1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.66 MB, 109 trang )


Sau khi tìm hiểu các nghiên cứu trên có thể đưa ra một số nhận xét cơ

bản như sau:

- Nghiên cứu về đội ngũ giảng viên được triển khai ở nhiều cơ sở giáo

dục và đào tạo, đặc biệt được quan tâm trên phương diện quản lý giáo dục.

- Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ giảng viên được tập trung và hai

mặt chính: nghiên cứu ở các cấp đào tạo và nghiên cứu ở các sở giáo dục.

- Chưa có nghiên cứu cụ thể về phát triển đội ngũ giảng viên trường

cao đẳng công nghệ Hà Nội.

Như vậy, nghiên cứu về “Phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao

đẳng Công nghệ Hà Nội” là vấn đề mới, cần được nghiên cứu một cách cụ

thể.

1.2. Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.2.1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục

1.2.1.1. Khái niệm quản lý:

Khi nghiên cứu về cơ sở khoa học quản lý tác giả Nguyễn Quốc Chí và

Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ

chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức,

chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. [9, tr.09]

Sơ đồ 1.1: Mối liên hệ các chức năng quản lý

Chỉ đạo



Tổ chức

thực hiện



Thông

tin



Lập kế

hoạch



7



Kiểm tra,

đánh giá



1.2.1.2. Khái niệm quản lý giáo dục

Khi nghiên cứu về Giáo dục, tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản

lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực

lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát

triển xã hội”. [5, tr. 8]

Đồng thời theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang khi nghiên cứu về Quản lý

Giáo dục quan niệm: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục

đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận

hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính

chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà mục tiêu là điểm hội tụ là

quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến,

tiến lên trạng mới về chất” [24, tr. 35].

1.2.2. Khái niệm đội ngũ, giảng viên, đội ngũ giảng viên

1.2.2.1. Đội ngũ

Khái niệm đội ngũ dùng trong các tổ chức xã hội một cách khá rộng rãi

như: Đội ngũ tri thức, đội ngũ thanh niên xung phong, ĐNGV,……Các khái

niệm đó đều xuất phát từ cách hiểu thuật ngữ quân sự về đội ngũ, đó là gồm

nhiều người, tập hợp thành một lực lượng, hàng ngũ chỉnh tề.

Tuy nhiên ở một nghĩa bao quát nhất chúng ta hiểu: Đội ngũ là tập hợp

một số đông người, hợp thành một lực lượng để thực hiện một hay nhiều chức

năng, có thể cùng hoặc khác nhau về nghề nghiệp, nhưng có chung mục đích

xác định; họ làm việc theo kế hoạch và gắn bó với nhau về lợi ích vật chất và

tinh thần.

Như vậy, khái niệm về đội ngũ có thể được hiểu và diễn đạt theo nhiều

cách khác nhau, nhưng đều thống nhất: Đó là một nhóm người, một tổ chức,

tập hợp thành một lực lượng để thực hiện mục tiêu nhất định.



8



1.2.2.2. Giảng viên

Theo điều 70 luật Giáo dục năm 2005 được Quốc hội nước Công hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 qui định rõ.

“Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ

sở giáo dục khác. Nhà giáo giảng dậy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục

phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở các cơ sở giáo dục ĐH,

CĐ nghề được gọi là giảng viên” [25, tr.109].

1.2.2.3. Đội ngũ giảng viên

Đội ngũ giảng viên là tập hợp những nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở

giáo dục cao đẳng, đại học có chung nhiệm vụ, vai trò và trách nhiệm nhằm

thực hiện mục tiêu giáo dục được quy định tại Luật Giáo dục, Điều lệ và quy

chế trường học.

1.2.3. Phát triển đội ngũ giảng viên

1.2.3.1. Phát triển

Trong triết học, theo phép biện chứng duy vật “ Phát triển” là khái niệm

dùng để “khái quát quá trình vận động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức

tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn”. Trong quá trình phát triển sự vật

hiện tượng chuyển hóa sang chất mới, cao hơn; làm cho cơ cấu tổ chức,

phương thức vận động và chức năng của sự vật ngày càng hoàn thiện hơn.

