1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CỦA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC, QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP I.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.81 MB, 157 trang )


Về chất lượng đào tạo hệ cao đẳng:

Biểu 2.1: Thống kê chất lượng đào tạo hệ cao đẳng từ năm 2003 - 2006

Tổng



Giỏi,



Tỷ lệ



TB



Tỷ lệ



số



khá



%



khá



%



2003 - 2004



3148



828



26,3



1727



54,9



574



18,2



19



0,6



2004 - 2005



3699



1107



29,9



1984



53,6



594



16,1



14



0,4



2005 - 2006



3889



1668



42,9



1806



46,4



384



9,9



31



0,8



Năm học



TB



Tỷ lệ

%



Yếu



Tỷ lệ

%



Các ngành nghề đào tạo:

+ Hệ cao đẳng: Công nghệ Dệt: Công nghệ Sợi; Công nghệ May;

Công nghệ Hoá nhuộm; Công nghệ sản xuất Giày; Công nghệ Thực phẩm;

Công nghệ thông tin; Kế toán; Quản trị kinh doanh; Công nghệ kỹ thuật

điện; Kỹ thuật Viễn thông; Công nghệ Cơ khí; Tài chính Ngân hàng; Cơ

Điện tử; Công nghệ Kỹ thuật Ô tô.

+ Hệ trung cấp chuyên chuyên: Công nghệ Dệt: Công nghệ Sợi;

Công nghệ May; Công nghệ Cơ khí; Công nghệ Kỹ thuật Điện; Hoạch toán

kế toán; Công nghệ thông tin.

+ Hệ công nhân kỹ thuật: Công nghệ Sợi; Công nghệ Dệt; Công

nghệ May; Công nghệ Hoá nhuộm; Công nghệ Cơ khí; Công nghệ kỹ thuật

Điện.

Cơ cấu tổ chức của trường:

Cơ cấu tổ chức bộ máy của quản lý trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ

thuật Công nghiệp I được xây dựng theo mô hình trường cao đẳng đa hệ, đa

ngành nghề nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho cả nước.

Nhà trường chịu sự quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chuyên

môn và sự quản lý trực tiếp của Bộ Công Thương.

Ban giám hiệu gồm có: Hiệu trưởng; 2 phó hiệu trưởng.

Các phòng chức năng gồm có: Phòng đào tạo (Trong đó có tổ thư

viện); Phòng tổ chức cán bộ và HSSV; Phòng nghiên cứu khoa học; Phòng

tài chính; Phòng hành chính quản trị (Trong đó có cơ sở y tế)



26



Các khoa (tổ) chuyên môn:

- Tổ bộ môn Chính trị - Mác Lê nin

- Tổ bộ môn Toán - Lý

- Tổ bộ môn Ngoại ngữ

- Tổ Giáo dục thể chất - Giáo dục quốc phòng

- Khoa Kinh tế - Pháp chế

- Khoa Công nghệ thông tin

- Khoa Điện - Điện tử

- Khoa Cơ khí - Chế tạo máy

- Khoa Dệt - May - Thời trang

- Khoa Hoá - Thực phẩm

Ngoài hệ thống tổ chức chính quyền nhà trường còn có tổ chức Đảng

bộ, tổ chức Công đoàn và Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, hội học

Sinh - Sinh viên, hội Cựu chiến binh

Về đội ngũ giảng viên:

Trường có hơn 300 giảng viên chính thức, trong đó 45% giảng viên

có trình độ thạc sĩ và tiến sĩ. Ngoài ra trường còn có đội ngũ giảng viên

kiêm nhiệm là các giáo sư, tiến sĩ đầu ngành của các viện nghiên cứu, các

trường đại học, các tổng công ty tham gia giảng dạy.

Về cơ sở vật chất và trang thiết bị đào tạo:

Trường có hai cơ sở tại Nam Định và Hà Nội, với tổng diện tích đất

là 23 ha; Số phòng học lý thuyết là 109 phòng với diện tích 10190 m 2 ; số

phòng thực hành, thí nghiệm là 95 phòng với diện tích: 8480m 2 . Trường có

nhà ăn, ký túc xá cho SV; Có khu làm việc của CB và GV, khu vui chơi thể

thao, vườn cây xanh.

