1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP I.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.81 MB, 157 trang )


5, Tổ chức hội thảo, viết chuyên đề về vấn đề đổi mới phương pháp

dạy học, trao đổi về phương hướng đổi mới phương pháp dạy học và lựa

chọn phương pháp mới để thực hiện.

3.1.1.3 Cách thực hiện:

Về mặt lý luận, chúng ta có một nền khoa học giáo dục tuy non trẻ

nhưng cũng không phải quá yếu kém, có nhiều lý luận dạy học hiện đại của

các nhà khoa học giáo dục như TS. Nguyễn Lộc đã chỉ ra. Chúng ta có

nhiều thầy cô giáo giỏi về kiến thức, giỏi về tay nghề. Đó là lực lượng nòng

cốt đang nghiên cứu, vận dụng những phương pháp dạy học tiên tiến, phù

hợp với thực tiễn Việt Nam có thể làm nên những thành tựu vĩ đại trên. Sự

đổi mới của khoa học giáo dục luôn diễn ra, bởi giáo dục không nằm ngoài

sự phát triển kinh tế xã hội. Phương pháp dạy học luôn thay đổi và được áp

dụng một cách linh hoạt không phải từng năm học, từng học kỳ mà ngay

trong một bài học. Cùng một bài học nhưng mỗi năm thầy dạy phương

pháp khác nhau chất lượng cũng khác nhau. Một giờ dạy giáo viên sử dụng

nhiều phương pháp khác nhau theo các quan điểm khác nhau. Theo tác giả

Lê Nguyên Long nếu không thay đổi nội dung thì việc thayđổi phương

pháp dạy học cũng chẳng ích gì, ngược lại nếu nộidung có khoa học hiện

đại bao nhiêu mà không thay đổi phương pháp dạy và hình thức tổ chức

dạy học thì chất lượng cũng chẳng thể hơn. Vì thế đổi mới phương pháp

dạy học là một yêu cầu có tính cấp thiết trong dạy học các cấp học hiện

nay. Hoạt động dạy học luôn luôn phải được cải tiến để phù hợp với yêu

cầu giáo dục và đào tạo. Xã hội phát triển mạnh mẽ, khoa học kỹ thuật,

công nghệ thay đổi một cách nhanh chóng, nền kinh tế tăng trưởng nhanh.

Xã hội luôn có đơn đặt hàng mới với ngành giáo dục, đặc biệt là với giáo

dục đại học. Trong thời kỳ hội nhập, giáo dục đại học nước ta cần có sự

thay đổi lớn về chất lượng và qui mô đào tạo để cạnh tranh trong nước và

quốc tế. Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng đào tạo, mở rộng qui mô đào

tạo để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện



60



đại hoá. Để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và

tăng về số lượng, đòi hỏi các trường đại học nói chung và Trường Cao

đẳng Kinh tế – Kỹ thuật nói riêng phải cải tiến nội dung, phương pháp

giảng dạy, hình thức đào tạo. Chính vì thế lãnh đạo nhà trường phải nâng

cao nhận thức và tính cấp thiết về đổi mới phương pháp giảng dạy các bộ

môn cho giảng viên, sinh viên.

1, Trường tổ chức cho CBQL, GV và SV nghiên cứu, học tập nghị

quyết của Đảng và hệ thống văn bản pháp qui của Nhà nước về đổi mới

giáo dục.

Trường cần có đủ các nghị quyết, công văn của Đảng và hệ thống

các văn bản pháp qui của nhà nước về đổi mới giáo dục, tài liệu lý luận và

các tài liệu tổng kết rút kinh nghiệm hội thảo về đổi mới PPDH để GV và

SV tham khảo, nghiên cứu.

2, Bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho giảng viên và sinh viên về sự

cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng đào

tạo.

- Trường làm thống kê về qui mô đào tạo và dự báo đào tạo từ năm

2007 đến năm 2015 để GV nắm được.

