1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương II THỰC TRẠNG GIÁO DỤC VÀ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ THỊ XÃ PHÚC YÊN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.46 MB, 91 trang )


Nhân Tăng, Ngô Kính Thần... từ thế kỷ XIV cho đến nay những truyền thống

ấy vẫn được kế tục và phát huy hết sức mạnh mẽ.

Dân số khoảng trên 86.000 người được chia làm 10 đơn vị hành chính xã,

phường trực thuộc. Trình độ dân trí của nhân dân thị xã là khá cao so với mặt

chung của tỉnh, với nhiều lao động đã qua đào tạo Tiến sĩ, Thạc sĩ, Đại học có

trình độ chuyên môn, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH. Đội ngũ cán

bộ lãnh đạo các cấp ngày càng được trẻ hoá, có trình độ, năng động và sáng tạo.

Trên địa bàn ngoài dân tộc Kinh sinh sống là chủ yếu và lâu đời còn có một số

dân tộc ít người như Sán dìu, Tày, Mường, Dao cùng sinh sống; tạo ra một diện

mạo hết sức phong phú đa dạng và giàu bản sắc văn hoá.

2.1.3. Đặc điểm kinh tế

Với những điều kiện tự nhiên và xã hội hết sức thuận lợi của mình, trên

địa bàn thị xã Phúc Yên có hơn 100 cơ quan, trường học, doanh nghiệp, quân

đội... của trung ương, thành phố Hà Nội, của trong và ngoài tỉnh, các liên

doanh có vốn đầu tư của nước ngoài. Trong đó phải kể đến các liên doanh lớn

như TOYOTA, HONDA và KATANACHI, có cụm công nghiệp Phúc Thắng,

cụm du lịch Xuân Hoà - Đại Lải - Ngọc Thanh đã góp một phần lớn và sự

phát triển kinh tế của thị xã Phúc Yên nói riêng và của tỉnh Vĩnh Phúc nói

chung. Ngoài ra thị xã Phúc Yên còn có hệ thống các trường Đại học, Cao

đẳng, TCCN, dạy nghề có nhiều cán bộ khoa học cũng như các doanh nhân có

nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và kinh doanh. Cơ sở hạ tầng đang phát

triển, hệ thống dịch vụ tương đối hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH, phục vụ đời sống nhân dân.

Thị xã Phúc Yên có cơ cấu kinh tế đó là: Công nghiệp - dịch vụ - du lịch

và nông, lâm nghiệp. Từ những lợi thế của mình thị xã Phúc Yên đã và đang có

nhiều nhà đầu tư lớn về các mặt hoạt động như công nghiệp, dịch vụ và du lịch,

vì thế tương lai gần thị xã Phúc Yên sẽ không chỉ là đô thị loại III mà tiến tới còn

phấn đấu để trở thành, thành phố văn minh hiện đại của tỉnh Vĩnh Phúc.



31



2.2. Thực trạng GD-ĐT tỉnh Vĩnh Phúc và thị xã Phúc Yên

2.2.1. Thực trạng GD-ĐT tỉnh Vĩnh Phúc

2.2.1.1. Khái quát về tỉnh Vĩnh Phúc

2



Tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích tự nhiên là trên 1.230 km ; được chia

thành 8 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện; toàn tỉnh có

155 xã, phường, thị trấn; trong đó có 39 xã, thị trấn dân tộc, miền núi.

Dân số Vĩnh Phúc có khoảng 0,97 triệu người, gồm 30 dân tộc anh em

là: Kinh, Tày, Thái, Hoa, Khơ me, Mường, Mông, Dao, Sán Dìu... Trong đó

người Kinh chiếm đa số, dân tộc ít người chỉ chiếm 3,9%, mật độ dân số là

2



792 người/ km .

Vĩnh Phúc có vị trí hết sức thuận lợi để phát triển kinh tế, có nhiều

đường giao thông thuỷ, bộ chạy qua như: tuyến đường sắt liên vận Hà Nội –

Lào Cai – Vân Nam (Trung quốc). Tuyến đường thuỷ Sông Hồng, Sông Lô

và quốc lộ 2 nối liền tỉnh Vĩnh Phúc với thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận.