Phát triển được hiểu là sự thay đổi, chuyển biến tạo ra cái mới theo

hướng tích cực, tốt hơn hay nói theo cách khác phát triển là nói xu hướng đi

lên của sự vật, hiện tượng để ngày càng hoàn thiện hơn. Phát triển còn là sự

biến đổi kế tiếp của sự vật, hiện tượng qua các gia đoạn khác nhau. Quá trình

đó đó chính là quá trình thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất, cấu trúc

của sự vật hiện tượng

1.2.3.2. Phát triển đội ngũ giảng viên

Đội ngũ giảng viên là bộ phận cấu thành trong đội ngũ nhà giáo được

quy định trong luật Giáo dục 2005. Công tác giáo dục nghề nghiệp có những



9



đặc thù riêng do đó phát triển đội ngũ giảng vên được hiểu là làm cho đội ngũ

giảng viên có sự thay đổi về số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ giảng

vên; thực chất là có sự thay đổi đội ngũ giảng vên về cả “chất” và “ lượng” để

đáp ứng nhu cầu vừa tăng quy mô và nâng cao chất lượng và hiệu quả trong

giai đoạn mới.

1.3. Các chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo

nói chung, đội ngũ giảng viên các trường CĐ, ĐH nói riêng.

1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo

Nhà giáo dục học vĩ đại Cô-mem-xki đã từng nói: “Dưới ánh mặt trời,

không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học”, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ

khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục…không có cán bộ thì

không nói gì đến kinh tế - văn hóa” [22]. Trong thời hội nhập, những vấn đề

về chất lượng giáo dục, đạo đức người giáo viên đặt ra những vấn đề cần suy

nghĩ và hành động. Chúng ta nhận thấy tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục là

rất rõ và thấu đáo.

“ Không có thầy giáo thì không có giáo dục” [22]. Sinh thời, Chủ tịch

Hồ Chí Minh luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Người luôn dành sự

quan tâm đặc biệt cho đội ngũ giáo viên và những người làm công tác giáo

dục. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: đội ngũ giáo viên luôn giữ một vị trí,

vai trò vô cùng quan trọng, họ là người quyết định sự thành công trong công

cuộc xây dựng và đổi mới nền giáo dục. “ Không có thầy giáo thì không có

giáo dục”, Câu nói đó của Người đã khẳng định vai trò không thể thay thế

của người giáo viên trong sứ mệnh đào tạo thế hệ trẻ chủ nhân tương lai của

đất nước. Song song với sự quan trọng và vẻ vang của người thầy, Chủ tịch

Hồ Chí Minh cũng nói rõ nhiệm vu nặng nề mà đội ngũ nhà giáo luôn không

ngừng rèn luyện, học tập phấn đấu để đạt được như lời căn dặn của Người là:

Các thầy, cô giáo phải cố gắng trở thành một lực lượng mạnh mẽ, đầy

chí tuệ; người giáo viên phải là kiểu mẫu tư tưởng đạo đức, lối làm việc.



10



1.3.2. Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng và

phát triển đội ngũ nhà giáo.

Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của ban bí thư về việc nâng cao

chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý [1].

Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11/01/2005 của Chính phủ về

việc duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ

quản lý giáo dục giao đoạn 2005 – 2010” [23].

1.4. Những yêu cầu cơ bản về đội ngũ giảng viên của một trường Cao

đẳng

1.4.1. Trường cao đẳng trong hệ thống giáo dục quốc dân

Theo Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 do Quốc Hội ban hành ngày

14/06/2005 quy định về hệ thống giáo dục quốc dân; nhà trường và Luật số

44/2009/QH12 do Quốc Hội ban hành ngày 25/11/2009 sửa đổi bổ sung một

số điều của Luật Giáo dục. Trong điều 42 thuộc Mục 4 Giáo dục đại học.

Cơ sở giáo dục đại học bao gồm:

- Trường cao đẳng đào tạo trình độ cao đẳng

- Đại học, trường đaị học, học viện (gọi chung là trường đại học) đào

tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học; đào tạo trìh độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ

khi được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép [25, tr.23].

