1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN PHỐ NỐI, TỈNH HƯNG YÊN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.55 MB, 110 trang )


Ngày 01/9/1999 huyện Mỹ Văn được tách ra và huyện Yên Mỹ được tái

lập. Sau khi tái lập, với sự ưu đãi của tỉnh Hưng Yên trong chính sách thu hút

đầu tư, các doanh nghiệp trong và ngoài nước đã chọn Yên Mỹ là điểm đến đầu

tư. Hiện nay, ở Yên Mỹ đã có gần 100 dự án đầu tư trong và ngoài nước.

Huyện Yên Mỹ gồm 17 xã nằm ở phía đông nam Hà Nội, cách Hà Nội

khoảng 30km; 1/5 diện tích của huyện (các xã Nghĩa Hiệp, Giai Phạm, TT Yên

Mỹ) nằm trong khu công nghiệp Phố Nối B của tỉnh Hưng Yên. Khu công

nghiệp đó gồm các tổ hợp công nghiệp dệt may của tổng công ty dệt may Việt

Nam, công nghiệp chế tạo xe máy, đóng giầy... Một số xã phía tây nam của

huyện như: Yên Hòa, Yên Phú, Hoàn Long là vùng màu được phù sa Sông

Hồng bồi đắp. Người dân ở đây trồng nhiều loại cây khác nhau đem lại hiệu quả

kinh tế cao. Một số xã của huyện có tập quán canh tác lâu đời là trồng lúa nước.

Đặc biệt huyện có Thị trấn Yên Mỹ nổi tiếng toàn quốc với nghề dịch vụ

thương mại. Chỉ tính riêng thị trấn có đến 300 xe tải, xe ca các loại tham gia

dịch vụ vận chuyển hàng hóa với các cửa khẩu Móng Cái, Lạng Sơn và các tỉnh

thành phía nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, Tây Nguyên...

Dân số toàn huyện 121.927 nhân khẩu với diện tích là 9.004,7 ha mật độ

dân số phân bố tương đối đồng đều.

Yên Mỹ là một huyện có đầy đủ mô hình kinh tế từ nông nghiệp, tiểu

thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, đặc biệt là công nghiệp đang phát triển rất

mạnh mẽ. Hàng năm thu hút khoảng 2000 công nhân lao động, cán bộ quản lý.

Yên Mỹ nằm trong khu công nghiệp của tỉnh Hưng Yên có đường nối liền tam

giác kinh tế phía bắc Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh chạy qua. Đường 39A

từ Phố Nối – Hưng Yên chạy dọc từ phía bắc đến phía nam của huyện đang

được đầu tư nâng cấp trở thành quốc lộ khi đưa vào sử dụng sẽ tạo điều kiện

cho lưu thông phân phối phát triển mạnh mẽ.

- Thuận lợi: Yên Mỹ là một huyện có đầy đủ mô hình kinh tế từ nông

nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ, đặc biệt là công nghiệp đang

phát triển rất mạnh mẽ. Hàng năm thu hút khoảng 2000 công nhân lao động,

59



cán bộ quản lý. Con người Yên Mỹ có truyền thống cần cù, yêu lao động, anh

hùng trong chống giặc ngoại xâm. Nhân dân Yên Mỹ có truyền thống hiếu học,

trọng tiến bộ, coi trọng sự phát triển.

- Khó khăn: Phần lớn kinh tế thu nhập của nhân dân toàn huyện là từ

nông nghiệp. Nguồn thu ngân sách của huyện nay phần chính vẫn là từ thuế

nông nghiệp.

Khu công nghiệp đang hình thành và phát triển mạnh mẽ song trình độ,

nghề nghiệp của người lao động thì chưa bắt kịp tốc độ đó. Hàng năm các trường

THPT thu hút khoảng 70% học sinh tốt nghiệp THCS vào học. Phần lớn thanh

niên sau khi tốt nghiệp THPT, THCS không được qua đào tạo nghề, một tỷ lệ đỗ

vào đại học khá cao phần còn lại tham gia quân đội đối với nam giới và sản xuất

nông nghiệp theo kiểu cổ truyền đối với nữ giới.

Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội tuy đang được đầu tư nhưng nhìn chung

vẫn còn thấp và chậm.

2.2. Quá trình phát triển của TTGDTX Phố Nối tỉnh Hưng Yên

2.2.1. Sự hình thành và phát triển trung tâm qua các thời kỳ

TTGDTX Phố Nối hiện nay tiền thân là TTGDTX Yên Mỹ được UBND

tỉnh Hưng Yên ra Quyết định số 2290/QĐ- UBND ngày 14/11/2006 thành lập

trên cơ sở nâng cấp TTGDTX huyện Yên Mỹ. TTGDTX huyện Yên Mỹ lại

được hình thành trên cơ sở của trường BTVH của huyện Mỹ Văn (1967-1997).

Đây là trung tâm được thành lập sau cùng trong số 3 trung tâm của huyện Mỹ

Văn thành lập tháng 1 năm 1998. Khi mới thành lập về cơ sở vật chất của trung

tâm chỉ có 2 phòng học cấp 4 đã quá dột nát, một nhà văn phòng cấp 4 đã quá

thời gian sử dụng (xây dựng từ năm 1965). Quy mô đào tạo rất hạn hẹp. Khi

thành lập trung tâm chỉ có 3 lớp với hơn 100 HV. Năm 2001 – 2002 trung tâm

đã có 2 cơ sở đào tạo với 10 phòng học trong đó gồm 6 phòng học cao tầng kiên

cố, 4 phòng học bán kiên cố. Các phòng chức năng như phòng, thư viện, thiết bị

được trang bị dầy đủ. Về quy mô năm học này chỉ tính riêng số HV lớp 10 mới

tuyển là 7 lớp với 360 HV. Bên cạnh đó các lớp nghề cho thanh niên bằng

60



phương thức liên kết đào tạo với các trường chuyên nghiệp đang được triển

khai: tính đến tháng 8/ 2001 Trung tâm đã liên kết với trường Quản lý kinh tế

công nghiệp đào tạo 3 lớp với 192 công nhân may có trình độ bậc 2/7. Hiện

Trung tâm đang liên kết với trường Kinh tế Tô Hiệu 2 lớp điện, thú y cho 100

HV của huyện và cho đến nay.

Từ khi có quyết định nâng cấp TTGDTX huyện Yên Mỹ thành TTGDTX

Phố Nối trực thuộc sự quản lý của Sở GDĐT tỉnh Hưng Yên. Khu nhà cao tầng

đã được xây dựng và đưa vào sử dụng, cùng với đó là số cán bộ giáo viên cũng

được bổ sung và tăng lên là 29 người, trung tâm đã khai thác và phát triển hết

các chức năng và nhiệm vụ của mình.

Hằng năm, TTGDTX Phố Nối đã tổ chức tốt cho các lớp học chương

trình GDTX cấp THPT với trên 500 HV, hằng năm có khoảng 250 HV tốt

nghiệp lớp 12 ra trường.

Trong 3 năm 2006-2009 trung tâm đã liên kết được 17 lớp trung cấp, Cao

đẳng, Đại học gồm các chuyên ngành: Sư phạm tiểu học, Mầm non. Sư phạm

cấp 2 các môn văn, toán, sinh học; cao đẳng kế toán, thư viện; trung cấp luật, kế

toán... với gần 2000 HV. Đáp ứng tốt nhu cầu học tập của nhân dân tỉnh Hưng

Yên và các vùng lân cận.

Trong những năm 2009-2012 trung tâm đã liên kết được 40 lớp trung

cấp, cao đẳng, đại học gồm các chuyên ngành: Sư phạm tiểu học, sư phạm mầm

non, sư phạm âm nhạc; sư phạm cấp 2 thuộc các chuyên ngành như: văn, toán,

hóa học, sinh học; các lớp cho cán bộ các xã như đại học Luật, đại học công tác

xã hội, cao đẳng kế toán, thư viện; trung cấp luật, kế toán, hành chính văn thư...

với gần 4000 HV.

