nhận xét khái quát như

sau:

(1) Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và GDHN cho HS phổ thông là xu thế

chung được nhiều nước trên thế giới quan tâm. Tuy nhìn nhận từ nhiều góc độ

khác nhau nhưng xu thế hiện tại của các nước trên thế giới đều coi dạy nghề

bao gồm cả giai đoạn "Tiền nghề nghiệp" ở trường phổ thông và có sự thống

nhất đó là giáo dục lao động gắn liền với giáo dục công nghệ và GDHN theo

tinh thần giáo dục KTTH.

(2) Một số nước đã nghiên cứu đưa chương trình giáo dục nghề nghiệp

triển khai song song với chương trình giáo dục phổ thông để góp phần phân

luồng HS, đặt ra những yêu cầu cho việc giáo dục lao động cho HS, kết hợp

việc học nghề ngay trong chương trình phổ thông sau khi đã thực hiện phân loại

HS và định hướng cho các em lựa chọn nghề nghiệp (Nga, Đức,…).

(3) UNESCO đã quan tâm đến việc tạo cơ hội học tập cho những đối

tượng ít có điều kiện tham gia các hệ đào tạo chính quy, nêu rõ tầm quan trọng

của các mục tiêu “học để biết, học để làm, học để làm người và học để chung

sống cùng nhau”. Hay nói cách khác, mọi người đều phải tự ý thức được việc

trang bị cho mình những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho cuộc sống. Đồng

thời, khẳng định sự tất yếu của xu thế “học thường xuyên, học suốt đời và xây

dựng một xã hội học tập” sẽ tạo điều kiện để tất cả mọi người có thể tham gia

vào các vị trí khác nhau trong cơ cấu nhân lực mà nền kinh tế đòi hỏi, góp phần

vào sự phát triển chung của xã hội và cải thiện cuộc sống của chính bản thân

mình.

22



(4) Kinh nghiệm rút ra là: Trong thời đại toàn cầu hóa, cạnh tranh và hội

nhập với những ưu thế đặc biệt của KHCN nói chung và CNTT nói riêng hiện

nay, để có được một nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, nhất

thiết phải làm tốt công tác GDHN, phân luồng HS ở phổ thông, đồng thời,

nghiên cứu để đưa giáo dục nghề nghiệp vào trong nhà trường, giúp cho HS có

được những “tiền đề nghề nghiệp” ban đầu, trong đó, cần quan tâm đến đối

tượng HS học theo các hệ đào tạo không chính quy, có những khó khăn nhất

định trên con đường học vấn.

1.1.2. Ở trong nước

Từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, các công trình khoa học của nhiều

nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học đã tiếp cận nghiên cứu về GDHN cho

HS phổ thông ở những khía cạnh khác nhau:

- Ở khía cạnh giáo dục nghề nghiệp, tác giả Phạm Minh Hạc phân tích

tình hình GDĐT nước ta và xây dựng phương hướng đổi mới giáo dục từ việc

xây dựng một nền giáo dục kỹ thuật, đó là nền giáo dục được chỉ đạo bằng tư

tưởng phục vụ phát triển công nghệ. Tác giả đã đưa ra quan điểm về con người

trong công cuộc đổi mới, đó là ưu tiên đến việc giáo dục nghề nghiệp, đây cũng

là quan điểm của GDHN sau này.

- Về hoạt động GDHN trong trường phổ thông:

+ Nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra nhận xét về thực trạng

hoạt động GDHN trong những năm qua và đề xuất những biện pháp để nâng

cao hiệu quả hoạt động GDHN trong giai đoạn hiện nay. Mục tiêu và giải pháp

điều chỉnh định hướng chọn nghề cho HS phù hợp với yêu cầu phát triển KTXH của đất nước đã được các tác giả Đặng Danh Ánh, Nguyễn Trọng Bảo,

Đoàn Chi, Nguyễn Viết Sự, Nguyễn Toàn... đề cập và giải quyết ở những góc

độ khác nhau. Đặc biệt, tác giả Đặng Danh Ánh đã đi sâu nghiên cứu những cơ

sở lý luận và nhiệm vụ GDHN cho HS phổ thông, xây dựng nên sơ đồ GDHN

cho HS từ khi các em học ở trường phổ thông cho đến khi tham gia lao động ở

23



cơ sở sản xuất. Tác giả cũng đi sâu nghiên cứu và đề xuất bản mô tả nghề phục

vụ GDHN và cách thức đổi mới phương pháp theo hướng dạy học tích cực để

nâng cao chất lượng các hoạt động GDHN.