Quy mô đào tạo năm 2007 và dự báo đến năm 2015

(quy đổi về hệ chính qui)

TT



Bậc đào tạo



2007



2008



2009



2010



2011



2012



2013



2014



2015



1



Đại học



700



2100



3200



4000



4800



5600



6400



7200



8000



2



Cao đẳng chính qui



5850



5900



5950



6000



6050



6100



6150



6200



6240



3



Cao đẳng tại chức



2030



2060



2090



2120



2150



2180



2210



2240



2260



4



Liên thông THCN –



930



960



990



1020



1050



1080



1110



1140



1160





5



THCN



3020



3040



3060



3080



3100



3120



3140



3160



3170



6



Công nhân kỹ thuật



2020



2040



2060



2080



2100



2120



2140



2160



2170



14550



16100



17350



18300



19250



20200



21150



22100



23000



Cộng



61



- Trường làm thống kê về tốc độ tăng số doanh nghiệp từ 2007 đến

2010 và yêu cầu xã hội về nguồn nhân lực. Hiện nay Việt Nam có khoảng

150 000 doanh nghiệp, đến năm 2010 dự báo số lượng doanh nghiệp

khoảng 500 000 doanh nghiệp, yêu cầu của nguồn nhân lực là cán bộ và

công nhân lành nghề có trình độ kỹ thuật cao, có tay nghề giỏi, để sinh viên

thấy được yêu cầu chất lượng nguồn nhân lực là số một. Vì thế cần phải

thay đổi cách học để phù hợp với yêu cầu trình độ khoa học kỹ thuật, công

nghệ hiện nay.

- Đảng uỷ và ban giám hiệu ra nghị quyết về đổi mới dạy học, yêu

cầu các đơn vị, các khoa thực hiện cải tiến nội dung chương trình và

PPDH.

- Trường cần có đủ tài liệu về phương pháp dạy học hiện đại, phương

pháp dạy và học đại học mới xuất bản, cho các khoa và tổ bộ môn. Tổ bộ

môn tìm mua và dowloat các chuyên đề, tài liệu viết về cải tiến phương

pháp dạy học môn toán đối với cao đẳng và đại học để GV và SV nghiên

cứu. (Như tài liệu PPDH hiện đại của Nguyễn Phương Hoa; Lý luận dạy

học đại cương của Nguyễn Ngọc Quang; Học và dạy cách học của Nguyễn

Cảnh Toàn. Lý luận dạy đại học của Đặng Vũ Hoạt – Hà Thị Đức; Hướng

dẫn dạy và học trong giáo dục đại học của nhóm tác giả Hoàng Ngọc

Vinh).

- Trường in các tài liệu về phương pháp dạy học hiện đại cho các tổ

bộ môn, các khoa.

- Trường mời các chuyên viên cấp cao về phương pháp dạy học về

giảng cho các GV, SV.

- Sau khi học tập nghiên cứu các tài liệu, GV viết thu hoạch về

phương pháp dạy học hiện đại và soạn bài theo hướng cải tiến phương pháp

giảng dạy.

- Trường tổ chức hội nghị, hội thảo về đổi mới PPDH các cấp, hội

thảo cấp tổ bộ môn, cấp khoa cấp trường



62



- GV làm thu hoạch nhận thức về việc đổi mới PPDH theo nội dung

sau:

+ Theo đ/c có cần phải đổi mới PPDH không? vì sao?

+ Nếu đổi mới PPDH thì đ/c sẽ gặp phải khó khăn gì?

+ Đổi mới PPDH có làm xáo trộn nền nếp làm việc trong tổ bộ môn

không? có ảnh hưởng đến hoạt động đào tạo trong nhà trường không?

+ Đổi mới PPDH trong điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện làm việc

hiện nay của trường có hợp lý không?

+ Động cơ nào làm đ/c phải đổi mới PPDH?

- Tổ bộ môn và các khoa làm báo cáo về công tác bồi dưỡng nhận

thức cho GV và SV về đổi mới PPDH (nêu rõ khả năng nhận thức của GV

và SV về cấp thiết phải đổi mới PPDH, định hướng của khoa tổ bộ môn về

bước tiếp theo của hoạt động này)

3, Trường tổ chức hội thảo về những thành tựu và những hạn chế của

phương pháp dạy học từ trước đến nay.