Ngoài ra trung tâm còn mở và đào tạo cấp chứng chỉ: Ngoại ngữ, tin học,

nghề điện dân dụng, may công nghiệp cho hơn 1000 HV của TTGDTX Phố Nối

và các TTGDTX huyện Khoái Châu, TTGDTX huyện Ân Thi, TTGDTX huyện

Văn Lâm, TTGDTX huyện Mĩ Hào... Trung tâm thành lập tổ tuyển sinh, cử cán

bộ xuống 17 xã thuộc huyện Yên Mỹ và các xã thuộc các huyện khác, các

61



trường THCS, Tiểu học, Mầm non khảo sát tình hình cán bộ và làm công tác

phong trào, ngoài ra trung tâm còn phối kết hợp với các trung tâm Học tập cộng

đồng mở các lớp chuyên đề cập nhật, phổ biến kiến thức.

TTGDTX Phố Nối đã phát triển về mọi mặt. Từ một cơ sở giáo dục yếu

kém khi mới thành lập, ngày nay Trung tâm đã trở thành TTGDTX tiên tiến dẫn

đầu các Trung tâm của tỉnh Hưng Yên.

2.2.2. Các kết quả giáo dục của trung tâm GDTX phố Nối

2.2.2.1. Quy mô phát triển HV BT THPT, tin học, ngoại ngữ, nghề PT

Bảng số 2.1: Quy mô phát triển HV của trung tâm



Lớp Tin Học, Ngoại Ngữ,

Nghề



HS BTTHPT

Năm học



Nghề



Ngoại ngữ



Tin học



Số



Số



Số



Số



Số



Số



Số



Số HS



lớp



HS



lớp



HS



Lớp



HS



Lớp



2009- 2010



12



578



02



70



03



120



03



125



2010-2011



10



464



02



76



03



112



05



167



2011-2012



07



314



01



32



04



167



06



253



(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm học của trung tâm)



HV tham gia học tập chương trình THPT ngày càng có xu hướng giảm

sút, nhu cầu học Nghề, Tin học, ngoại ngữ, Liên kết đào tạo các ngành có chiều

hướng gia tăng.

2.2.2.2. Chất lượng giáo dục của HV

Bảng 2.2: Kết quả xếp loại hạnh kiểm và học lực của HV BT THPT



Năm học

2009-2010



Số



Hạnh kiểm(%)



Học lực(%)



HS



T



K



TB



Y



G



K



TB



Y



Kém



578



56



37



7



0



0



11



63



26



0



2010-2011

62



464



51



39



10



0



0



16



63



21



0



314



37



51



12



0



0



7



62



31



0



2011-2012



Từ bảng kết quả xếp loại học lực của HV có thể nhận thấy trong 3 năm

học, số HV đạt mức học lực khá là thấp, số HV xếp loại yếu cao. Nhìn chung

kết quả học tập cuối năm chưa cao, số HV xếp loại học lực khá chưa nhiều mức

đạt được hằng năm có khoảng 7-8%, không có học sinh nào tham gia thi HV

giỏi cấp tỉnh hệ GDTX. Nhưng chất lượng học tập của HV nhà trường so với

chất lượng học tập của HV các TTGDTX khác trong tỉnh là đã tương đối cao.

Về mặt đạo đức, hầu hết HV nhà trường đều ngoan, có nề nếp nên chất lượng

đạo đức tương đối ổn định, tỷ lệ HS đạt đạo đức khá, tốt chiếm tỷ lệ lớn, số HV

xếp loại đạo đức trung bình vẫn có nhưng tỷ lệ thấp, chưa có HV nào xếp loại

hạnh kiểm yếu.

Nguyên nhân: Chất lượng tuyển sinh đầu vào rất thấp vì số HV được

tuyển vào nhà trường đều đã qua mấy lần sàng lọc: trượt của kì thi vào 10

THPT, các trường dân lập không xét tuyển do có xếp loại lớp 9 về văn hóa Yếu,

hạnh kiểm Trung bình.

