1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2011 – 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.66 MB, 109 trang )


nước đang phát triển đã gặp rất nhiều khó khăn và thử thách. Để hóa giải

những khó khăn đó cách tốt nhất là ưu tiên đầu tư cho công tác giáo dục và

đào tạo đảm bảo chất lượng. GD&ĐT được coi là nền tảng vững chắc để đưa

nhân loại tiến lên và là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia. Vì thế GD&ĐT cần

được quan tâm, ưu tiên hàng đầu, tạo điều kiện tốt nhất về mọi mặt để đào

tạo được nguồn nhân lực, nhân tài phát triển đất nước.

3.1.2. Bối cảnh trong nước

Khi Việt Nam tham gia vào tổ chức thương mại thế giới (WTO), chúng

ta có thị trường thương mại năng động, tạo nhiều cơ hội phát triển. Nhưng

(WTO) cũng có rất nhiều điều kiện khắt khe, như đòi hỏi hành lang pháp lý

thương mại, nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập, đổi mới khoa học kỹ thuật của đất nước và quốc tế. Việt Nam phải tăng cường đầu tư, thúc đẩy

phát triển giáo dục để hội nhập quốc tế về giáo dục, nâng cao chất lượng đào

tạo của chúng ta tiến ngang bằng với khu vực và đạt chuẩn quốc tế. Hiện nay

nguồn nhân lực của Việt Nam rất dồi dào và có nhiều tiềm năng nhưng có

một hạn chế lớn đó là nguồn lao động phổ thông chiếm số đông, tỷ lệ lao

động có chất lượng cao thấp, khoảng 26,7 % (năm 2010). Vì vậy, nhân lực

của chúng ta chưa đáp ứng được thị trường lao động “khó tính” của các nước

trong khu vực và quốc tế. Đây là thách thức lớn trong chiến lược phát triển

kinh tế của đất nước và hội nhập quốc tế. Qua đây có thể thấy chất lượng giáo

dục của Việt Nam còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu người học

và nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cho xã hội. Thực tế đó đỏi hỏi giáo dục

nước nhà cần có những quyết sách, chiến lược phát triển phù hợp thì mới

thoát khỏi bị tụt hậu, đưa đất nước phát triển tiến kịp các nước trong khu vực.

Ngoài ra chúng ta còn gặp phải khó khăn rất lớn trong tương lai không

xa nếu như chính sách GD&ĐT không có chiến lược hành động phù hợp ngay

từ bây giờ, đó là: khi đã hội nhập quốc tế thì sẽ có các trường học quốc tế có

uy tín mở ra ở Việt Nam, họ sẽ cạnh tranh với chúng ta, khi đó các trường đại



64



học và cao đẳng đào tạo không đảm bảo chất lượng sẽ không thể tồn tại là

điều sẽ xẩy ra.

Định hướng CNH – HĐH và hội nhập kinh tế thế giới đòi hỏi phải có

đủ lượng lao động kỹ thuật có chất lượng cao cho các ngành kinh tế, nhất là

các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghệ cao như: tin học, tự động hóa,

điện tử, cơ khí khế tạo, cơ khí chính xác, chế biến xuất khẩu, dịch vị du

lịch,….Vậy trong thời gian tới chúng ta cần đạt được nguồn lao động qua đào

tạo trên 50%, trong đó đảm bảo trên 35% có trình độ từ trung cấp trở lên, có

được như vậy thì các doanh nghiệp mới đủ sức cạnh tranh trên thị trường

trong nước và quốc tế.

Qua những phân tích cơ bản về thị trường lao động cho thấy bối cảnh

trong nước và quốc tế đều đòi hỏi chúng ta phải đổi mới và phát triển giáo

dục, phát triển dạy nghề để đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng

phụ vụ sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, xuất khẩu lao động và hội nhập

quốc tế.

3.2. Đánh giá tác động chung, sự cạnh tranh trong đào tạo và định hướng

phát triển nhà Trường.