Gần đây nhất, kết quả nghiên cứu đề tài KHCN cấp nhà nước KX – 05 –

09 “Giáo dục phổ thông và hướng nghiệp - nền tảng để phát triển nhân lực đi

vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” đã nghiên cứu thực trạng và đưa

ra một bức tranh tổng thể về hướng nghiệp cho HS phổ thông để phát triển

nguồn nhân lực. Đề tài đã tổng hợp khái quát những vấn đề lý luận về GD giáo

dục và hướng nghiệp, mối quan hệ giữa hai hoạt động này trong nhà trường phổ

thông, hướng tới việc chuẩn bị lực lượng tham gia vào quá trình đào tạo nhân

lực phục vụ yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

+ Các tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn Văn Hộ và nhiều nhà nghiên cứu

đã đề cập đến việc hình thành các luận chứng cho hệ thống GDHN phổ thông

trong điều kiện phát triển KT-XH của đất nước và đề xuất một số hình thức

phối hợp giữa nhà trường phổ thông với các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất

trong việc hướng nghiệp - dạy nghề cho HS phổ thông.

+ Các tác giả Phạm Huy Thụ, Nguyễn Duy Minh, Tô Bá Trọng, Lê Đức

Phúc, Nguyễn Văn Lê… đã đi sâu nghiên cứu việc tiến hành công tác hướng

nghiệp trong các trường phổ thông theo Thông tư 31-TT ngày 17/11/1982 của

Bộ GDĐT về Hướng dẫn thực hiện Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của

Chính phủ về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và sử dụng hợp lý

HS tốt nghiệp THCS, THPT ra trường. Các công trình nghiên cứu đề cập đến

các hình thức GDHN, dạy nghề trong trường phổ thông và TT KTTH-HN, bao

gồm: tổ chức lao động sản xuất cho HS phổ thông; tư vấn nghề nghiệp cho HS;

các phương thức giáo dục kỹ thuậ kỹ thuật và hướng nghiệp.

Nhìn chung, các nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận

chung về hướng nghiệp, đồng thời, làm nổi bật vai trò quan trọng của hoạt động

GDHN đối với việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho CNH, HĐH ở Việt Nam trong

24



giai đoạn 2001 - 2010. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã phân tích cụ thể vai trò

của quản lý nhà nước, vai trò của giáo dục nói chung và hướng nghiệp nói riêng

trong việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo tỷ trọng thích hợp giữa

công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong chiến lược phát triển KT - XH của

đất nước, để từ đó có cơ sở chỉ đạo xây dựng nội dung GDHN phù hợp, làm cho

con người có khả năng thích ứng với yêu cầu của thị trường và làm chủ công

nghệ mới, khoa học - kỹ thuật hiện đại.

Tóm lại, qua nghiên cứu, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Một là, tuy nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau, cách khai thác, xây

dựng khác nhau nhưng các công trình khoa học đều có một mục tiêu chung

nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục và hướng nghiệp, tạo nền tảng cho việc đào

tạo nhân lực. Các tác giả trong và ngoài nước đã quan tâm rất nhiều đến hoạt

động GDHN, đặc biệt là hoạt động dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho

HS phổ thông dưới các hình thức khác nhau nhằm chuẩn bị cho đa phần HS

trung học sau khi tốt nghiệp dễ dàng hoà nhập với cuộc sống lao động nghề

nghiệp trong nền kinh tế. Các công trình khoa học chủ yếu tập trung quan tâm

nhiều nhất đến khái niệm, nội dung, tính chất và các hình thức GDHN trong nhà

trường phổ thông, vào việc đổi mới nội dung, phương pháp, sử dụng tối ưu cơ

sở vật chất kỹ thuật phục vụ GDHN.

Hai là, các kết quả nghiên cứu đã khẳng định: vấn đề GDHN cho HS

thông qua các hoạt động lao động nghề nghiệp là có cơ sở khoa học và rất cần

thiết trong việc giúp cho các em làm quen với lao động, có hứng thú nghề nghiệp

và những kỹ năng ban đầu đối với nghề mà các em được học. Chính vì vậy,

GDĐT cần quan tâm đến việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ

trẻ để tự tìm ra việc làm ngay khi rời ghế nhà trường.

Ba là, đối tượng GDHN được các tác giả quan tâm chủ yếu tập trung vào

lực lượng HS trong các nhà trường chính quy, được giáo dục khá toàn diện với

sự kết hợp hài hòa của một tổng thể các môn học. Trong chương trình đó, nội

25



dung hoạt động GDHN được phân bổ và tích hợp trong cả chương trình chính

khóa và các hoạt động ngoại khóa, tạo cơ hội tốt nhất để HS có được các định

hướng nghề nghiệp phù hợp với năng lực, sở trường và các yêu cầu về nhân lực

của xã hội.