Mặc dù hiện nay chúng ta đang có một hệ thống giáo dục Đại học đa

ngành nghề gồm: Đại học Quốc gia đa ngành nghề, đại học chuyên ngành,

đại học vùng, Đại học địa phương, Đại học dân lập đa ngành nghề với các

hình thức đào tạo chính qui, liên thông, tại chức, từ xa. Nhưng chất lượng

tụt hậu , kém hiệu quả so với nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự

nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đát nước, nâng cao sức cạnh tranh

của nền kinh tế. Trước tình trạng đó không ít người mất niềm tin vào đại

học nước nhà. Thực tế xuống cấp của giáo dục đại học nước nhà là sản

phẩm của các chính sách phát triển Đại học của các nhà quản lý. Đội ngũ

GV là khâu quyết định chất lượng hệ thống đào tạo của một nhà trường. Vì

thế ta phải tìm ra nguyên nhân của những yếu kém đó. Nguyên nhân cơ bản

là nội dung và phương pháp giảng dạy chậm đổi mới. Theo hai tác giả Lê

Nguyên Long và Tiến sĩ Nguyễn Lộc đăng trên báo giáo dục và thời đại

ngày 12/07/2003 thì: thực trạng đổi mới phương pháp dạy học của thập kỷ



63



qua, phát động phong trào đổi mới phương pháp dạy học rầm rộ trong các

đợt thay sách, trong kế hoạch đầu năm của bộ, của sở và của các trường, dự

lớp bồi dưỡng xong ai cũng gật gù khen phương pháp mới là hay nhưng về

trường không áp dụng được. Ngay cả đội ngũ giáo viên giỏi được coi là

nòng cốt cũng chỉ triển khai phương pháp dạy học mới trong các tiết dạy

hội giảng, còn áp dụng đại trà thì không thể. Phương pháp hiệu quả và đỡ

mệt là “dạy nhanh công thức, qui tắc rồi làm bài tập. Có không ít GV từ khi

ra trường đến nay hầu như không thay đổi phương pháp dạy học truyền

thống và hình như họ đứng ngoài các cuộc vận động lớn về đổi mới

phương pháp dạy học.

1, Ban giám hiệu sẽ chỉ đạo cho các khoa chuyên môn, các tổ bộ

môn hội thảo, đánh giá một cách thẳng thắn, những thành tựu đã đạt được

và những yếu kém cần phải khắc phục, cải tiến để nâng cao chất lượng dạy

học. Để cuộc hội thảo đạt được kết quả mong muốn là đánh giá được ưu

điểm của phương pháp dạy học truyền thống và những hạn chế cần cải tiến,

đổi mới. Trước khi hội thảo lãnh đạo nhà trường có thể lấy ý kiến của GV

thông qua hệ thống câu hỏi để GV tìm hiểu, chuẩn bị nội dung.

-Theo đồng chí:

+ Phương pháp dạy học truyền thống có những ưu điểm gì?

+ Phương pháp dạy học truyền thống có những nhược điểm gì?

+ Những nhược điểm đó có ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo

không? Đ/c có nêu rõ những hạn chế của PPDH truyền thống đã gây ảnh

hưởng không tốt đến việc nâng cao chất lượng giảng dạy.

+ Đổi mới phương pháp giảng dạy có làm xáo trộn các hoạt động

đào tạo trong nhà trường không?

+ Qua tìm hiểu bước đầu về phương pháp dạy học hiện đại Đ/C thấy

chúng có những ưu điểm và nhược điểm gì?

- Thông qua cuộc hội thảo chủ toạ (Trưởng khoa hoặc trưởng bộ

môn) kết luận về nội dung cuộc hội thảo.



64



- Qua cuộc hội thảo ở tổ bộ môn Toán- Lý do tác giả đề xuất với

trưởng bộ môn tổ chức, tác giả thấy nội dung cuộc hội thảo có những vấn

đề chính sau:

+ PPDH truyền thống có ưu điểm: Một giảng viên có thể giảng dạy

một lớp với số lượng SV lớn. Trong một khoảng thời gian có hạn thầy có

thể cung cấp cho SV một lượng kiến thức tương đối nhiều. Trong điều kiện

cơ sở vật chất thiếu thốn, giáo trình thiếu rất nhiều, SV vẫn có thể học được

một lượng kiến thức nào đó do thầy cung cấp. Thầy có thể dạy cho SV

những vấn đề rất mới và khó hiểu trong khi các em không có tư liệu nghiên

cứu. Một giờ lên lớp của giáo sư giỏi có thể đáp ứng nguyện vọng của

nhiều SV được tham dự tiết học của thầy.

