1. Trang chủ >
  2. Lý luận chính trị >
  3. Đường lối cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam >

Thứ tư: KTNN sớm tiếp thu và ứng dụng các thành tựu khoa học-công nghệ, có nhịp độ phát triển nhanh, góp phần quan trọng vào ngân sách nhà nước. Với vai trò chủ đạo của mình, KTNN luôn nhanh chóng lĩnh hội, nắm bắt và đưa những tiến bộ khoa hoc-công nghệ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (270.33 KB, 21 trang )


CHƯƠNG 3:

NƯỚC TA

3.1.



THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở



Thành tựu:



3.1.1. Đất nước ra khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh

Trong vòng 20 năm (1991-2011), tăng trưởng GDP của Việt Nam (VN) đạt

7,34%/năm, thuộc loại cao của khu vực Đông Nam Á nói riêng, ở châu Á và trên

thế giới nói chung; quy mô kinh tế năm 2011 gấp trên 4,4 lần năm 1990.

Năm 2012, GDP tăng 5,03% so với năm 2011. Về sản xuất nông, lâm nghiệp và

thủy sản ước tính tăng 3,4% so với năm 2011; công nghiệp tăng 4,8% so với năm

2011. Xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng 18,3%. Kim ngạch xuất khẩu có thể vượt

qua mốc 100 tỷ USD, tỷ lệ kim ngạch xuất, nhập khẩu so với GDP năm 2011 đã

đạt xấp xỉ 170%, đứng thứ 5 trên thế giới. Vốn FDI tính từ năm 1988 đến tháng 72012 đăng kí đạt trên 236 tỷ USD, thực hiện đạt trên 96,6 tỷ USD. Vốn ODA từ

năm 1993 đến nay cam kết đạt gần 80 tỷ USD, giải ngân đạt trên 35 tỷ USD.

Sự phục hồi và tăng trưởng khá này đã tạo cơ sở vững chắc để quá trình thực hiện

kế hoặc 5 năm (2011-2015) trong những năm sau đạt kết quả vững vàng hơn.

3.1.2. Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại

hóa, gắn sản xuất với thị trường

Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng nông

nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1986 là 46,3%, năm 2013 còn 18,4%; cơ cấu trồng trọt

và chăn nuôi dịch chuyển theo hướng tiến bộ, tăng tỉ trọng các sản phẩm có năng suất và

hiệu quả kinh tế cao, có giá trị xuất khẩu. Tỉ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh

và liên tục gắn với đối mới thiết bị, công nghệ: năm 1988 là 21,6%, năm 2013 lên 38,3%.

Tỷ trọng khu vực dịch vụ đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 43,3% năm 2013.



3.1.3. Thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành

phần, phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế

Kinh tế nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập

trung hơn vào những ngành then. Cơ chế quản lí doanh nghiệp nhà nước được đổi

mới theo hướng xóa bao cấp, thực hiện mô hình công ty, phát huy quyền tự chủ và

trách nhiệm của doanh nghiệp trong kinh doanh. Kinh tế tư nhân phát triển ngành

càng mạnh, huy động ngày một tốt hơn tiềm lực trong nhân dân. Ước tính năm

2013, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 76955 doanh nghiệp, tăng

10,1% so với năm 2012 với tổng vốn đăng ký là 398,7 nghìn tỷ đồng, giảm 14,7%.

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở thành

một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quan trọng

với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế, đóng góp vào ngân

sách nhà nước và tạo việc làm cho nhiều người dân.

3.1.4. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần được

hình thành, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định

Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây dựng và

hoàn thiện; chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng tiếp tục được thể chế hóa

thành luật pháp, cơ chế, chính sách ngày càng đầy đủ, đồng bộ hơn; môi trường

đầu tư, kinh doanh được cải thiện; các yếu tố thị trường và các loại thị trường tiếp

tục hình thành, phát triển; nền kinh tế nhiều thành phần có bước phát triển mạnh.

Với chủ trương tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, VN đang là thành viên của 63 tổ

chức quốc tế, trong đó có ASEAN, WTO, AFTA,… và có quan hệ với hơn 500 tổ

chức phi chính phủ trên thế giới.

3.2.



Những tồn tại và bất cập

Trong khi dựa vào “kinh tế nhà nước là chủ đạo”, xây dựng các tập đoàn kinh tế

thành “quả đấm thép”, là “công cụ ổn định kinh tế vĩ mô” thì thực tế cho thấy tình

trạng kém hiệu quả, lãng phí, thua lỗ, thất thoát của các tập đoàn kinh tế nhà nước

là nguyên nhân dẫn đến đầu tư cao nhưng hiệu quả thấp, nợ công tăng lên, các tập

đoàn độc quyền tăng giá không kiểm soát được (giá điện, giá xăng), chi phí xây

cầu, đường cao tốc cao quá mức so với thế giới, chưa dùng đã hỏng, làm tăng chi

phí, giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.



Việc dùng các tập đoàn kinh tế, công ty nhà nước để bù lỗ, ổn định giá đều quá tốn

kém, không hiệu quả và bị chia chác trong “lợi ích nhóm”. Hoàn toàn có thể trả

chi phí vận tải cho các công ty tư nhân tham gia vận chuyển lên miền núi, vùng

sâu, vùng xa, chi trả chênh lệch tiền điện trực tiếp cho người dân thay vì bù lỗ và

chỉ sử dụng các công ty nhà nước.

Trên thực tế, còn nhiều chương trình, kế hoạch nhà nước hoạt động chưa thật sự

hiệu quả, có sự chồng chéo giữa các chương trình hoạt động thường xuyên của Bộ,

Ngành; sự quản lí của nhà nước còn sơ hở, công tác quy hoạch chất lượng thấp,

chưa phù hợp với tình hình phát triển của xã hội dẫn đến nhiều tồn hại về tiền của

vật chất mang tính liên hoàn,… điển hình là vụ PMU18, đã làm thất thoát nhiều tỉ

đồng. Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều bất cập: quá nhiều người

trong một cơ quan, trình độ năng lực hạn chế, tình trạng quan liêu, tham nhũng còn

tồn tại,… dẫn đến sự yếu kém trong quản lí. Điển hình là việc lạm phát tăng cao

trong những năm vừa qua, đặc biệt là năm 2011, tỉ lệ lạm phát là 18,9%. Một mặt

do tác động của tình hình kinh tế thế giới, mặc khác do việc nới lỏng trong chính

sách tiền tệ, chi tiêu ngân sách lãng phí, đầu tư kém hiệu quả, sức cạnh tranh của

nền kinh tế yếu kém, buông lỏng quản lí thị trường, những hạn chế trong dự báo

biến động kinh tế thị trường và thế giới.

Bên cạnh đó, pháp luật tổ chức và quản lí kinh tế vẫn còn nhiều bất cập:

Thiếu pháp luật trong các lĩnh vực như kế toán, bất động sản.

Ý thức chấp hành pháp luật còn kém: kinh doanh trái phép, trốn thuế.,,,

Pháp luật kinh tế thiếu nhiều cơ chế tự kiểm soát thông qua thị trường, ít mang

tính chất của “luật tư”.

Hệ thống pháp luật về kinh tế của VN còn nhiều khác biệt so với hệ thống pháp

luật thế giới.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (21 trang)

×