Bốn là, vấn đề GDTX, học tập suốt đời đã trở thành xu thế, GDHN cho

HS cần thiết phải được gắn với quan điểm xây dựng xã hội học tập, tạo điều

kiện để tất cả mọi người ở các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau đều “được học”

và có thể “học được”, tri thức và kỹ năng của mỗi cá nhân thường xuyên được

bổ sung, rèn luyện, đáp ứng yêu cầu phát triển.

Năm là, đối tượng HS bổ túc trung học phổ thông có đặc điểm riêng về

phẩm chất, năng lực, được đào tạo trong môi trường học tập có nhiều hạn chế

và chương trình học tập rút gọn hơn so với HS hệ chính quy, rất cần đến việc

định hướng và dẫn dắt các em vào nghề. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay,

chưa có các nghiên cứu của các nhà khoa học, các văn bản chỉ đạo từ cấp Bộ

cho đến cấp cơ sở quan tâm đến GDHN cho HS BTTHPT. Đây là một vấn đề

cần được giải quyết.

1.2. Các khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý

Khái niệm: Trong quá trình hình thành và phát triển của lý luận quản lý,

khái niệm quản lý đó được các nhà nghiên cứu đưa ra theo nhiều cách khác

nhau, tuỳ theo những cách tiếp cận khác nhau.

Frederik Winslon Taylor (1856 – 1915), người Mỹ, được coi là “Cha đẻ

của thuyết quản l‎ khoa học”, là một trong những người mở ra “Kỷ nguyên

ý

vàng” trong quản lý đã thể hiện tư tưởng cốt lõi của mình trong quản lý là:

“Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hoá và đều phải quản lý

chặt chẽ”. Ông cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì

cần làm và làm cái đó như thế nào bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất.”



26



Theo Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào

tiến hành trên qui mô tương đối lớn thì ít nhiều cùng đến một sự chỉ đạo để điều

hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ

sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khách quan độc

lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn

nhạc thì cần nhạc trưởng” [4,tr1]. Như vậy Mác đã lột tả được bản chất quản lý

là một hoạt động lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá

trình phát triển của loài người.

Theo GS Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế

hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách

thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [ 23, tr24].

Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghệ thuật chính vì vậy trong hoạt

động quản lý người quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo để chỉ

đạo hoạt động của tổ chức đi tới đích.

Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp

cận nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản của khỏi niệm quản lý, các

định nghĩa trên ta có thể hiểu:

Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể

quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm

sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục

tiêu đề ra

Chức năng quản lý: Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác

động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những

nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý. Ta

có thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý, là

nhiệm vụ không thể thiếu được của chủ thể quản lý.

Về số lượng các chức năng quản lý nói chung, những tác giả nghiên cứu

về quản lý có ý kiến không giống nhau. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều đề

27



cập tới bốn chức năng chủ yếu đó là: Kế hoạch hoá tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và

trong đó thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để thực hiện chức năng

quản lý.

- Chức năng kế hoạch hoá: Để thực hiện chủ chương, chương trình, dự

án kế hoạch hoá là hành động đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các

chức năng khác. Đây được coi là chức năng chỉ lối làm cho tổ chức phát triển

theo kế hoạch. Trong quản lý đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành

động của cả tổ chức.

- Chức năng tổ chức: Người quản lý phải hình thành bộ máy tổ chức là

cơ cấu các bộ phận (tuỳ theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công,

phân nhiệm cho các cá nhân), quy định chức năng nhiệm vụ từng bộ phận, mối

quan hệ giữa chúng.

Như vậy thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con

người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động

nhịp nhàng của một cơ thể thống nhất. Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ

phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá

kế hoạch thành hiện thực, tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho các tiềm năng.

- Chức năng chỉ đạo: Chức năng này đòi hỏi người quản lý phải vận

dụng khéo léo các PP và nghệ thuật quản lý. Đây là quá trình tác động qua lại

giũa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm gúp phần thực hiện

hoá các mục tiêu đề ra. Bản chất của chức năng chỉ đạo xét cho cùng là sự tác

động lên con người, khơi dậy những tiềm năng của con người trong hệ thống

quản lý, thực hiện tốt mối liên hệ giữa con người với con người và quá trình đó

giải quyết những mối quan hệ đó để họ tự nguyện, tự giác và hăng hái phấn đấu

trong công việc.

- Chức năng kiểm tra: Chức năng kiểm tra nhằm đánh giá việc thực hiện

các mục tiêu đề ra, điều cần lưu ý là khi kiểm tra phải theo chuẩn. Chuẩn phải

xuất phát từ mục tiêu, là đòi hỏi bắt buộc đối với mọi thành viên của tổ chức.

28



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

×