+ PPDH truyền thống có những yếu kém: SV rất thụ động trong

hoạt động học tập, các em không được rèn tính độc lập, sáng tạo trong tư

duy, các em phần nhiều dựa dẫm vào thầy, các em chỉ học những điều thầy

dạy. Khả năng làm việc độc lập và khả năng cộng tác trong nghiên cứu của

các em rất yếu.

+ Trong điều kiện KHKT và KT phát triển như vũ bão, đòi hỏi khả

năng tự học, tự nghiên cứu của các em rất cao. Thời gian học trong trường

của các em là có hạn, mà kiến thức là vô hạn và luôn luôn đổi mới, phát

triển nhanh chóng từng giờ . Nếu các em không tự học thì kiến thức các em

vừa học năm trước thì năm sau đã trở thành lạc hậu. Chính vì thế thầy chỉ

dạy cho các em các kiến thức cơ bản nền tảng giúp các em có cơ sở nghiên

cứu tiếp trong quá trình làm việc sau này. Việc thay đổi phương pháp giảng

dạy đối với GV và việc thay đổi phương pháp học tập đối với SV nhằm

trao dồi cho SV phương pháp học tập, khả năng độc lập nghiên cứu là tất

yếu.

+ PPDH hiện đại có ưu điểm đề cao vai trò quyền lợi của người học,

SV chủ động chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo thầy chỉ là người định

hướng, hỗ trợ SV trong quá trình học tập. PPDH hiện đại phát huy được



65



tính chủ động, sáng tạo trong tư duy của SV, phát huy cao độ khả năng tự

học, tự nghiên cứu của SV, giúp SV có phương pháp tự học, tự nghiên cứu

để đáp ứng yêu cầu tự học suốt cuộc đời của các em.

4, Tổ chức tham quan, dự giờ trong trường và các trường bạn các tiết

dạy của các giáo viên đã thực hiện thành công giờ dạy theo phương pháp

mới.

- Lãnh đạo trường chỉ đạo các khoa, tổ bộ môn hội giảng theo hướng

đổi mới phương pháp dạy học.

- Chọn các tiết hội giảng thành công giờ dạy theo phương pháp dạy

học mới để tổ chức dạy cho toàn thể giáo viên trong trường dự.

- Cử lãnh đạo các khoa, GV đầu đàn dự các tiết hội giảng cấp tỉnh,

cấp toàn quốc để học hỏi PPDH mới.

- Tạo điều kiện cho tổ bộ môn Toán tham gia dự giờ các tiết hội

giảng của bộ môn Toán do các cấp tổ chức.

- Phối hợp với trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định, Trường

Đại học Điều dưỡng Nam Định, Trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định

tổ chức các tiết dạy đã thực hiện thành công theo PPDH mới để cho GV bộ

môn của trường đến dự và học tập kinh nghiệm.

Sau khi dự mỗi giờ dạy lãnh đạo bộ môn yêu cầu giảng viên làm thu

hoạch theo mẫu sau:

+ Đánh giá về nội dung kiến thức đã đạt được sau tiết dạy.

+ Phương pháp giảng dạy của GV có gì đổi mới? phong cách, kỹ

năng làm việc của GV trong tiết dạy?

+ Phương pháp học tập của SV có gì thay đổi trong giờ học? vai trò,

khả năng làm việc của SV trong tiết học?

+ Bầu không khí trong giờ học? Mối quan hệ giữa thầy và trò? Khả

năng hợp tác làm việc giữa thầy và trò trong giờ học?

+ Chất lượng giờ dạy đánh giá qua bài tập trắc nghiệm đối với SV?



66



- Bộ môn tổ chức hội thảo đánh giá nhận xét về các tiết dạy mà bộ

môn đã dự giờ.

5, Tổ chức hội thảo, viết chuyên đề về vấn đề đổi mới phương pháp

dạy học, trao đổi về phương hướng đổi mới phương pháp dạy học và lựa

chọn phương pháp mới để thực hiện.