Với địa lý như vậy, Vĩnh Phúc có có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng

về chính trị, kinh tế và văn hoá trong quá trình phát triển của đất nước, chính

vì vậy Vĩnh Phúc được quy hoạch vào vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Sau hơn 10 năm tái lập (1997-2008), tình hình KT-XH trên địa bàn tỉnh

có những tiến bộ vượt bậc. Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh năm 1997 đạt

89 tỷ đồng, đến năm 2007 đạt 5.480 tỷ đồng (gấp hơn 61 lần). Kinh tế phát

triển tương đối toàn diện, hàng năm có tốc độ tăng trưởng cao, vượt kế hoạch,

năm sau cao hơn năm trước. Trên địa bàn tỉnh hình thành 3 khu công nghiệp

và 7 cụm công nghiệp và công nghiệp được đánh giá cao đứng thứ 7 trong

bảng xếp hạng của ngành công nghiệp trong toàn quốc. Bên cạnh đó, bộ mặt

quê hương từ nông thôn đến thành thị ngày càng đổi mới, đời sống nhân dân

được cải thiện đáng kể.



32



2.2.1.2. Thực trạng GD-ĐT tỉnh Vĩnh Phúc

Thực hiện Nghị quyết TƯ 2 (khoá VIII), Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã có Nghị

quyết số 06-NQ/TU về phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH,

HĐH tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2007-2015, định hướng đến 2020, tạo cơ sở,

hướng đi vững chắc cho giáo dục phát triển mạnh hơn, nhanh hơn. Được sự

quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp, sự phối hợp của các

ngành và nỗ lực cố gắng của toàn thể cán bộ, giáo viên ngành giáo dục Vĩnh

Phúc đã đạt được những tiến bộ quan trọng, vững bước đi lên, góp phần đáng

kể vào thành quả phát triển KT-XH của tỉnh.

Hệ thống giáo dục được củng cố và hoàn thiện, đến nay toàn tỉnh có

178 trường Mầm non, 205 trường Tiểu học, 169 trường THCS, 44 trường

THPT, 9 Trung tâm GDTX, 7 trường Cao đẳng và THCN. Đội ngũ giáo viên

được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Toàn tỉnh hiện có 14.478 giáo

viên, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn ngày càng tăng: Mầm non đạt 89,5%, phổ

thông đạt 99,0%; tỷ lệ giáo viên là Đảng viên trong các nhà trường là 35%.

Đầu tư cho giáo dục năm sau bao giờ cũng cao hơn năm trước; số phòng học

và tỷ lệ phòng học cao tầng ngày một nâng lên, hiện nay số phòng học các

trường trong tỉnh là 7.844 phòng, số phòng học kiên cố chiếm 69,8%; TBDH,

CSVC trường học ngày càng được tăng cường. Thực hiện phương châm

chuẩn hoá, hiện đại hoá các điều kiện dạy học, hệ thống trường đạt chuẩn

Quốc gia hình thành và phát triển mạnh ở các cấp học; đến hết năm học 20072008 có 233 trường đạt chuẩn Quốc gia, chiếm 38% (trong đó: 66 trường

Mầm non, 127 trường Tiểu học, 33 trường THCS và 7 trường THPT).

Chất lượng GD-ĐT có nhiều chuyển biến tích cực: Tỷ lệ học sinh tốt

nghiệp THPT hàng năm đạt 90% trở lên; thống kê kết quả tuyển sinh Đại học,

Cao đẳng năm 2008 Vĩnh Phúc có 6.400 học sinh trúng tuyển, đưa tỷ lệ 213

sinh viên/1 vạn dân (bình quân chung của cả nước là 179 sinh viên/1 vạn

dân); kết quả thi chọn học sinh giỏi Quốc gia lớp 12 năm học 2007-2008 Vĩnh



33



Phúc xếp thứ hai về tỷ lệ học sinh dự thi đạt giải (50 giải/60 học sinh dự thi);