3.2.1. Đánh giá tác động chung

Sau 25 năm đổi mới, đất nước đang bước vào thời kỳ phát triển mạnh

với vị thế và diện mạo mới. Kinh tế Việt Nam liên tục phát triển; an ninh,

quốc phòng được giữ vững. Thu nhập bình quân theo đầu người trong 10 năm

qua tăng liên tục từ 450 USD năm 2001 đã lên đến 1.100 USD năm 2010. Cơ

cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng cường công nghiệp và dịch

vụ. Tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trong GDP ngày càng giảm; tỷ

trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng. Đời sống của nhân dân được cải

thiện rõ rệt. Tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể, hiện nay còn khoảng 10 - 11% .

Việt Nam đang tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế với nhịp độ

tăng trưởng kinh tế khá cao, với môi trường chính trị ổn định và mức sống



65



của các tầng lớp nhân dân ngày càng được cải thiện. Việc chủ động tích cực

hội nhập quốc tế, và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Hiệp hội

ASEAN sẽ tiến tới thành cộng đồng ASEAN vào năm 2015, đã tạo thêm

nhiều thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Dự thảo chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020 đã khẳng định:

Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân cách, đạo

đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, mở rộng quy mô giáo dục hợp lý. Theo

đó, cần coi trọng cả ba mặt dạy làm người, dạy chữ, dạy nghề; đặc biệt chú ý

giáo dục lý tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống, lịch sử, truyền thống văn hóa

dân tộc, giáo dục về Đảng,… Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý

giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng.

Mạng lưới các trường cao đẳng, đại học đã được phát triển rộng khắp

trên cả nước, từ chỗ có 337 trường CĐ, ĐH năm 2005 đến nay tổng số trường

CĐ, ĐH đã lên tới trên 400 trường. Bên cạnh đó qui mô đào tạo và các ngành

nghề cũng không ngừng mở rộng.

Quy mô đào tạo ngày càng mở rộng và đa dạng, tốc độ tăng tuyển mới

đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trong những năm gần đây liên

tục tăng. Nhưng công tác tuyển sinh tính trung bình lại không đạt chỉ tiêu đề

ra, cụ thể như sau:

Bảng 3.1: Tổng hợp kết quả tuyển sinh đại học, cao đẳng 5 năm qua.

2006

Chỉ tiêu Quốc hội

duyệt về tuyển

sinh ĐH,CĐ (a)

Tỷ lệ tăng năm sau

với năm trước

Tuyển sinh thực tế

(b)

b/a



2007



2008



2009



2010



2011



268.389 366.660 427.105 502.461 512.800 548.00

10.6%



36.6%



16.4%



17.6%



2%



284.979 354.194 439.064 481.866 507.687

106,3%



96,6%



102,8%



95,9%



99%



Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2011



66



Tổng cộng 5

năm

2.615.415



6.8%

2.067.790

99,7%



Như vậy, tỉ lệ tuyển sinh đại học, cao đẳng thực tế so với chỉ tiêu được

Quốc hội duyệt (do Chính phủ trình Quốc hội) 5 năm qua theo xu hướng:

Vượt chỉ tiêu (2006), không đạt chỉ tiêu (2007), vượt chỉ tiêu (2008), không

đạt chỉ tiêu (2009), không đạt chỉ tiêu (2010) và tổng tuyển sinh 5 năm so với

tổng chỉ tiêu 5 năm đạt 99,7%. Để giả quyết sự thiếu nguồn nhân lực cho thị

trường lao động trong nước và khu vực, trong năm năm chỉ tiêu tuyển sinh đã

tăng 10 lần.

Tuy nhiên qui mô đào tạo vẫn còn nhiều hạn chế cả về số lượng và chất

lượng, thiếu lao động có trình độ kỹ thuật cao, chất lượng đáp ứng tính

chuyên môn hóa cao của nền sản xuất tiên tiến hiện đại. Hiện nay cơ cấu đào

tạo được điều chỉnh theo cơ cấu ngành nghề đáp ứng nhu cầu “nóng” về một

số nhóm ngành nghề trong giai đoạn nhất định, tạo ra sự phát triển “ồ ạt”

chưa có tính định hướng chiến lược trong đào tạo, nó cho thấy sự đa dạng

hóa các hình thức và qui mô đào tạo, thể hiện tính năng động và linh hoạt của

các cơ sở đào tạo. Song mặt hạn chế là không ít, đó là tính hệ thống, tính liên

thông rất thấp, chưa có một chuẩn thống nhất về chất lượng của các hệ đào

tạo, các ngành nghề tương đương giữa các trường trong đào tạo. Vì vậy, cần

có một định hướng phát triển giáo dục mang tính bản nề, có tầm chiến lược

thì mới kiểm soát được chất lượng và tính ổn định của nguồn nhân lực để đáp

ứng mực tiêu CHN – HĐH và hội nhập quốc tế.