Bảng 2.3. Kết quả thi tốt nghiệp THPT của HV trong 3 năm gần đây

Năm học



Số HV dự thi



Số HV đỗ TN



Số HV hỏng TN



SL



Tỉ lệ (%)



SL



Tỉ lệ (%)



2009-2010



283



265



93,6



18



6,4



2010-2011



211



204



97



07



3,0



2011-2012



146



143



98



03



2,0



Căn cứ vào kết quả thi tốt nghiệp của HV trung tâm trong 3 năm gần đây cho

thấy tỉ lệ HV đỗ tốt nghiệp khá cao so với mặt bằng chung đỗ tốt nghiệp GDTX của

tỉnh Hưng Yên, có năm dẫn đầu toàn tỉnh vể tỷ lệ thi tốt nghiệp.



63



2.3. Giới thiệu chung về việc khảo sát thực trạng quản lý hoạt động

GDHN cho HV tại TTGDTX Phố Nối

2.3.1. Mục đích, nội dung khảo sát thực trạng quản lý hoạt động

GDHN tại TTGDTX Phố Nối

2.3.1.1. Mục đích:

Khảo sát, đánh giá nhận thức, thái độ, của HV trong hoạt động GDHN tại

TTGDTX Phố Nối. Để từ đó đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GDHN nhằm

nâng cao nhận thức của HV và xu hướng phát triển của các ngành nghề trong xã

hội để các em có thể chọn được nghề phù hợp với bản thân và phù hợp với yêu

cầu của xã hội.

2.3.1.2. Chọn mẫu khách thể, địa bàn và thời gian khảo sát thực trạng

- Khách thể HV tại Trung tâm GDTX Phố Nối. Ngoài ra đề tài sẽ tiến hành

lấy ý kiến của đại diện gia đình, cán bộ làm công tác hướng nghiệp.

- Địa bàn khảo sát: Cuộc khảo sát được tiến hành tại TTGDTX Phố Nối –

Thanh Xá – Nghĩa Hiệp – huyện Yên Mỹ - tỉnh Hưng Yên.

- Thời gian khảo sát: 12 tháng.

2.3.1.3. Nội dung khảo sát

- Tìm hiểu mức độ hiểu biết của HV thông qua hoạt động GDHN.

- Xác định một số nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng tới nhận thức của HV

trong hoạt động GDHN.

- Tìm hiểu xu hướng tham gia hoạt động GDHN của HV và đề ra kế hoạch

nhằm nâng cao nhận thức nghề nghiệp cho HV tại TTGDTX Phố Nối.

2.4. Kết quả khảo sát cho HV tại TTGDTX Phố Nối

2.4.1. Thực trạng phân luồng HV tại TTGDTX Phố Nối

Bảng 2.4: Thống kê giáo dục PT huyện Yên Mỹ (năm học 2009-2012)

TT



Số trường THCS,THPT



Tổng số



Đạt



Công lập



chuẩn

1



Số trường THCS



17



2



Số lớp THCS



51



64



15



Ngoài

công lập



17

51



3



Số HS THCS



2295



4



Số GV THCS



289



5



Số trường THPT



6



Số lớp THPT



7



Số học sinh THPT



8



Số GV THPT



255



9



Số HV bổ túc THPT



810



4



2295



1



3



1



108



100



18



4860



4050



810

20



Việc phân luồng HS sau khi tốt nghiệp THCS và THPT chưa thực hiện

tốt, hầu hết HS trung học có quan niệm học hết THCS phải vào được THPT;

học hết THPT phải vào được đại học. Số liệu thống kê năm học 2005-2006 như

sau: Số thanh niên có thể đạt được trình độ THPT chiếm 81,5%% điều đó cho

thấy, trong tổng số 100% HS tốt nghiệp THCS của tỉnh Hưng Yên thì chỉ có

81,5% được học lên THPT còn lại 18,5% đi học các trường dạy nghề hoặc đi

vào cuộc sống lao động. Những năm gần đây tỷ lệ HS THPT đăng ký thi vào

các trường đại học có xu hướng tăng, và tỷ lệ đỗ đại học là 88%.