năm 2008 là năm thứ 9 liên tiếp Vĩnh Phúc có học sinh tham dự Olympic khu

vực và Quốc tế, nhiều học sinh đạt giải cao (5 Huy chương Khu vực Châu Á–

Thái Bình Dương, trong đó: 1 Huy chương Vàng, 1 Huy chương Bạc, 3 Huy

chương Đồng và 1 Bằng khen; 9 Huy chương Quốc tế, trong đó: 2 Huy

chương Vàng, 2 Huy chương Bạc, 5 Huy chương Đồng và 2 Bằng khen).

Vĩnh Phúc là tỉnh có hệ thống giáo dục quốc dân hoàn chỉnh; mạng lưới

và qui mô trường lớp phát triển với 612 trường từ Mầm non tới THPT,

TTGDTX và hơn 31 vạn học sinh thuộc các ngành học, cấp học. Loại hình

trường, lớp đa dạng, phân bố hợp lý, phát triển đều ở miền xuôi, miền núi; các

trường dân tộc nội trú được xây dựng và chăm lo, giáo dục không chính qui

lớn mạnh góp phần đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân và đảm bảo công

bằng trong hưởng thụ giáo dục. Giáo dục Mầm non được quan tâm về chất,

gần 2.000 giáo viên Mầm non ngoài biên chế được đóng BHXH, hỗ trợ sinh

hoạt phí hàng tháng; cơ sở vật chất, trường lớp đang được chú trọng và quan

tâm đầu tư xây dựng. Nền nếp, kỷ cương, môi trường nhà trường được chăm

lo. Do những thành tích to lớn nên toàn ngành đã có 5 giáo viên được nhận

phần thưởng cao quý của Bác Hồ; có 1 trường được nhận Huân chương độc

lập Hạng ba, 1 trường được nhận danh hiệu Đơn vị Anh hùng thời kỳ đổi mới;

nhiều cá nhân và tập thể được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động

các loại; 28 cán bộ, giáo viên được phong tặng danh hiệu cao quý "Nhà giáo

ưu tú". Hàng ngàn, cán bộ, giáo viên được công nhận danh hiệu CSTĐ, GV

giỏi cấp tỉnh và được UBND tỉnh tặng Bằng khen.

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh luôn quan tâm chăm lo

giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho GD-ĐT phát triển. Kết quả đạt

được trong những năm vừa qua của GD-ĐT Vĩnh Phúc đánh dấu bước trưởng

thành vượt bậc trên chặng đường phấn đấu bền bỉ, quyết tâm cao của Đảng bộ

và nhân dân Vĩnh Phúc đặc biệt là của nhiều thế hệ CB, GV, nhân viên và học



34



sinh trong các nhà trường. Kết thúc năm học 2007-2008 Vĩnh Phúc đã hoàn

thành vượt mức các chỉ tiêu công tác, năm thứ 5 liên tiếp đã vinh dự được Bộ

trưởng Bộ GD-ĐT tặng Cờ thi đua xuất sắc, là một trong những đơn vị giáo

dục dẫn đầu trong cả nước. Kết quả đó là cơ sở vững chắc để GD-ĐT Vĩnh

Phúc phát triển mạnh mẽ trong thế kỷ XXI.

2.2.2. Thực trạng GD-ĐT thị xã Phúc Yên

2.2.2.1. Tình hình chung

Cùng với sự nghiệp đổi mới của đất nước, Đảng bộ và nhân dân thị xã

Phúc Yên trong công cuộc đổi mới ở địa phương đã đạt được những thành tựu

rất đáng khích lệ, trong đó có sự nghiệp đổi mới giáo dục, đó là: Quy mô

trường, lớp ổn định và chất lượng không ngừng được nâng cao ở tất cả các

cấp học. Tính đến năm học 2007-2008 toàn thị xã có 45 trường, 614 lớp,

19.755 học sinh và được phân bố như sau:

Bảng 2.1: Sự phân bố trường lớp, học sinh các ngành học, cấp học của

thị xã Phúc Yên năm học 2007-2008

Mầm non



Tiểu học



THCS



THPT



TTGDTX



Trường



12



15



12



5



1



Lớp



120



224



158



102



10



Học sinh



3.548



5.990



5.308



4.537



372



Nguồn: Phòng GD-ĐT thị xã Phúc Yên

Qua bảng trên chúng ta thấy: Quy mô GDMN còn quá nhỏ bé, tỷ lệ huy

động trong độ tuổi ra lớp còn thấp so với các cấp học khác của GDPT. Khả

năng đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân ở cấp học THPT mặc dù

đã có cố gắng song vẫn còn hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do đời sống

vật chất và khả năng đáp ứng của nền kinh tế của thị xã còn thấp so với nhu

cầu phát triển của GD-ĐT. Mặc dù vậy, với sự nỗ lực cố gắng của Đảng bộ và

nhân dân thị xã Phúc Yên, sự nghiệp GD-ĐT đã có những bước chuyển biến



35



tích cực dần dần đáp ứng một phần nhu cầu học tập trong nhân dân. Hiện nay

thị xã Phúc Yên đã được công nhận đạt chuẩn quốc gia về PCGDTH-ĐĐT và

đạt chuẩn PCGD THCS; có 100% số xã, phường có hệ thống trường lớp đủ ở

3 cấp học (Mầm non, Tiểu học, THCS); trong đó có 4 xã có 2 trường Tiểu

học, có 1 xã có 3 trường Tiểu học; hệ thống trường chất lượng cao cả thị xã

có 1 trường Tiểu học, 1 trường THCS, 1 trường THPT Bán công. Tỷ lệ học

sinh tốt nghiệp THPT hàng năm đều đạt tỷ lệ cao 95-97,8%. Số lượng học

sinh giỏi ở các cấp học ngày càng tăng. Đội ngũ giáo viên không những đáp

ứng đủ về số lượng mà đang dần được nâng cao về chất lượng và cơ cấu.

CSVC, TTBTH ngày càng được đầu tư và cải thiện không ngừng... đó là

những điều kiện thuận lợi cho GD-ĐT thị xã Phúc Yên phát triển đi lên.

2.2.2.2. Quy mô

* Quy mô trường, lớp:

Thị xã Phúc Yên với địa bàn trải rộng và có 1 xã miền núi, do vậy khi

xây dựng chính sách và lập kế hoạch GD, nghiên cứu khoa học... cần được

thống kê, phân tích để lựa chọn các giải pháp phù hợp. Tuy nhiên sự chênh

lệch về dân trí, KT-XH là không nhiều, do vậy rất có điều kiện để phát triển

GD-ĐT.

Bảng 2.2: Hệ thống trường, lớp phổ thông thị xã Phúc Yên

giai đoạn 2004-2008

Năm học 2003-2004

Cấp học

Tiểu học



2004-2005



2005-2006



2006-2007



2007-2008



Trường Lớp Trường Lớp Trường Lớp Trường Lớp Trường Lớp

11



267



11



248



13



239



14



233



15



224



THCS



9



171



9



164



9



159



12



154



12



158



THPT



5



113



5



108



5



107



5



105



5



102



Tổng số



25



551



25



520



27



505



31



492



32



484



Nguồn: Phòng GD-ĐT thị xã Phúc Yên

Qua bảng thống kê ta thấy:



36



- Số trường ở các cấp học tăng nhẹ đến ổn định: Cấp Tiểu học và

THCS tăng nhẹ (mỗi xã, phường có ít nhất 01 trường của cấp học), cấp THPT

ổn định.