Yêu cầu về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán

bộ quản lý giáo dục, trong chỉ thị số 40-CT/TW chỉ thị của Ban bí thư ban

hành ngày 15/6/2004 đã ghi: “ Mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ

quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng

bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối

sống lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển

đúng định hướng và hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào

tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [1]



11



1.4.2. Chất lượng đội ngũ giảng viên

Chất lượng ĐNGV là một khái niệm rất rộng, bao gồm nhiều yếu tố

hợp thành như: trình độ của từng thành viên trong đội ngũ, thâm niên, kinh

nghiệm trong công việc của mỗi cá nhân, năng lực và khả năng thích ứng với

công nghệ mới và vị trí, môi trường mới nếu có….Chất lượng của ĐNGV là

tổng hòa của nhiều yếu tố trong mỗi nhà giáo nhưng cơ bản chất lượng đó

được đánh giá ở 2 mặt chính đó là: cần có sự hài hòa giữa các yếu tố chức vụ,

trình độ đào tạo, ngạch bậc và gắn với nội dung công việc đảm nhiệm.

Từ những phân tích nêu trên để đánh giá chất lượng ĐNGV của trường

Cao đẳng cần chú ý đến các yêu cầu cơ bản sau:

Thực tế đạt chuẩn của ĐNGV trong nhà trường. Những biện pháp cần

được thực thi và các điều kiện thực hiện để đạt được mục tiêu mong muốn.

Đối với giáo viên đang công tác thì trình độ có đáp ứng được yêu cầu

giảng dạy trong trường hiện nay hay không? Họ cần phải bồi dưỡng những gì,

cần có chính sách, cơ chế và biện pháp ra sao?

Để có đánh giá chính xác về chất lượng GV thì cần phải phân tích,

đánh giá theo nhân các và năng lực người GV với hệ thống phẩm chất và

năng lực được mô tả theo sơ đồ sau: (sơ đồ 1.2)



12



Sơ đồ 1.2: Sơ đồ nhân cách của đội ngũ giảng viên trong trường cao đẳng

NHÂN CÁCH GV



PHẨM CHẤT



NĂNG LỰC



* Các phẩm chất xã hội

* Các phẩm chất cá nhân

* Các phẩm chất ý chí



* Năng lực xã hội hóa

* Năng lực chủ thể hóa

* Năng lực hành động



NHÂN CÁCH GV TRƯỜNG CAO ĐẲNG



NĂNG LỰC SƯ PHẠM



PHẨM CHẤT NHÀ GIÁO



Phẩm

chất

chính

trị



Đạo

đức

mẫu

mực



Năng

lực

dạy

học



Nếp

sống

giản

dị



Năng

lược

giáo

dục



Năng

lực

tự

hoàn

thiện



- Những phẩm chất cần phải có của GV trường cao đẳng bao gồm:

Đạo đức chính trị, thế giới quan, phẩm chất cá nhân, ý thức kỷ luật, ý

thức tự phấn đấu rèn luyện, độc lập, tự chủ, tính quyết đoán, đấu tranh phên

phán và cung cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp…..

- Yêu cầu về năng lực đối với GV trường cao đẳng được thể hiện bởi khả

năng thích ứng, năng lực sáng tạo, tính linh hoạt trong công việc kết hợp với

khả năng thể hiện tính độc đáo, cái riêng, bản lĩnh cá nhân, đầu óc tổ chức và

sắp xếp, phân chia công việc một cách hợp lý……



13



- Năng lực sư phạm: khả năng truyền đạt, trình bầy, diễn thuyết, biểu

cảm…

- Năng lực giao tiếp khả năng thiết lập, thuyết phục và duy trì mối quan

hệ với tổ chức, cá nhân…..