Nguyên nhân của những hạn chế trên là do nhận thức chung về phát

triển nguồn nhân lực kỹ thuật chưa được quan tâm đúng mức, quy hoạch và

đầu tư cho đào tạo phát triển ngồn nhân lực chất lượng cao chưa đảm bảo, thể

hiện ở việc chất lượng đội ngũ giảng vên còn nhiều hạn chế, đầu tư trang thiết

bị, cơ sở vật chất chưa đồng bộ, tương xứng, và không thường xuyên. Cùng

với đó là luật pháp, qui chế, cơ chế chính sách trong đào tạo còn nhiều bất

cập và chưa phù hợp. Hệ thống tổ chức, qui hoạch phát triển đào tạo chưa đáp

ứng kịp nhu cầu phát triển xã hội. Sự tăng đầu tư ngân sách Nhà nước cho



67



giáo dục còn thấp, chưa xứng với tốc độ tăng chỉ tiêu đào tạo. Bên cạnh đó

mức thu học phí trong đào tạo còn thấp, mặc dù những năm gần đây mức thu

đã tăng, song với mức khinh phí như vậy các cơ sở đào tạo không đủ bù chi

cho các hoạt động trực tiếp cần để nâng cao chất lượng đào tạo.

Nhìn chung, trong những năm vừa qua công tác GD&ĐT nghề nghiệp

ở nước ta đã dần đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực cho thị trường lao

động, cũng như tạo yếu tố cạnh tranh về chất lượng trong công tác đào tạo của

các trường.

Trường cao đẳng công nghệ Hà Nội là ngôi trường ngoài công lập,

thuộc mô hình nhà trường trong doanh nghiệp lại là trường mới thành lập nên

trong công tác đào tạo còn nhiều khó khăn và cũng không nằm ngoài tình

trạng khó khăn chung của các cơ sở đào tạo trong toàn quốc. Mặc dù trong

thời gian qua trường đã có nhiều cố ngắng, bước đầu đã thu được một số

thành tựu đáng kể trong công tác đào tạo, đặc biệt là trong công tác tuyển

sinh. Song với mong muốn xây dựng nhà trường thành cơ sở đào tạo có uy tín

và đảm bảo chất lượng trước xã hội, thì còn rất nhiều việc phải làm để đáp

ứng nhiệm vụ đặt ra, nhất là thực hiện chiến lược phát triển nâng cấp trường

thành trường đại học

Để thực hiện mong muốn đó, đổi mới hoạt động đào tạo, nâng cao chất

lượng cho người học là một nhu cầu cấp thiết. Một trong nhiều các hoạt động

thực hiện chiến lược phát triển nhà trường đó là: nhà Trường luôn xác định vị

trí, vai trò đội ngũ giảng vên là khâu then chốt đển thực hiện mục tiêu để ra,

coi đó là nhiệm vụ cấp bách và cần thiết không chỉ trước mắt mà còn phục vụ

cho sự nghiệp phát triển lâu dài của nhà trường. Nhận thấy tầm quan trọng đó

nhà trường đã đặt công tác phát tác phát triển đội ngũ giảng vên giai đoạn

2011 – 2015 là nhiệm vụ được quan tâm số một trong nhiều nhiệm vụ khác

được triển khai thực hiện.