Trong một năm có không ít những công trình nghiên cứu, đề tài, luận

văn về PPDH, nhưng số phận những công trình đó chắc cũng không khác

mấy so với những đề tài nghiên cứu khoa học bấy lâu nay của ta. Điều đó

có nghĩa là dù công trình được tham khảo nhiều sách Tây, Tàu bao nhiêu,

có hiện đại bao nhiêu mà không có tính thực tiễn, mà không xuất phát từ

chính lớp học Việt Nam, sinh viên Việt Nam, thầy Việt Nam thì cũng

chẳng có ý nghĩa mấy. Vì vậy chúng ta cần những đề tài phù hợp với hoàn

cảnh thực tại của từng trường, đối tượng sinh viên, giảng viên của từng

trường. Vì thế nhà trường cần phải tổ chức hội thảo, viết chuyên đề về vấn

đề đổi mới phương pháp dạy học, trao đổi về phương hướng ĐMPPDH

tìm được giải pháp tối ưu để đổi mới PPDH môn toán và lựa chọn phương

pháp mới vào dạy học.

- Lập kế hoạch hội thảo

+ Bắt đầu từ vài tháng trước

+ Viết lịch trình làm việc

+ Phân thành 3 nhóm khác nhau nhóm 1: 5 GV; nhóm 2: 5 GV;

Nhóm 3: 5 GV. Các nhóm tự thảo luận riêng và tổng hợp ý kiến của nhóm

mình.

+ Thiết lập mục tiêu, mục đích cuộc hội thảo chuyển đến cho những

người trong ban tổ chức và các thành viên tham gia.

+ Lập kế hoạch lịch trình (đến từng phút), làm rõ vai trò của mọi

người. Tập hợp ban tổ chức hội thảo để bàn kế hoạch, lịch trình làm việc và

dự kiến kinh phí. Khách mời tham dự hội thảo.



67



+ Thông báo thời hạn đăng ký hội thảo đến các đơn vị liên kết hội

thảo.

+ Viết bản chương trình làm việc của hội thảo.

+ Đăng ký phòng thích hợp, chuẩn bị phương tiện cần thiết và điều

kiện vật chất cho cuộc hội thảo.

- Trước ngày hội thảo: Liệt kê các danh mục cần được kiểm tra, kiểm

tra tất cả các hoạt động đã lập kế hoạch xem đã thi hành có hiệu quả chưa.

+Ban tổ chức hội thảo cần đến sớm ít nhất 1 giờ trước khi buổi hội

thảo bắt đầu để:

+ Kiểm tra các phòng, sắp xếp bàn ghế.

+ Dựng bản kế hoạch làm việc của buổi hội thảo có ghi rõ những

việc cụ thể sẽ tiến hành.

+ Bắt đầu đúng giờ và tiến hành đúng theo lịch trình của kế hoạch.

+ Sau buổi hội thảo biên soạn bản đánh giá tổng kết hội thảo gửi đến

các nhóm thành viên và khách mời tham dự hội thảo.

3.1.2. Cung ứng các nguồn lực cho đổi mới phương pháp dạy học.

3.1.2.1. Mục tiêu: Cung ứng đúng, đủ, kịp thời nguồn lực phục vụ cho

việc triển khai thực hiện áp dụng phương pháp dạy học mới.

Trang thiết bị các phòng học, các thư viện, phòng thí nghiệm của

các trường Đại học nói chung, của trường CĐ KT-KT CNI nói riêng vừa

rất yếu kém, vừa không cập nhật, vừa không hệ thống. Vào mạng các

trường Đại học nước ngoài, chưa nói đến các nước Âu – Mỹ, đơn cử ngay

Trung Quốc cũng có nhiều thư viện điện tử trong đó nhiều kho dữ liệu rất

phong phú cho SV, GV sử dụng. Nước ta cho đến nay chưa hề có một thư

viện điện tử cấp Quốc gia nào, trang web của các trường Đại học rất nghèo

nàn. Đổi mới PPDH ở Đại học là một yêu cầu mang tính tất yếu và khách

quan trong giai đoạn hiện nay. Chừng nào hoạt động đào tạo chưa coi công

việc nắm chắc các nguồn thông tin, khai thác nó và sử dụng nó như những



68



khâu tất yếu trong quá trình hình thành tri thức cho SV, thì đào tạo không

khác gì đào tạo ở phổ thông trung học.