1.4.3. Số lượng đội ngũ giảng viên

Số lượng giảng viên được xác định trên số lượng HSSV định mức theo

quy định, quy chế đào tạo BGD&ĐT ban hành; căn cứ vào chỉ tiêu đào tạo,

quy mô ngành nghề. Khi tính toán số lượng ĐNGV cần lưu ý quan tâm một

số vấn đề dưới đây:

Công tác tuyển sinh các ngành nghề khác nhau. Có ngành dễ tuyển

HSSV thì số lượng người học nhiều, ngành khó tuyển thì số lượng người học

ít. Theo sự biến động của số lượng tuyển sinh lên qui chế biên chế lớp học (số

HSSV/lớp) sẽ ảnh hưởng đến số lượng giáo viên. Do đó số lượng GV cũng sẽ

có những biến động, thay đổi mà không hoàn toàn tuân theo định mức chung

theo định.

Nếu nhà trường có tham gia tổ chức liên kết đào tạo, hợp tác với các cơ

sở, trung tâm ngoài trường cũng sẽ ảnh hưởng đến số lượng GV khi tổ chức

giảng dạy.

1.4.4. Cơ cấu đội ngũ giảng viên

Khi nói đến cơ cấu đội ngũ giảng viên ta cần nghiên cứu các lĩnh vực

sau:

- Cơ cấu chuyên môn: khi xem xét đội ngũ giảng vên của một trường

thì cơ cấu chuyên môn giúp ta biết tổng thể về sự thừa thiếu GV ở các môn

học, tổ môn và việc phân công số lượng tiết học trong 1 học kỳ, tỷ lệ giảng

dạy của môn học có hợp lý hay không?

- Cơ cấu theo trình độ loại hình đào tạo: là sự phân bố GV theo trình

độ đào tạo, trình độ về nghiệp vụ sư phạm của GV.



14



- Cơ cấu độ tuổi: việc phân chia xác định cơ cấu GV theo độ tuổi là cơ

sở quan trọng để phân tích thực trạng, định hướng phát triển và có chiến lược

lâu dài trong công tác bồi dưỡng, tuyển dụng, bổ sung kịp thời để đảm bảo

tính ổn định và phát triển trong công tác giảng dạy, đào tạo của trường.

Trong quá trình nghiên cứu về cơ cấu lứa tuổi người ta thường dùng

công cụ tháp tuổi để mô hình hóa làm cho việc phân tích được trực quan.

Hiện nay nghiên cứu cơ cấu phân chia độ tuổi người lao động nói chung và cơ

cấu độ tuổi GV nói riêng được phân chia ra làm các khoảng cách như sau:

Từ 20 – 30, từ 31 – 40, từ 41 – 50, từ 51 – 60 và trên 60 tuổi. Nhưng để

phù hợp với điều kiện thực tế đội ngũ giảng vên trường cao đẳng ta phân chia

những khoảng cách tuổi như sau: dưới 30 tuổi, từ 31 – 40, từ 41 – 50, từ 51 –

60 tuổi.

- Cơ cấu dân tộc: cơ cấu dân tộc trong đội ngũ giảng viên được nhắc

đến bởi lý do các dân tộc thiểu số đất nước ta đều có những thói quen tập

quán sinh hoạt, giao tiếp còn những hạn chế nhất định. Tuy nhiên theo số liệu

thống kê của phòng TC – HC cung cấp thì trong tập thể CB, GV, NV nhà

trường không có ai thuộc đối tượng dân tộc thiểu số.

- Cơ cấu giới tính: việc xem xét, phân tích cơ cấu giới tính trong đội

ngũ giảng vên của nhà trường theo phép phân nhóm theo gới tính Nam và Nữ.

Chúng ta đều biết mỗi giới tính đều có những thế mạnh và thế yếu trong một

giới hạn nhất định, nhưng tạo ra được một sự cân bằng tương đối về giới tính

sẽ góp phần tạo ra sự hài hòa trong các lĩnh vực của trường, đặc biện là hài

hòa về văn hóa giao tiếp. Có sự hài hòa trong giới tính nó sẽ có những tác

động tích cực tới kết quả của các hoạt động GD&ĐT của nhà trường.

Tuy nhiên xem xét cơ cấu giới tính trong nhà trường sẽ liên quan đến

nhiều khía cạnh khác nhau, vì vậy phải xem xét một cách đồng bộ như: bồi

dưỡng nâng cao trình độ, chế độ chính sách cho cán bộ giáo viên nữ, thời gian

nghỉ thai sản…. là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch cũng như



15



các hoạt giảng dạy và chất lượng đội ngũ giảng vên. Vì cơ cấu giới tính khác

nhau sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cơ hoạch và biện pháp phát triển đội ngũ

giảng vên.