68



3.2.2. Sự cạnh trong trong đào tạo

Trong những năm gần đây Nhà nước xây dựng chủ chương Xã hội hóa

Giáo dục, từ chủ chương đó mà trong vài năm gần đây số lượng trường CĐ,

ĐH, trung cấp và các cơ sở đào tạo nghề mới liên tục được mở thêm và tăng

nhanh đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi và cũng không ít khó khăn cho các

trường cũng như cho cả phía người học, đó là:

- Sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các cơ sở đào tạo về chất lượng đào tạo,

chỉ tiêu đào tạo và số lượng thí sinh tham gia học hàng năm, qua đó khẳng

định uy tín và sự phát triển của nhà trường trong xã hội. Xong cũng nhiều

trường hàng năm tuyển sinh không đủ chỉ tiêu dẫn đến quá trình đào tạo mờ

nhạt, thực tế đã có không ít trường phải đóng cửa đào tạo vì không đảm bảo

chất lượng, hoặc không có đủ số thí sinh học để duy trì được các hoạt động

của nhà trường.

- Yêu cầu của thị trường lao động về nguồn nhân lực có chất lượng

ngày một cao, để đáp ứng được yêu cầu đó đòi hỏi các trường phải luôn đổi

mới nội dung kiến thức, chương trình đào tạo sao cho bám sát và phù hợp với

thực tế để đào tạo được nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xã hội. Đây cũng

chính là sự linh hoạt và thích ứng trong cạch tranh về nắm bắt nhu cầu của

người học và xã hội giữa các trường trong quá trình đào tạo.

Để giả quyết sự cạch tranh đó một các triệt để, hiệu quả nhất cũng như

khẳng định chất lượng đào tạo và thương hiệu của trường trước xã hội chính

là chất lượng đội ngũ giảng viên của các trường. Bên cạnh đó thế mạnh về cơ

sở vật chất, tiềm lực kinh tế và bộ máy quản lý hiệu quả là yếu tố có vai trò

rất quan trọng trong cuộc đua đảm bảo chất lượng đào tạo

3.2.3. Định hướng phát triển của Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội

Thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng yêu

cầu thị trường lao động và phát triển của xã hội. Khi phân tích, xem xét các

điều kiện thực tế của trường cũng như các điều kiện tác động của xã hội, Ban



69



Giám hiệu, HĐQT trường đã định hướng xây dựng, phát triển nhà Trường:

Nhà trường đào tạo chất lượng, đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của các doanh

nghiệp và xã hội. Xây dựng nhà trường thành cơ sở đào tạo có uy tín với cơ

sở vật chất, điều kiện giảng dạy và học tập tiên tiến, độ ngũ giáo viên đủ số

lượng, đồng bộ về cơ cấu đảm bảo chất lượng, môi trường học tập tốt. Phấn

đấu nâng cấp trường thành trường đại học vào năm 2015.

3.3. Những nguyên tắc khi xây dựng biện pháp phát triển đội ngũ giảng

viên

3.3.1. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa

Nguyên tắc đầu tiên làm cơ sở cho việc lựa chọn các biện pháp phát

triển đội ngũ giảng viên là phải đảm bảo tính kế thừa. Việc xây dựng biện

pháp mới phải được xem xét dựa trên những biện pháp đã có, tôn trọng những

gì đã có, đang có mà nó còn phù hợp thì cần phát huy, biện pháp nào không

còn phù hợp thì cần phải chỉnh sửa hoặc thay thế. Nói tóm lại chúng ta cần

xây dựng các biện pháp làm sao cho đến khi áp dụng vào chực tế phải đảm

bảo tính ổn định cao nhất và “ít bị xáo trộn nhất”.

Nguyên tắc kế thừa cũng thể hiện sự tôn trọng lịch sử, quá khứ, tránh

hiện tượng phủ nhận sạch trơn quá khứ, đồng thời đảm bảo tính ổn định, từ đó

pháp huy được tiềm năng vốn có của nhà trường, của xã hội; phát huy được ý

thức tự giác, năng lực tiềm ẩn của đội ngũ giảng viên và đảm bảo sự phát trển

bền vững của nhà trường.

3.3.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

Đây là nguyên tắc then chốt nó thể hiện yêu cầu phát triển biện chứng

của sự vật. Chúng ta không thể duy ý chí tự đưa ra các biện pháp phát triển

mà không có căn cứ thực tiễn.

Mỗi biện pháp đưa ra đều phải tính đến các yếu tố phù hợp với điều

kiện hoàn cảnh hiện có hay không. Một biện pháp nếu không phù hợp với



70



hoàn cảnh và các điều kiện thực tiễn của trường thì sẽ không bao giờ thực

hiện được mà chỉ có ở trên lý thuyết mà thôi.