Trường có 2 trung tâm thông tin thư viện với khoảng 150000 đầu

sách, trong đó có 2 phòng xây dựng theo mô hình thư viện điện tử; Hệ

thống mạng nội bộ toàn trường kết nối Internet để phục vụ công tác quản lý

điều hành, dạy, học và nghiên cứu khoa học; Trường có khoảng 800 máy vi



27



tính, trên 800 máy móc thiết bị các loại phục vụ thực tập, thí nghiệm, quản

lý, điều hành và các công việc nghiệp vụ khác.

Về công tác nghiên cứu khoa học:

Trường đã thực hiện nhiều đề tài cấp Bộ, cấp Trường có tính thực

tiễn cao, áp dụng được vào sản xuất.

Về quan hệ hợp tác quốc tế: Trường tổ chức nhiều hội thảo khoa học

giáo dục với các nước về công nghệ mới và tổ chức sản xuất; Hợp tác và tổ

chức các lớp đào tạo bồi dưỡng cho chuyên gia tại các nước công nghiệp

tiên tiến; Trường đã thực hiện nhiều dự án quốc tế về đào tạo với Nhật,

Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Australia, và các nước trong khối

ASEAN…

Chiến lược phát triển nhà trường:

Nâng cấp trường thành trường Đại học Kinh tế – Kỹ thuật Công

nghiệp, đào tạo các trình độ: Sau đại học, đại học công nghệ, kinh tế; Cao

đẳng kinh tế, công nghệ; TCCN và CN kỹ thuật, đào tạo lại.

Các ngành nghề đào tạo: Công nghệ Dệt, Công nghệ Sợi, Công nghệ

Da Giầy, Công nghệ May và Thiết kế thời trang, Công nghệ Hoá nhuộm,

Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ thông tin, Cơ khí chế tạo máy, Điện,

Điện tử, Kế toán, Quản trị kinh doanh. Giai đoạn sau năm 2010 trường đào

tạo các ngành công nghệ, kinh tế theo nhu cầu của xã hội.

Qui mô đào tạo: Quy mô đào tạo tăng dần phù hợp với khả năng phát

triển các nguồn lực của nhà trường và ổn định vào năm 2015, với tốc độ

tăng trưởng hàng năm về số lượng HSSV khoảng 5% - 7%. Từ nay đến

năm 2015, sẽ tập trung phát triển đào tạo đại học; bậc đào tạo Cao đẳng,

trung học chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật tăng trưởng với tốc độ thấp

hơn.

2.2. Đặc điểm tình hình hoạt động dạy học bộ môn Toán ở Trường Cao

đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I.



28



Để đánh giá các mặt hoạt động dạy học bộ môn toán tác giả sử dụng

phiếu đánh giá có 3 mức độ và tính điểm theo mỗi mức độ: Tốt: 3 điểm;

Trung bình: 2 điểm; Chưa tốt: 1 điểm.

* Với các biện pháp quản lý, tác giả đánh giá theo 3 mức độ: Tốt: 3

điểm; Trung bình:2 điểm; Chưa tốt: 1 điểm.

* Tính điểm trung bình của các biểu theo công thức:



X 



X i .k i

n



Trong đó: X là điểm trung bình, Xi là điểm mức độ, ki là số người

cho điểm ở mức Xi , n là số người tham gia đánh giá.

* Tính thứ bậc thực hiện theo hàm thống kê của bảng tính Excel:

Rank(number,ref,ordet) (Trong đó: number là giá trị cần tính thứ bậc, ref là

danh sách các giá trị, order là trật tự tính thứ bậc).

2.2.1. Thực trạng về hoạt động giảng dạy bộ môn Toán.

Qua thực tế điều tra 14 cán bộ giảng dạy bộ môn Toán về hoạt động

giảng dạy môn Toán tác giả thu được kết quả sau.