- Từ năm học 2003-2004 đến năm học 2007-2008, số lớp ở các cấp học

đều giảm; số lớp Tiểu học có xu hướng giảm rõ rệt từ 267 xuống còn 224 lớp,

số lớp THCS cũng giảm từ 171 xuống còn 158 lớp và THPT giảm từ 113

xuống còn 102 lớp và có chiều hướng ổn định dần. Sự phân bố trường, lớp ở

các xã, phường trong thị xã dần đi vào ổn định, đó là một kết quả tất yếu của

việc PCGDTH-ĐĐT và PCGD THCS ở cấp học.

Bảng 2.3: Thống kê số lượng học sinh giai đoạn 2004-2008

Năm học



2003-2004



2004-2005



2005-2006



2006-2007



2007-2008



6.665



6.366



6.152



6.092



5.990



THCS



6.199



6.141



5.846



5.596



5.308



THPT



5.182



5.138



5.019



4.825



4.537



Tổng số



18.046



17.645



17.017



16.513



15.835



Cấp học

Tiểu học



Nguồn: Phòng GD-ĐT thị xã Phúc Yên

Qua các số liệu thống kê trên ta thấy:

Tổng thể số học sinh có chiều hướng giảm dần: Từ năm học 2003-2004

đến năm học 2007-2008 giảm từ 18.046 học sinh xuống còn 15.835 học sinh,

qua số liệu này cho ta thấy công tác KHH GĐ đang được quan tâm làm tốt và

có những chuyển biến tích cực trong những năm qua. Song đối với mỗi cấp

học lại ở những mức độ khác nhau, từ năm học 2003-2004 đến năm học 20072008 số học sinh Tiểu học giảm từ 6.665 xuống còn 5.990, số học sinh THCS

cũng giảm từ 6.199 xuống còn 5.308; số học sinh THPT giảm từ 5.182 xuống

còn 4.537.

2.2.2.3. Chất lượng giáo dục phổ thông

GDPT là ngành học chủ yếu, vì vậy chất lượng GDPT là yếu tố rất



37



quan trọng để GD-ĐT phát triển. Trong những năm qua đã có những bước

chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả tốt trong các hoạt động. GD–

ĐT thị xã Phúc Yên là đơn vị luôn được xếp vào loại khá của ngành GD-ĐT

Vĩnh Phúc. Năm học 2007-2008 chất lượng giáo dục đạo đức được quan tâm

và thu được những kết quả tích cực: Tiểu học 100% học sinh được xếp loại

thực hiện đầy đủ; học sinh được xếp loại loại Khá, Tốt của THCS là 93,4%;

của THPT là 89,7%. Chất lượng giáo dục văn hoá, nhất là giáo dục đại trà có

nhiều chuyển biến rõ nét ở các cấp học, tỷ lệ học sinh giỏi ngày càng tăng:

Tiểu học 62,5% học sinh đạt danh hiệu HS giỏi, HS tiên tiến; tỷ lệ học sinh

được xếp loại loại Khá, Giỏi của THCS 57,2%; của THPT 37,4%. Số học sinh

trúng tuyển vào các trường Cao đẳng và Đại học hàng năm chiếm tỷ lệ

khoảng 15% số học sinh dự thi.

Kết quả nêu trên tuy còn khiêm tốn, song GD-ĐT thị xã Phúc Yên đã

và đang chuyển biến theo hướng ổn định về mọi mặt, tăng dần về chất lượng

và hiệu quả. So với mặt bằng chung của tỉnh Vĩnh Phúc thì GD-ĐT thị xã

Phúc Yên được đánh giá là có nhiều tiềm năng phát triển để đứng vào tốp dẫn

đầu của tỉnh về các mặt hoạt động giáo dục, nhưng nó đòi hỏi sự cố gắng

vươn lên mạnh mẽ của đội ngũ CBQL và giáo viên, đặc biệt là sự quan tâm

của Đảng bộ và nhân dân thị xã Phúc Yên đối với sự nghiệp GD-ĐT.

2.2.2.4. Cơ sở vật chất phục vụ công tác dạy và học

CSVC trong những năm vừa qua đã được các cấp uỷ Đảng và chính

quyền các cấp quan tâm, chú trọng và tập trung huy động với nhiều nguồn

vốn khác nhau, nhờ đó các phòng học kiên cố, bàn ghế học sinh và các

TTBTH ngày càng được bổ sung, phục vụ cho nhu cầu dạy và học.