Do đó, tính thực tiễn đòi hỏi biện pháp đưa ra phải gắn với với thực tế,

phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nhà trường, của khu vực và xu

thể phát triển chung của xã hội.

3.3.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

Mục đích cuối của mỗi biện pháp đưa ra là phải đạt được kết quả. Tuy

nhiên kết quả thu được đó cho ta cần đánh giá tính hiệu quả của biện pháp đến

đâu? Một biện pháp được cho là có hiệu quả lớn nhất là khi biện pháp đó tiến

hành triển khai thu được kết quả như nhất định, trong đó “chi phí” để thực

hiện “ít nhất” mà “lợi ích” đem lại nhiều nhất thì đó mới là biện pháp đảm

bảo tính hiệu quả cao. Bên cạnh đó biện pháp đó sau khi thực thi giải quyết

được vấn đề đặt ra mà không làm nảy sinh những vấn đề mới khó khăn.

3.3.4. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi

Tính khả thi là khi đưa ra biện pháp có khả năng thực hiện được. Như

đã phân tích ở trên, một kế hoạch, một ý tưởng vạch ra trong cuộc sống, trong

công việc thì phải luôn có tính phù hợp và chính sự phù hợp nhiều hay ít sẽ là

cơ sở đảm bảo tính khả thi của công việc đó đến đâu.

Tuy nhiên khi phân tích ở góc độ này có thể thấy phù hợp, song đem

xét trong tổng thể thì có thể gặp khó khăn khác. Công tác pháp triển đội ngũ

giảng viên phụ thuộc rất nhiều các yếu tố, chủ quan có, khách quan có; không

chỉ phụ thuộc vào nguồn lực sư phạm mà còn phụ thuộc vào nguồn lực tài

chính, vật chất, địa lý, xã hội,… Vì vậy khi đưa ra một biện pháp cần xem xét

một cách toàn diện trên thực tế thì mới đảm bảo tính khả thi cao.



71



3.3.5. Nguyên tắc đảm bảo tính bền vững

Đây là nguyên tắc được xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng trong quá trình

đổi mới và phát triển. Quan điểm phát triển phải bền vững và bền vững để

phát triển cần được áp dụng triệt để trong suốt quả trình xây dựng và phát

triển nhà trường. Xu hướng phát triển xã hội là luôn đổi mới và thay đổi để

phù hợp, nhưng nếu thiếu đi sự bền vững thì mọi sự thay đổi trở nên bấp bênh

và luôn có nguy cơ đổ vỡ. Nói đến sự bền vững là nói đến tính ổn định, chắc

chắn và lâu dài, đó là nền tảng cho định hướng phát triển nhà trường hiện tại

cũng như tương lai.

3.3.6. Phát triển trên nguyên tắc tính hệ thống và đồng bộ

Đảm bảo tính thống nhất, dân chủ về các chủ trương, chính sách phát

triển đội ngũ giảng viên trong toàn trường, đặc biệt là đội ngũ cán bộ.

Nguyên tắc phát triển phải mang tính đồng bộ đây là nguyên tắc tập

chung sức mạnh, thể hiện sự thống nhất ăn khớp giữa các tổ chức, phòng ban

(đồng bộ về trình độ, cơ cấu, tuổi, giới tính…)

3.4. Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công

nghệ Hà Nội giai đoạn 2011 – 2015.

3.4.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và tính cần thiết

của công tác phát triển đội ngũ giảng viên trong lãnh đạo và giảng viên

toàn trường

3.4.1.1. Mục tiêu

Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên phải được lãnh đạo

nhà trường từ Hội đồng Quản trị, Ban Giám Hiệu, Đảng ủy, Trưởng các

phòng, khoa, đến GV ở các bộ môn luôn ý thức đó là nhu cầu, là trách nhiệm,

là uy tín của đội ngũ giảng viên và là uy tín, thương hiệu của nhà trường

trong công tác thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo chất

lượng cho các doanh nghiệp, cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.