Khi đánh giá sự phát của đội ngũ giảng vên, chúng ta cần phải căn cứ

vào các tiêu chí cụ thể để làm căn cứ cho việc đánh giá đội ngũ giảng vên đội

ngũ giảng vên đó là: số lượng, chất lượng và cơ cấu của đội ngũ giảng vên.

Đó là 3 yếu tố đặc trưng đó của đội ngũ giảng vên được thể hiện thông qua sơ

đồ hóa sau ( sơ đồ 1.3)

Sơ đồ 1.3: Những tiêu chí đánh giá sự phát triển của đội ngũ giảng vên

ĐẶC TRƯNG CỦA ĐNGV



CHẤT LƯỢNG

CỦA ĐNGV



Trình độ đào

tạo



Sự hài hòa

giữa các yếu tố



SỐ LƯỢNG CỦA

ĐNGV



Số lượng giảng

viên cơ hữu



Số lượng GV

thính giảng



CƠ CẤU CỦA

ĐNGV



Cơ cấu về

chuyên môn

Cơ cấu về trình

độ

Cơ cấu về độ

tuổi

Cơ cấu về giới

tính



1.5. Vai trò của việc phát triển đội ngũ giảng viên

Phát triển đội ngũ giảng viên là công tác đặc biệt quan trọng trong công

tác giáo dục và đào tạo của các trường học, phát triển đội ngũ giảng viên là



16



yếu tố quyết định việc nâng cao chất lượng đào tạo. Trong quá trình phát triển

ĐNGV thì nhân cách của các giảng viên là yếu tố quan trọng đầu tiên. Bởi vì

trong xã hội việc hình thành và triển nhân cách của các thế hệ là kế tiếp nhau,

thế hệ trước có ảnh hưởng trực tiếp đến thế hệ sau. Nhận rõ vai trò quan trọng

của quá trình phát triển nhân cách, Đảng và Bác Hồ coi nhân cách như một

chủ thể xã hội có ý thức trong hoạt động và giao tiếp xã hội.

Theo Phạm Minh Hạc “Con người với tư cách là tột đỉnh tiến hóa của

thế giới sinh vật và tiếp tục phát triển con người thành cá thể rồi cá nhân và

nhân cách. Khi con người là đại diện của loài ta gọi là cá thể”

Hay như nhà tâm lý học K.K. Platonop quan niệm “Nhân cách một con

người với tư cách là tồn tại có ý thức, có lý trí, có ngôn ngữ và năng lực hoạt

động, lao động. Nhân cách không tồn tại bên ngoài xã hội, bởi chỉ có trong xã

hội, trong tập thể mỗi con người mới được hình thành như là một nhân cách

và được thể hiện trong việc tiếp xúc với người khác”. Quan điểm về nhân

cách của K.K.Platonop cũng phù hợp với quan điểm nhân cách con người

Việt chúng ta từ bao đời nay đó là “Tâm” và “Tài”. Hay theo Hồ Chí Minh

“Đức” và “Tài”, phẩm chất và năng lực. Những cụm từ này thường xuyên

được nhắc tới trong cuộc sống và đã được ghi rất nhiều trong các văn kiện,

văn bản của Đảng, Nhà nước như một minh chứng nhắc mội người về nhân

cách.

Như vậy quá trình hướng nghiệp, tuyển chọn, đào tạo, sử dụng, đánh

giá lao động sư phạm ở các cấp trình độ khác nhau với tư cách là nhân cách

nhà giáo của xã hội Việt Nam trong điều kiện hiện nay chúng ta đang tiến

hành sự nghiệp CNH – HĐH đất nước là một vấn đề luôn được dư luận quan

tâm.

Với quan điểm đó việc phát triển đội ngũ nhà giáo nói chung, giảng

viên các trường CĐ, ĐH nói riêng luôn phải là những “khuôn mâu”, những

chuẩn mực về qui phạm đạo đức và nhân cách nhà giáo. Nhà giáo phải là



17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

×