Năm 2007 xây dựng và đưa vào sử dụng 47 phòng học kiên cố với trị

giá gần 5 tỷ đồng; đóng mới 1.721 bộ bàn ghế để trang bị cho các nhà trường

với tổng trị giá hơn 400 triệu đồng; đầu tư mua sắm các TTBTH, tạo cảnh

quan sư phạm ở các nhà trường là hơn 6 tỷ đồng. Trong thời gian vừa qua



38



CSVC các nhà trường đã được cải thiện một bước, các điều kiện dạy và học

đã được đầu tư nâng cấp. Thị uỷ, HĐND, UBND đã có những chủ trương,

nghị quyết, kế hoạch… nhằm quyết tâm đưa sự nghiệp GD-ĐT thị xã Phúc

Yên phát triển đi lên, đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân để tạo

nguồn lao động có chất lượng cao cho xã hội.

Bảng 4: Thống kê phòng học hiện có (tính đến 8/2008)

Kiên cố



Cấp 4



Nứa lá



Số lượng



Tỷ lệ



Số lượng



Tỷ lệ



Số lượng



Tỷ lệ



Mầm non



71



67,6



34



32,4



0



0



Tiểu học



209



94,6



12



5,4



0



0



THCS



118



92,0



10



8,0



0



0



THPT



85



100



0



0



0



0



Tổng số



483



89,6



56



10,4



0



0



Nguồn: Phòng GD-ĐT thị xã Phúc Yên

2.2.2.5. Đội ngũ giáo viên

Đây là đội ngũ quyết định tới chất lượng GD-ĐT, đối với thị xã

Phúc Yên đội ngũ này luôn được quan tâm và bồi dưỡng về trình độ chuyên

môn, nhiệm vụ góp phần nâng cao chất lượng GD-ĐT.

Bảng 2.5: Thống kê số lượng giáo viên phổ thông thị xã Phúc Yên

giai đoạn 2004-2008

Năm học

Cấp học



2003-2004 2004-2005 2005-2006 2006-2007 2007-2008



Tiểu học



338



335



331



324



329



THCS



364



347



355



360



356



THPT



102



108



127



138



147



Tổng số



804



790



813



822



832



Nguồn: Phòng GD-ĐT thị xã Phúc Yên



39



Qua bảng thống kê số liệu trên, chúng ta thấy có sự ổn định dần của đội

ngũ giáo viên, đặc biệt là đội ngũ giáo viên Tiểu học và THCS. Có thực tế

này là do quy mô học sinh ngày càng giảm dần và đi vào thế ổn định. Tuy

nhiên, đội ngũ giáo viên ở các cấp học hiện nay đang có tình trạng vừa thừa,

lại vừa thiếu, cơ cấu bộ môn không đồng bộ; ở Tiểu học thừa giáo viên văn

hoá nhưng lại thiếu giáo viên dạy Âm nhạc, Mỹ thuật, Ngoại ngữ, Tin học;

THCS và THPT giáo viên Ngữ văn thừa nhiều trong khi đó một số môn như

Âm nhạc, Mỹ thuật, Ngoại ngữ, Tin học, TD, GDCD… lại thiếu. Có tình

trạng trên là do trong những năm vừa qua chúng ta chưa chú ý tới công tác

đào tạo ở các trường sư phạm, mà nhất là việc xây dựng kế hoạch cho nhu cầu

đào tạo thiếu đồng bộ, nhất quán diễn ra ở nhiều nhà trường.

