1. Trang chủ >
  2. Lý luận chính trị >
  3. Đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam >

Về quản lý, trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải có sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chính sách đồng thời sử dụng cơ chế thị trường, các hình

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (270.33 KB, 21 trang )


CHƯƠNG 2:

2.1.



VAI TRÒ CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC:



Kinh tế nhà nước:



Kinh tế nhà nước (KTNN) là thành phần kinh tế giữ vai trò sở hữu công cộng (công

hữu) về tư liệu sản xuất, gồm sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước. Nói một cách dễ hiểu,

thành phần KTNN do nhà nước là người đại diện cho toàn dân để làm chủ sở hữu, tổ

chức quản lý, và thông qua doanh nghiệp, tham gia vào các hoạt động kinh tế. Mô hình

KTNN gồm 2 bộ phận cấu thành: doanh nghiệp nhà nước và thành phần KTNN phi

doanh nghiệp (đất đai, hệ thống đường xá, ngân sách quốc gia,…)

Doanh nghiệp nhà nước do nhà nước thành lập, đầu tư vốn sản xuất kinh doanh, tổ

chức quản lý và hoạt động theo cơ chế thị trường như mọi thành phần kinh tế khác, được

chia thành hai lĩnh vực:

Doanh nghiệp hoạt động công ích không vì mục tiêu lợi nhuận: là những doanh

nghiệp độc lập làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc sản xuất, cung ứng dịch vụ

theo những quy định về khung giá và hình thức của nhà nước, không vì mục tiêu

lợi nhuận.

Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận

Các doanh nghiệp nhà nước cần phải được hoàn thiện, phát triển, mở rộng, làm tốt

nhiệm vụ then chốt của mình, giúp nhà nước định hướng, điều tiết vĩ mô và tạo cơ

sở để KTNN hoàn thành tốt vai trò chủ đạo trong điều kiện nền kinh tế quốc gia và

gia nhập kinh tế thế giới.

2.2.



Vai trò của kinh tế nhà nước



2.2.1. Vai trò kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở các nước tư

bản

Vai trò kinh tế của nhà nước tư bản hiện đại là điều chỉnh sự vận động của quá trình

tái sản xuất tư bản chủ nghĩa tức là thúc đẩy, điều tiết và quản lí nền kinh tế. Để thực hiện

được nhiệm vụ đó, ngoài việc sử dụng các nguồn lực và công cụ sẵn có, nhà nước còn

phải sử dụng công cụ điều chỉnh kinh tế. Kết cấu của hệ thống điều chỉnh kinh tế của nhà

nước tư bản độc quyền hiện đại là một hệ thống thiết chế tổ chức bộ máy nhà nước tư

bản, cùng với nó là hệ thông các công cụ và các giải pháp kinh tế được thể chế hóa thành

các chính sách kinh tế của nhà nước. Hệ thống điều chỉnh kinh tế của nhà nước tư bản

gồm:



Khu vực sản xuất thuộc sở hữu nhà nước: Với mục đích duy trì sự tồn tại của

phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa nhưng hướng hoạt động kinh tế vào việc

tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi và cải thiện điều kiện để thúc đẩy quá trình

tái sản xuất xã hội mà không cần lợi nhuận cao hoặc không mang lại lợi nhuận như

xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng, khai thác các nguồn nguyên liệu mới, xây dựng

các ngành kinh tế mũi nhọn gặp nhiều rủi ro, phát triển và ứng dụng khoa họccông nghệ vào sản xuất…

Tài chính nhà nước: Nhà nước tư sản có tiềm lực kinh tế vô cùng to lớn và hiệu

quả để có thể điều chỉnh kinh tế. Công cụ chủ yếu của tài chính là thuế và tài trợ

Nhà nước, bằng các định ra mức thuế khác nhau và khoản tài trợ chủ yếu, Nhà

nước có thể điều chỉnh được vận động của dòng đầu tư tư bản, khoa học – công

nghệ, điều hòa thu nhập giữa các tầng lớp dân cư…. Thông qua chính sách thuế

Nhà nước khuyến khích và nâng đỡ các ngành giữ vai trò quan trọng trong nền

kinh tế.

Tiền tệ và tín dụng: Nhà nước điều chỉnh khối lượng tiền tệ trong lưu thông qua ba

công cụ hoạt động thị trưởng mở, thay đổi tỷ lệ chiết khấu và tỷ dự trữ pháp định.

Giá cả: Nhà nước điều chỉnh giá cả sao cho phù hợp với từng thời kì kinh tế, từng

sự biến đổi của cơ chế thị trường và điều chỉnh tiền lương sao cho tương xứng với

giá cả.