2.4.2. Nhận thức về GDHN tại TTGDTX Phố Nối

Do các em vừa tốt nghiệp THCS và do chất lượng đầu vào thấp nên nhận

thức về hướng nghiệp còn rất nhiều hạn chế. Các em tham gia hoạt động

GDHN với hình thức bắt buộc nên tham gia hoạt động chưa tích cực và chưa có

tinh thần trong học tập dẫn đến kết quả hoạt động hướng nghiệp chưa cao.



2.4.3. Nhận thức về nghề và những yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn

nghề của HV

Bảng 2.5: Các nhân tố ảnh hưởng đến việc chọn nghề của HV

Các yếu tố ảnh hưởng



STT



Mức độ



1



Chưa biết đánh giá đúng về năng lực của bản thân



95,7%



2



Thiếu tri thức về nghề(chưa hiểu rõ đặc điểm, yêu cầu của



93,4%



nghề định chọn)

3



Thiếu thông tin về nhu cầu thị trường lao động của Hưng Yên.



65



92,5%



4



Sự định hướng giá trị nghề trong xã hội hiện nay chưa ổn định



84.8%



5



Thiếu thời gian tìm hiểu nghề



82,3%



6



Nhà trường, GV chưa quan tâm đến công tác TVHN cho HS



87,6%



7



Chưa biết rõ sở thích, hứng thú nghề của bản thân



72,7%



8



Bị bố mẹ áp đặt trong việc chọn nghề



32,3%



9



Ảnh hưởng của bạn bè đến việc chọn nghề



67.7%



Đa số HV BTHP trước khi chọn nghề chưa hiểu hết ý nghĩa và tầm quan

trọng của việc chọn nghề có cơ sở khoa học. Chọn nghề là chọn cuộc đời. Các

em chưa hiểu rõ bản chất khái niệm nghề nghiệp. Các em chỉ hiểu nghề nghiệp

đơn giản là công việc làm do sự phân công lao động của xã hội hoặc là việc làm

nhằm thoả mãn nhu cầu, sở thích cá nhân chứ chưa thấy được tính ổn định, lâu

dài, sự gắn bó của nghề nghiệp với cuộc đời của mỗi người, chưa thấy hết ý

nghĩa của nghề nghiệp đối với đời sống cá nhân cũng như đối với sự phát triển

của xã hội. Đa số các em chưa đánh giá đúng năng lực bản thân. Sự hiểu biết về

nghề còn đơn giản, hiểu biết về hệ thống ngành nghề trong xã hội của HV còn

nghèo nàn so với thế giới nghề nghiệp vô cùng đa dạng, phong phú và đầy biến

động về nội dung, tính chất, phương pháp hoạt động của nghề. Nhiều em chỉ

biết tên gọi chứ chưa hiểu nội dung, hình thức, tính chất của lao động trong

nghể. Sự thiếu thông tin về thị trường lao động, về nhu cầu lao động của từng

lĩnh vực sản xuất cụ thể hay thông tin về yêu cầu đào tạo để xuất khẩu lao

động.v..v. Cho nên các em còn lúng túng, khó khăn khi chọn nghề.

Như vậy, nhận thức về các lĩnh vực nghề nghiệp của HS Hưng Yên nói

chung và HV tại TTGDTX Phố Nối nói riêng còn chung chung, chưa sâu sắc.

Nhận thức của các em về yêu cầu của các ngành nghề đối với người lao động,

đặc biệt là nghề mình chọn cũng rất mơ màng. Các em chưa nhận thức được

đầy đủ, sâu sắc xu hướng phát triển của các ngành nghề trong xã hội để có thể

chọn được nghề phù hợp với bản thân và phù hợp với yêu cầu của xã hội. Các



66



em đang rất cần được tham gia các hoạt động GDHN để việc lựa chọn các

hướng đi sau tốt nghiệp trung học.