Biểu 2.3. Khảo sát về hoạt động giảng dạy bộ môn toán

Hoạt động giảng dạy bộ môn Toán

TT



Nội dung

Tốt



Trung Chưa Điểm

bình

tốt

TB



Thứ

bậc



1



Thực hiện chương trình giảng dạy



39



2



0



2.9



3



2



Việc lập kế hoạch công tác của GV



39



2



0



2.9



3



3



Việc soạn bài chuẩn bị lên lớp



39



2



0



2.9



3



4



Nền nếp lên lớp của GV

Việc vận dụng cải tiến phương pháp

dạy học



42



0



0



3.0



1



0



6



11



0.4



7



6



Hoạt động tự học, tự bồi dưỡng



36



4



0



2.9



6



7



Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập

của SV



42



0



0



3.0



1



5



29



Qua khảo sát hoạt động giảng dạy bộ môn toán tại trường Cao đẳng

Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I, ta thấy:

- Việc thực hiện chương trình giảng dạy đúng với khung chương

trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc lập kế hoạch công tác giáo viên cụ

thể và phù hợp với kế hoạch chung của nhà trường, của khoa chuyên môn

và tổ bộ môn, nền nếp lên lớp của giáo viên tương đối tốt, lên lớp đúng giờ,

đảm bảo tiến độ giảng dạy, giảng dạy đúng đủ chương trình theo qui định.

Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV nghiêm túc, đánh giá đúng

kết quả học tập của các em.

- GV soạn bài chuẩn bị lên lớp đầy đủ nhưng chưa thể hiện được ý

tưởng cải tiến phương pháp giảng dạy trong bài soạn. Hoạt động tự học, tự

bồi dưỡng để cải tiến phương pháp giảng dạy chưa tốt, GV chưa có nhiều

tài liệu tham khảo, chưa thực sự tìm hiểu tài liệu toán của nhiều trường

khác trong và ngoài nước.

- Việc vận dụng cải tiến phương pháp dạy học còn yếu. GV giảng

dạy chủ yếu bằng các phương pháp truyền thống, phương tiện giảng dạy

chủ yếu là phấn bảng.

- Giờ giảng theo hướng đổi mới PPDH chỉ diễn ra ở các tiết hội

giảng. Khả năng sử dụng trang thiết bị hiện đại vào giảng dạy của GV còn

yếu. SV còn thụ động trong giờ học. Vai trò người thầy vẫn là người làm

việc chính trong giờ dạy, thầy còn vừa là đạo diễn vừa là diễn viên trong

một giờ dạy.

Nguyên nhân:

- Do cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu chưa đáp ứng được yêu

cầu giảng dạy và học tập, chưa có phòng học bộ môn toán nên hoạt động

giảng dạy lý thuyết còn diễn ra trên giảng đường.

- Một số GV còn ngại nghiên cứu phần mềm giải toán và ngại thay

đổi PPDH đã quen thuộc từ nhiều năm.



30



- GV có một số cải tiến trong giảng dạy như cho SV nghiên cứu, giải

quyết các bài tập theo các chuyên đề, thảo luận nhóm. Nhưng SV rất ngại

nghiên cứu, kết quả nghiên cứu còn kém và hoạt động này không diễn ra

thường xuyên, việc kiểm tra đánh giá lại chưa sâu sát nên hiệu quả vẫn

chưa cao.

Để dạy một tiết học theo PPDH mới đòi hỏi GV phải mất rất nhiều

thời gian nghiên cứu về chuyên môn, thầy phải biết được vấn đề giao cho

SV nghiên cứu, SV cần phải đọc sách nào và tìm nguồn tài liệu từ đâu.

Thầy phải khai phá trước được các tiến bộ của khoa học công nghệ thông

tin vào dạy học toán. Thầy phải đầu tư rất nhiều thời gian và trí tuệ vào

nghiên cứu chuyên môn phục vụ cho việc lên lớp. Thế nhưng qui định giờ

giảng của GV hiện nay vẫn 8,7 tiết/1 tuần với giảng viên giảng dạy dưới 5

năm, 11,8 tiết/1 tuần với giảng viên giảng dạy trên 5 năm; chế độ nghiên

cứu khoa học chưa rõ ràng. Tài liệu nhiều cuốn còn rất đắt thư viện nhà

trường không có, GV không tự mua được, nên tình trạng thiếu tư liệu

nghiên cứu cho GV và SV vẫn còn nhiều. Do những hạn chế trên nên việc

nghiên cứu ứng dụng của bộ môn toán vào các chuyên ngành còn nhiều hạn

chế.