Kế hoạch hóa: Nhà nước dùng kế hoạch không chỉ để định hướng kinh doanh phát

triển theo cơ cấu kinh tế phù hợp mà còn nâng đỡ và hỗ trợ Tư bản tư nhân phát

triển

Các công cụ hành pháp: Các văn bản và sắc lệnh Nhà nước cùng với bộ máy thi

hành thanh tra, giám sát, xử lí tạo thành một hệ thống công cụ hành pháp mạnh để

Nhà nước điều chỉnh quá trình vận động của nền kinh tế theo mục tiêu định trước

của mình.

Các công cụ kĩ thuật

2.2.2Vai trò kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở các nước xã hội

chủ nghĩa

- Nhà nước đảm bảo sự ổn định chính trị, kinh tế, xã hội và thiết lập khuôn khổ

pháp luật để tạo điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế vì ổn địn chính trị, xã hội là

điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế. Nhà nước còn tạo ra hành lang pháp luật cho

hoạt động kinh tế bằng cách đặt ra các điều luật cơ bản về quyền sở hữu tài sản và hoạt

động thị trường, đặt ra các quy định chi tiết cho hoạt động của các doanh nghiệp.



Nhà nước định hướng cho sự phát triển kinh tế và thực hiện điều tiết các hoạt

động kinh tế để đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định.

Nhà nước đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả. Các doanh nghiệp vì

lợi ích có thể lạm dụng tài nguyên gây ô nhiễm môi trường sống. Vì vậy, Nhà nước phãi

thực hiện các biện pháp nhằm ngăn chặn những tác động này

Đảm bảo cạnh tranh và chống độc quyền để nâng cao tính hiệu quả của thị

trường.

Khắc phục các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, thực hiện công bằng xã hội.

Tăng trưởng kinh tế gắn với cải thiện đời sống nhân dân, tiến bộ và công bằng xã hội.

2.2.3

Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Thành phần KTNN, với những lợi thế về bản chất, cơ cấu tổ chức, có đủ điều kiện

cần thiết và cơ bản để dảm nhận vai trò chủ đạo trong việc đưa nền kinh tế thị

trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ nhất: KTNN dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất do nhà nước đại

diện cho toàn dân làm chủ sở hữu, phù hợp với xu hướng xã hội hóa của lực lượng

sản xuất. Chế độ công hữu góp phần xóa bỏ sự độc chiếm, không còn sự bóc lột và

kẻ bóc lột trong xã hội. Và trong thời đại xã hội chủ nghĩa, các đơn vị kinh tế công

hữu theo đuổi lợi ích kinh tế độc lập hoặc tương đối độc lập nên tồn tại quan hệ

cạnh tranh. Đồng thời, tư liệu sản xuất thuộc sở hữu chung của toàn thể người lao

động, do đó tồn tại quan hệ hợp tác lẫn nhau. Chính vì vậy, cần một bộ phận đứng

ra để điều phối chế độ công hữu này một cách phù hợp và công bằng, đó là kinh tế

nhà nước

Thứ hai: sở hữu vị trí then chốt, xương sống của nền kinh tế, KTNN có khả năng

chi phối, điều tiết hoạt động các thành phần kinh tế khác. Đồng thời, KTNN còn

định hướng và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Mỗi

thành phần kinh tế không hề hoạt động đôc lập mà có sự tương quan, liên kết lẫn

nhau, do đó, để đảm bảo cho quá trình vận động vừa cạnh tranh, vừa tác động với

các thành phần kinh tế khác, KTNN cần tự mình vươn lên phát triển, khắc phục

những khuyết điểm, hoàn thiện hơn để tạo nền tảng trong nền kinh tế quốc dân.

Ngoài ra, KTNN còn đảm bảo cung ứng các dịch vụ về kinh tế và xã hội, tạo điều

kiện và định hướng cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển và ổn định

Thứ 3: ngoài các công cụ, đòn bẩy kinh tế, KTNN còn tận dụng những thiết chế và

hoạt động kiến trúc thượng tần gián tiếp tác động tới các thành phần kinh tế khác.

Đó là nhà nước, đảng phái, giáo hội, đoàn thể xã hội hay những quan điểm chính



trị, pháp quyền, tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật,…Những yếu tố này đóng góp quan

trọng trong việc bảo vệ, giữ vững chế độ kinh tế dưới sự ổn định của tư tưởng

chính trị

Thứ tư: KTNN sớm tiếp thu và ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ, có

nhịp độ phát triển nhanh, góp phần quan trọng vào ngân sách nhà nước. Với vai

trò chủ đạo của mình, KTNN luôn nhanh chóng lĩnh hội, nắm bắt và đưa những

tiến bộ khoa hoc-công nghệ vào nền kinh tế, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức

sang tạo, nghiên cứu, đảm bảo quyền nghiên cứu và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Thứ năm: KTNN là lực lượng nòng cốt hình thành các trung tâm kinh tế, khu đô

thị mới, nắm giữ và đầu tư vào các lĩnh vực quan trọng, nhưng đòi hỏi vốn lớn mà

thời gian thu hồi vốn chậm



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (21 trang)

×