2.4.4. Thực trạng triển khai GDHN tại TTGDTX Phố Nối

2.4.4.1. Những qui định về hoạt động GDHN

Hoạt động GDHN tại TTGDTX Phố Nối chưa là hoạt động mang tính

bắt buộc, còn thiếu rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật, chỉ đạo và hướng dẫn

tổ chức thực hiện.

Nhiều năm qua, Đảng và nhà nước ta rất coi trọng về công tác GDHN.

Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng IX đã khẳng định: "Coi trọng công tác GDHN

và phân luồng học sinh sau trung học, chuẩn bị cho thanh thiếu niên đi vào lao

động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và

từng địa phương". Luật Giáo dục năm 2005 cũng đã nhấn mạnh đến yêu cầu tăng

cường GDHN nhằm góp phần tích cực và có hiệu quả vào việc phân luồng, chuẩn

bị cho HS đi vào cuộc sống lao động hoặc tiếp tục đào tạo phù hợp với năng lực

bản thân và nhu cầu của xã hội.

Tuy nhiên, các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước chậm được

thể chế hoá bằng các văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay chúng ta mới có

Nghị định số 75/2006/NĐ-CP của Chính phủ trong đó có quy định các cơ sở giáo

dục ở mỗi huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có TT KTTH-HN; Quy chế tổ

chức và hoạt động của TT KTTH-HN và một số văn bản chỉ đạo của Bộ GDĐT

về vấn đề này. Nhiều nội dung khác: chương trình, sách giáo khoa, chế độ chính

sách, biên chế GV HN, công tác kiểm tra, đánh giá thi đua GV HN, kinh phí, chế

độ thu học phí HS được chưa có quy định hoặc có quy định nhưng chưa cụ thể

(kể cả một số văn bản mới ban hành), ví dụ: Bộ giáo dục và đào tạo có Quyết

định số 16/2006/QĐ-BGD ĐT ngày 5/5/2006 ban hành Chương trình giáo dục

phổ thông, trong đó quy định về chương trình công tác HN chưa cụ thể; Bộ

GDĐT với Bộ Nội vụ cũng có Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGDĐTBNV, ngày 23/8/2006 hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở cơ sở giáo dục

phổ thông, quy định này cũng không áp dụng cho TTGDTX. Sự chỉ đạo về công

67



tác HN cho HV còn mang tính định hướng nơi thì có trung tâm, nơi thì không.

GDHN không phải là hoạt động bắt buộc, chỉ tuyên truyền vận động HS tự giác.

Hàng năm để chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ các năm học, Bộ GDĐT có các chỉ thị,

và văn bản chỉ đạo đối với các môn học khác tương đối cụ thể. Song về công tác

HN chưa có sự chỉ đạo cụ thể. Trong 3 năm học: 2004 - 2005, 2005-2006, 2006

- 2007, tại các Công văn số 6715/VP ngày 2/8/2004; Công văn số

7078/BGD&ĐT-VP ngày 12/8/2005 và Công văn số 6903/BGD&ĐT-VP ngày

7/8/2006 hướng dẫn nhiệm vụ GDHN ở ba năm học, đều nêu nội dung: "Đẩy

mạnh công tác tư vấn hướng nghiệp cho HS phổ thông, xem đây là nhiệm vụ

trọng tâm trong công tác GDHN".

Đối với tỉnh Hưng Yên, năm học 2004-2005 Sở GDĐT Hưng Yên mới

chỉ giao chỉ tiêu dạy nghề. Chỉ có TT KTTH - HN tỉnh bắt đầu tiến hành làm thí

điểm công tác GDHN trong năm học 2004 - 2005. Năm học 2005 – 2006, Sở

GDĐT cũng chỉ giao chỉ tiêu dạy nghề cho các Trung tâm trong đó có TTGDTX

Phố Nối. Năm 2010 TTGDTX Phố Nối mới chính thức nhận nhiệm vụ dạy nghề

căn cứ vào nhu cầu học nghề và việc làm của lao động nông thôn tại huyện Yên

Mỹ, theo Quyết định số 1838/ QĐ – UBND ngày 14/09/2010 về việc bổ sung

nhiệm vụ dạy nghề cho TTGDTX Phố Nối.