Để đáp ứng yêu cầu: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích

cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người

học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí

vươn lên’ (Điều 5 khoản 2 – Luật Giáo dục 2005) nhà trường cần cung cấp

đầy đủ các nguồn lực phục vụ cho việc triển khai thực hiện áp dụng PPDH

mới.

3.1.2.2 Nội dung và cách thực hiện:

* Hoàn thiện cơ cấu đội ngũ GV Toán.

Xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng

đáp ứng nhiệm vụ giáo dục - đào tạo của trường.

Thực tế đội ngũ giảng viên bộ môn toán còn thiếu về số lượng, thiếu

những GV có học hàm và học vị cao, còn thiếu GV đầu đàn cho các bộ

môn nói chung, cho bộ môn toán nói riêng thì công tác xây dựng và phát

triển đội ngũ có vai trò quan trọng bậc nhất. Trong đó có hai nội dung cơ

bản: Lập kế hoạch về nhu cầu tuyển dụng; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi

dưỡng và nâng cao chuyên môn và nghiệp vụ cho đội ngũ GV. Đảm bảo cơ

cấu đội ngũ từ năm 2007 đến năm 2015 như sau:

Biểu 3.2: Dự kiến về cơ cấu đội ngũ giảng viên Toán từ 2007 - 2015

Cơ cấu đội ngũ



2007



2008



2009



2010



2011



2012



2013



2014



2015



15



18



20



25



30



45



55



65



70



Độ tuổi 20-30



40%



55%



55%



55%



55%



55%



55%



55%



55%



Độ tuổi 30-40



27%



17%



15%



15%



15%



15%



15%



15%



15%



Độ tuổi 40-50



13%



11%



15%



15%



15%



15%



15%



15%



15%



Độ tuổi 50-60



20%



17%



15%



15%



15%



15%



15%



15%



15%



Trình độ GS,T.sĩ



0%



0%



5%



15%



20%



20%



25%



30%



40%



Trình độ Th.sĩ



30%



39%



50%



55%



60%



60%



60%



55%



45%



Trình độ cử nhân



70%



61%



45%



30%



20%



20%



15%



15%



15%



Tổng số GV



69



* Xây dựng chính sách phát triển đội ngũ và tạo động lực cho giảng

viên giảng dạy và sinh viên học tập.

Để nâng cao chất lượng dạy và học nhà trường cần có chính sách

phát triển đội ngũ và tạo động lực cho GV giảng dạy và sinh viên học tập.

- Lập kế hoạch tuyển dụng GV và chính sách xây dựng đội ngũ GV.

+ Chỉ đạo bộ môn Toán dựa vào qui mô phát triển của nhà trường để

đăng ký số lượng biên chế GV cho phù hợp, đủ về số lượng và đúng với

chuyên ngàng Toán mà nhà trường đang giảng dạy. Trên cơ sở đó nhà

trường co kế hoạch tuyển dụng GV Toán hàng năm.

+ Chỉ đạo lãnh đạo bộ môn phân công giảng dạy hợp lý trên cơ sở

yêu cầu công việc và năng lực cá nhân, tạo điều kiện cho GV phát huy hết

khả năng bản thân. Đảm bảo định mức lao động, đúng chế độ , xác định rõ

trách nhiệm của từng GV trong bộ môn.

+ Xây dựng hệ số, đơn giá giờ giảng theo học hàm, học vị, hiệu quả

của sự cống hiến.

+ Mở các lớp bồi dưỡng cho GV về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại

ngữ tin học và tăng nguồn kinh phí bồi dưỡng cho GV tham gia các lớp bồi

dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.

+ Chỉ đạo bộ môn Toán cải tiến cách thức bồi dưỡng các chuyên đề

hoặc các phương pháp dạy học cho GV dưới các hình thức khác nhau nhằm

triển khai thông tin mới và truyền đạt lại nội dung đã được học tạp một

cách kịp thời, chính xác.

+ Chú trọng bồi dưỡng chính trị, tư tưởng, phong cách đạo đức của

GV, khơi dậy lòng yêu nghề, tâm huyết với sự nghiệp giáo dục làm chất

lượng bài giảng của mỗi GV, góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy

học.

* Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên

môn, nghiệp vụ cho đội ngũ GV Toán



70



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (157 trang)

×