2.2.2. Thực trạng về hoạt động học tập bộ môn Toán.

Hoạt động học tập của sinh viên trong nhà trường bao gồm học chính

khoá, học ngoại khoá, tự học và tham gia nghiên cứu khoa học. Các em là

học sinh vừa tốt nghiệp phổ thông trung học, do đó chịu ảnh hưởng của nếp

dạy và học ở phổ thông trung học rất lớn. Ở PTTH Các em hoàn toàn dựa

vào thầy cô, các em học thêm tràn lan nên các dạng toán do thầy tổng hợp

và thầy chữa, các em chỉ việc nhớ dạng bài tập và đi thi. Chính vì thế các

em chưa biết cách học, tự học, tự nghiên cứu. Số SV nhận thức được nhiệm

vụ học tập, nghiên cứu và biết phương pháp học tập là rất ít. Thực tế SV

chưa thực sự có cách học, cách chiếm lĩnh tri thức, khả năng tự học còn

thấp, các em chưa say mê, tìm tòi, sáng tạo. Các em chưa biết đặt vấn đề



31



cần giải quyết và cách giải quyết các vấn đề đó như thế nào. Chưa biết

phân tích, tổng hợp vấn đề sau khi đọc sách, chưa biết móc nối vấn đề này

với vấn đề kia.

Để tìm hiểu chất lượng học tập bộ môn toán ở trường Cao đẳng

Kinh tế – Kỹ thuật Công nghiệp I. Tác giả đã thống kê chất lượng dạy học

bộ môn Toán của 3 năm học 2004 – 2007, như sau:

Biểu 2.2: Thống kê chất lượng dạy học bộ môn Toán từ năm 2004 2007

Chất lượng giảng dạy cao đẳng

Năm học



Phân môn



Tổng



Giỏi,



Tỷlệ



TB



Tỷlệ



số



khá



%



khá



%



TB



Tỷlệ

%



Yếu



Tỷlệ

%



Giải tích I



3148



661



21%



1291



41%



881



28%



315



10%



Giải tích II



2008



341



17%



803



40%



403



23%



401



20%



2004-



Xác suất



1140



205



18%



490



43%



274



24%



171



15%



2005



Toán kinh tế 115



18



16%



45



39%



32



28%



20



17%



Phương



120



24



20%



30



25%



44



37%



22



18%



Giải tích I



3699



925



25%



1295



35%



925



25%



554



15%



Giải tích II



2179



436



20%



827



38%



458



21%



458



21%



2005-



Xác suất



1520



304



20%



608



40%



334



22%



274



18%



2006



Toán kinh tế 110



20



18%



38



35%



32



29%



20



18%



Phương



110



20



18%



30



28%



38



34%



22



20%



Giải tích I



3889



894



23%



1400



36%



972



25%



623



16%



Giải tích II



2409



458



19%



891



37%



554



23%



506



21%



2006-



Xác suất



1480



311



21%



533



36%



355



24%



281



19%



2007



Toán kinh tế 125



25



20%



50



40%



21



17%



29



23%



Phương



48



22%



52



24%



78



37%



36



17%



pháp tính



pháp tính



214



pháp tính



32



Đánh giá chung chất lượng dạy học bộ môn toán trong 3 năm học từ

2004 – 2007: Năm học 2004 - 2005 chất lượng trung bình tương đối đảm

bảo, tỉ lệ giỏi và khá chưa cao, tỉ lệ yếu kém vẫn còn cao, đặc biệt là các

môn toán chuyên ngành. Năm học 2005 - 2006 chất lượng khá giỏi được

nâng lên không đáng kể. Chất lượng môn giải tích II thấp hơn môn giải tích

I, chất lượng môn toán kinh tế của chuyên ngành quản trị còn thấp, chất

lượng môn toán xác suất và môn phương pháp tính cho chuyên ngành công

nghệ thông tin chưa cao. Năm học 2006- 2007 chất lượng tăng lên không

đáng kể, không có sự thay đổi lớn về giảng dạy và học tập. Trong khi đó

môn toán là bộ môn rèn luyện khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, tư duy lô

gíc, rèn tính chính xác, tính cẩn thận cho SV, là nguồn kiến thức cơ bản cho

SV học tập các môn chuyên ngành. Chất lượng môn toán ảnh hưởng đến

chất lượng các môn chuyên ngành. Thực tế chất lượng môn toán chưa cao

nên chất lượng các môn chuyên ngành chịu ảnh hưởng một phần không

nhỏ. Trong quá trình nghiên cứu các môn chuyên ngành nếu không có kiến

thức toán thì các em không hiểu được các phép biến đổi đó như thế nào.