2.2.2.6. Đánh giá chung về GD-ĐT thị xã Phúc Yên hiện nay

Thực hiện Nghị quyết TW2 (khoá VIII) của Đảng và định hướng chiến

lược phát triển giáo dục trong thời kỳ CNH–HĐH, dưới sự chỉ đạo của các

cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể, sự

chăm lo xây dựng của toàn dân và nỗ lực của toàn ngành, sự nghiệp GD-ĐT

thị xã Phúc Yên đã đạt được những tiến bộ quan trọng, quy mô giáo dục

không ngừng được mở rộng, hệ thống GD-ĐT phát triển đồng bộ và hoàn

chỉnh; các loại hình đào tạo được đa dạng hoá, chất lượng giáo dục từng bước

được nâng cao. Những kết quả đạt được của ngành GD-ĐT đã góp phần đáng

kể vào sự phát triển KT-XH của thị xã Phúc Yên.

Hiện nay các cấp học đã và đang đi vào thế ổn định phát triển cả về

chất lượng, quy mô và hiệu quả. Tỷ lệ huy động trẻ ra lớp 1 hàng năm chiếm

từ 99,5% đến 99,7%. Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường đạt

99,8%. Tính đến tháng 8/2008 đã có 18 trường đạt chuẩn Quốc gia, trong đó:

7/12 trường Mầm non, 8/15 trường Tiểu học, 3/12 trường THCS.

Chất lượng giáo dục không ngừng được nâng lên, chỉ tính riêng năm

học 2007-2008 ở 2 cấp Tiểu học và THCS đã có: Học sinh giỏi cấp Thị xã có



40



138 học sinh, học sinh giỏi cấp Tỉnh có 102 học sinh. Ngoài ra, có 8/8 học

sinh Tiểu học dự thi Trạng Nguyên nhỏ tuổi cấp Tỉnh đều đạt giải, trong đó

có 1 giải Trạng Nguyên; dự thi Trạng Nguyên nhỏ tuổi toàn quốc 1 học sinh

đạt giải Thám Hoa. Dự thi sử dụng máy tính bỏ túi cấp Tỉnh có 7 học sinh

THCS đạt giải. Dự thi Tin học trẻ không chuyên toàn quốc học sinh THCS

(Bảng B) đạt giải Nhất đồng đội…

Công tác XHH GD được đẩy mạnh và tăng cường. Công tác QLGD đã

từng bước được đổi mới góp phần nâng cao hiệu quả GD-ĐT trên địa bàn.

Đội ngũ cán bộ giáo viên được quan tâm xây dựng đủ về số lượng và được

bồi dưỡng nâng cao từng bước về chất lượng. CSVC-TTBTH được chú trong

đầu tư và đang từng bước đáp ứng những yêu cầu dạy và học; tổ chức các

hoạt động giáo dục theo hướng đổi mới chương trình và nâng cao chất lượng

giáo dục toàn diện. Công tác tổ chức cán bộ, hoạt động thanh tra kiểm tra

được đổi mới và tiến hành thường xuyên có hiệu quả góp phần nâng cao chất

lượng QLGD.

Tuy nhiên tỷ lệ huy động trẻ của Nhà trẻ và các lớp Mẫu giáo 3 tuổi, 4

tuổi còn thấp so với yêu cầu. Công tác xây dựng CSVC tuy đã có nhiều

chuyển biến nhưng ở một số nhà trường chưa được quan tâm đầu tư đúng

mức nhất là với GDMN. Đội ngũ CBQL, giáo viên tuy đủ về số lượng nhưng

chưa thật sự mạnh về chất lượng. Chất lượng học sinh giỏi tuy có khởi sắc

nhưng chưa tương xứng với tiềm năng về GD-ĐT của thị xã, số giải cao trong

các kỳ thi học sinh giỏi còn chưa nhiều.

Nguyên nhân của các tồn tại trên là công tác tham mưu của các cấp

quản lý đối với các cấp uỷ và chính quyền chưa thật sự tích cực và đạt hiệu

quả cao. Nhận thức của một bộ phận CBQL và giáo viên chưa bắt kịp với yêu

cầu đòi hỏi của sự nghiệp GD-ĐT trong giai đoạn mới. Một số xã, phường

kinh tế còn nghèo, kinh tế phát triển chậm nên việc đầu tư cho GD-ĐT còn có

những hạn chế.



41



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

×