72



Xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên trong nhà trường có ý nghĩa

quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt đối với trường ngoài công lập

như nhà trường, nó là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triển nhà trường

trong trương lai, nhất là trong điều kiện cơ chế thị trường hiện nay. Thực hiện

nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, để khẳng định uy tín,

thượng hiệu và trách nhiệm của Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội trước xã

hội.

3.4.1.2. Nội dung thực hiện

Để làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về tầm quan

trọng, vai trò to lớn của công việc xây dựng và phát triển chất lượng đội ngũ

giảng viên trong tập thể CB, GV, NV toàn trường cần thực hiện các nội dung

sau:

Hội Đồng quản trị, Ban Giám hiệu căn cứ vào điều kiện thực tế từ đó

bàn xây dựng phương hướng, kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên nhà

trường được thể hiện qua nghị quyết HĐQT và các kế hoạch trong năm, kế

hoạch cho từng giai đoạn cụ thể của nhà trường.

Triển khai các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng và Nhà nước về công tác

phát triển đội ngũ giảng viên trong toàn trường một cách triện để.

Triển khai nghị quyết, kế hoạch của Hội đồng quản trị nhà trường, Ban

Giám hiệu về công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên nhà trường.

Thường xuyên tổng hợp và cung cấp các thông tin phản hồi từ phía

HSSV về chất lượng giảng dạy và quản lý lớp của GV về các khoa, tổ môn và

trong các buổi họp giao ban trong lãnh đạo nhà trường.

3.4.1.3. Phương pháp thực hiện

Công tác tuyên truyền trong nhận thức về phát triển đội ngũ giảng viên

trong tập thể GV để đạt hiệu quả cao cần triển khai thực hiện như sau:

Trong hội nghị cán bộ, nhân viên hằng năm ở các cấp, vấn đề xây

dựng, phát triển đội ngũ giảng viên cần được đưa ra thảo luận, đi đến thống



73



nhất, nhận thức được sự cần thiết, nhu cầu khách quan của công tác nâng cao

chất lượng GV và đề ra chỉ tiêu cho từng bộ môn, khoa, từng phòng.

Tổ chức các buổi hội thảo khoa học theo bộ môn, giao cho trưởng

khoa, trưởng bộ môn và các GV có trình độ cao, có kinh nghiệm trình bày,

hướng dẫn trong hội thảo, qua đó khuyến khích, động viên các GV trẻ, GV

còn có hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ đi học tập nâng cao. Bên cạnh đó

các bộ môn căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ nhà trường giao, tổ chức họp, bàn

bạc, thống nhất các ý kiến từ đó đề xuất cấp trên tạo điều kiện cho GV đi học

tập nâng cao những mặt còn đang hạn chế để đảm bảo chất lượng trong công

tác.

Lãnh đạo các cấp và các phòng, khoa trong trường phải luôn coi trọng

nhiệm vụ phát triển đội ngũ giảng viên và là trách nhiệm, là nghĩa vụ chung

không của riêng ai và luôn thể hiện tấm gương về phẩm chất đạo đức, ý thức

học tập cũng như sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình với các GV trẻ mới vào

nghề.

Tập thể lãnh đạo các cấp trong trường là khối thống nhất, kết hợp chặt

chẽ với nhau về tư tưởng và hành động trong công tác phát triển đội ngũ

giảng viên.

3.4.1.4. Điều kiện thực hiện

Công tác nâng cao nhận thức cho các thành viên trong nhà trường về

công tác phát triển GV là yếu tố quan trọng, bước tiếp theo để thực hiện được

công tác phát triển đội ngũ giảng viên là cần nắm chính xác những hoạt động

và sự biến động của đội ngũ giảng viên hiện tại và nhu cầu của tương lai, qua

đó lập kế hoạch cụ thể, chi tiết hàng năm và đến năm 2015, cũng như dự báo

định hướng phát triển đến năm 2020; dựa vào số GV dự kiến tuyển mới hàng

năm và trình độ thực tế của đội ngũ giảng viên cần đào tạo lại, cần bồi dưỡng

để quy hoạch số lượng GV cần thiết cử đi học tập nâng cao ở mỗi năm; đảm

bảo từ nay đến năm 2015 có được đội ngũ GV đủ về số lượng đồng bộ về cơ



74



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (109 trang)

×