Nếu kiến thức toán không vững vàng các em sẽ gặp khó khăn trong vấn đề

tự nghiên cứu. Việc thi kiểm tra vẫn là thi tự luận với một đề chung. Chưa

có sự cải tiến trong thi và kiểm tra. Công tác quản lý hoạt động dạy học

chưa có sự thay đổi lớn để tác động và kích thích hoạt động giảng dạy.

Tương ứng với phương pháp dạy của thầy là phương pháp học của

trò nên hoạt động học của trò cũng diễn ra trên giảng đường. Hoạt động

học của SV trên lớp chủ yếu là trả lời theo những yêu cầu của GV, chưa có

nhiều cơ hội cho SV trình bày quan điểm hoặc những kiến thức mà SV tìm

tòi nghiên cứu được. Nhiều khi hoạt động học tập của SV theo một khuôn

mẫu từ phổ thông, thầy giao nhiệm vụ gì trò làm nhiệm vụ đó, SV không

chủ động tìm tòi khám phá những kiến thức mới mẻ liên quan. SV ít có khả

năng tự nghiên cứu, mà dựa dẫm vào thầy rất nhiều, tính sáng tạo trong học

tập rất hạn chế. Hoạt động tự học của SV chỉ là SV đọc giáo trình và làm



33



bài tập ở nhà, GV kiểm tra việc học ở nhà của SV thông qua việc chấm đề

cương, SV ít có cơ hội trao đổi các kết quả học tập nghiên cứu với thầy và

bạn bè. Khả năng hợp tác nghiên cứu rất yếu, việc đọc sách, tự nghiên cứu

và tìm thông tin, phần mềm trên mạng còn yếu, điều kiện học tập của các

em cũng chưa đáp ứng được yêu cầu học tập và nghiên cứu theo PPDH

mới.

Biểu 2.3. Thực trạng nền nếp tự học môn Toán của sinh viên trường

Cao đẳng KT-KT CN.

Thời gian tự học trung bình trong ngày

Khoá

Tổng số

học



Trên 5 giờ

SL



K14

K15

K16



Từ 4 - 5 giờ



3-4 giờ



1-2 giờ



Ít hơn 1

giờ



%



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



100



3



3%



23



23%



46



46%



26



26%



2



2%



100



3



3%



24



24%



43



43%



27



27%



3



3%



100



5



5%



26



26%



52



53%



15



15%



2



2%



Thực trạng hoạt động tự học của SV rất yếu, thời gian tự học của SV

trên 5 giờ chỉ chiếm từ 3% - 5%, từ 4-5 giờ từ 23% - 26%, phần nhiều các

em mới chỉ tự học mỗi ngày từ 3-4 giờ, từ 17%- 30% các em rất lười học

thời gian tự học mới từ 1-2 giờ và ít hơn 1 giờ. Các em chưa tự giác học

tập, trong khoảng thời gian tự học của SV các em sử dụng thời gian chưa

hiệu quả. Các em chưa có thói quen đến thư viện đọc sách, thói quen cộng

tác với bạn bè để nghiên cứu và thường xuyên trao đổi các vấn đề vướng

mắc với thầy cô. Các em chưa tự đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu giáo

trình, tài liêu học tập, nghiên cưú và tìm hiểu tra cứu trên mạng. Khả năng

khai thác thông tin trên mạng Internet rất yếu. Khả năng độc lập và hợp tác

trong nghiên cứu của các em rất yếu. Các em rất lười giải bài tập nên kỹ

năng giải chậm và tính chính xác không cao. Hoạt động học tập của SV rất

chầm lắng và theo nếp học tập cũ, thầy giao việc gì trò làm việc đó. Thậm



34



trí nếu là những bài tập khó SV bỏ mặc đó chờ thầy giải đáp. Hoạt động

học tập của SV thực sự chưa hiệu quả và cần phải đổi mới mạnh mẽ để đáp

ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc CNH, HĐH đất nước.