2.4.4.2. Thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy thực hiện hoạt động GDHN

a) Cơ cấu tổ chức của trung tâm

Theo Quyết định số 2290/QĐ-UBND ngày 14/11/2006 của UBND tỉnh

Hưng Yên nâng cấp TTGDTX huyện Yên Mỹ thành TTGDTX Phố Nối trực

thuộc sự quản lý của Sở GDĐT tỉnh Hưng Yên, được quy định thành lập nên

các phòng, ban bao gồm: Ban Giám đốc (1 Giám đốc, 02 phó Giám đốc). Các

phòng: Phòng Giáo dục BTVH-Phong trào thực hiện nhiệm vụ GDTX dạy cho

HV các cấp thuộc địa bàn huyện Yên Mỹ và các vùng lân cận, được biên chế là

6 cán bộ giáo viên, chia thành 2 tổ: tự nhiên và xã hội; Phòng Giáo vụ làm

nhiệm vụ liên kết và quản lí đào tạo từ trung cấp đến đại học được biên chế 05

cán bộ, giáo viên; Phòng Dạy nghề và Bồi dưỡng kiến thức tin học, ngoại ngữ

68



được biên chế 02 cán bộ, giáo viên; Phòng Tổ chức - Hành chính kế toán được

biên chế 02 viên chức.

Bảng 2.6: Số lượng CBQL và GV của TTGDTX Phố Nối

Đơn vị: Người

Lãnh đạo

TT



Phòng /Ban



1



1



GV



Cộng



chức



2



P.Giáo vụ



4



Phó



P.Tổchức-HC-Kế toán



3



Trưởng



Ban giám đốc



2



Viên



3

2



2



1



4



5



P.GDBTVH- PT



1



0



5



P.N.Ngữ-Tinhọc-Nghề



1



6



Tổng số



5



6



2



3

19



( Số liệu của P. Tổ chức - Hành chính- Kế toán )



Bảng 2.6 cho thấy thực hiện chức năng, nhiệm vụ của trung tâm cấp tỉnh

với đội ngũ cán bộ, giáo viên được phân bổ ở các phòng, ban còn rất mỏng, chưa

đảm bảo nguồn nhân lực để phục vụ cho sự phát triển của Trung tâm trong thời

kì phát triển. Đặc biệt với Phòng Ngoại ngữ - Tin học - Nghề có 3 cán bộ, giáo

viên chưa đủ số lượng vì vậy số giáo viên tham gia dạy thỉnh giảng, hợp đồng rất

nhiều, tạo ra sự khó khăn cho quá trình quản lí. Qua quá trình thực hiện chức

năng của TTGDTX cấp tỉnh, TTGDTX Phố Nối gặp rất nhiều khó khăn vì đội

ngũ rất thiếu, vì vậy Giám đốc đã xây dựng kế hoạch bổ sung nhân sự hằng năm

trình Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở GDĐT phê duyệt bổ sung. Đến năm 2012 số

CB, GV của trung tâm đã lên đến 31 người; các phòng ban được bổ sung thêm

như: Phòng Giáo dục bổ túc văn hóa phong trào thêm 03 giáo viên cho các môn

Toán, Hóa học; Phòng Giáo vụ thêm 04 người; Phòng Tổ chức - Hành chính kế

toán thêm 03 người; Phòng Phòng Ngoại ngữ - Tin học - Nghề bổ sung thêm 03

người

b) Đội ngũ cán bộ quản lí

Nhìn chung, đội ngũ CBQL của trung tâm đạt chuẩn và trên chuẩn về đào

69



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

×