2.3. Thực trạng về công tác quản lý hoạt động dạy học môn Toán ở

Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp I.

Để đánh giá các mặt về công tác quản lý hoạt động dạy học bộ môn

toán, tác giả sử dụng phiếu đánh giá có 3 mức độ và tính điểm theo mỗi

mức độ: Tốt: 3 điểm; Trung bình: 2 điểm; Chưa tốt: 1 điểm.

* Với các biện pháp quản lý, tác giả đánh giá theo 3 mức độ: Tốt: 3

điểm; Trung bình:2 điểm; Chưa tốt: 1 điểm.

* Tính điểm trung bình của các biểu theo công thức:



X 



X i .k i

n



Trong đó: X là điểm trung bình, Xi là điểm mức độ, ki là số người

cho điểm ở mức Xi , n là số người tham gia đánh giá.

* Tính thứ bậc thực hiện theo hàm thống kê của bảng tính Excel:

Rank(number,ref,ordet) (Trong đó: number là giá trị cần tính thứ bậc, ref là

danh sách các giá trị, order là trật tự tính thứ bậc).

Qua khảo sát và xin ý kiến của 14 cán bộ giảng viên đại diện của tổ

bộ môn toán trong trường, thu được kết quả như sau:

Biểu 2.4. Khảo sát công tác quản lý hoạt động dạy học môn Toán

TT



Nội dung



Tốt



Công tác quản lý

Trung Chưa Điểm Thứ

bình

tốt

TB

bậc

12

30

2.9

1



1



Quản lý hoạt động dạy của GV



2



0



70



15



1.7



5



120



20



0



2.8



2



4



Quản lý hoạt động học của SV

Quản lý việc sử dụng, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV

Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học



105



20



53



2.6



3



5



Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học



90



34



3



2.5



4



3



132



35



Trong công tác quản lý các mặt hoạt động của trường thì quản lý

hoạt động dạy học của GV là tốt nhất. Hoạt động giảng dạy của GV chịu sự

quản lý trực tiếp của tổ bộ môn, của khoa và chịu sự quản lý chung của

phòng đào tạo theo thời biểu chung của toàn trường. Công tác đào tạo và

bồi dưỡng GV thực hiện tương đối tốt thể hiện qua sự tăng trưởng của đội

ngũ GV cả về số lượng và chất lượng. Công tác quản lý hoạt động học của

SV là yếu nhất, trường mới quản lý hoạt động chính khoá của SV trên lớp.

Do ảnh hưởng của phương pháp dạy học truyền thống nên chưa quản lý

được hoạt động tự học của các em. Các em còn dựa vào thầy quá nhiều,

chưa có tính chủ động trong học tập. Nhiệm vụ tự nghiên cứu của các em

chưa được chú trọng và chưa có biện pháp quản lý. Các em chưa tự tìm tòi

và nghiên cứu những vấn đề phục vụ cho môn học và ứng dụng của môn

học vào chuyên ngành mình nghiên cứu. GV đánh giá SV qua bài thi và

kiểm tra, chưa có các bài tập lớn để từng nhóm các em tự nghiên cứu và

báo cáo kết quả tự nghiên cứu của nhóm mình. Công tác quản lý cơ sở vật

chất chưa thật tốt còn để hư hỏng và lãng phí nhiều.

2.3.1. Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên.

Giảng viên là thành tố quan trọng của hoạt động dạy học, là chủ thể

của hoạt động dạy học. "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm

bảo chất lượng giáo dục" [Theo luật Gd]. Chính vì vậy yếu tố đội ngũ giữ

một vai trò hết sức quan trọng đối với một nhà trường.

1, Tình hình đội ngũ giảng viên của bộ môn Toán:

Cán bộ quản lý: Trưởng bộ môn: 01; Phó bộ môn: 01

Số giảng viên: 14 trong đó thạc sỹ 7 (chiếm 50%); Cử nhân 7 (chiếm

50%

Về giới tính: Nam 7 (chiếm 50%); Nữ 7 (chiếm 50%)

Độ tuổi từ 25 đến 55, trong đó từ 25-30 tuổi là 5/14 = 36%; từ 31- 45

tuổi là 7/14 = 50%; từ 50-55 tuổi là 2/14 = 14%



36



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (157 trang)

×