1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGOẠI NGỮ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.56 MB, 119 trang )


Ở phương Tây cổ đại, Xôcrat (TK4 – 3 TCN) chủ trương phải biết cách

sử dụng con người; Platon (426 – 347 TCN) chủ trương muốn cai trị dân thì

phải vì dân. Đầu thế kỷ 16, Nhà giáo dục – văn hoá J.A Komenxki (1592 –

1670) với những tác phẩm “Khoa học sư phạm”, “Nhà trường mẫu giáo”,…

đã chủ trương: Giáo dục cho mọi người, dạy chữ- dạy người, phương pháp

mẫu giáo: Học mà chơi, chơi mà học.

Thời kỳ phong kiến ở Việt nam, tư tưởng quản lý cũng xuất hiện từ lâu:

thời Tiền Lê hướng vào “Pháp trị”, thời nhà Lý hướng vào “Đức trị”; thời hậu

Lê kết hợp Đức trị và Pháp trị. Chẳng hạn, Lý Công Uẩn nêu “Trên vâng

mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi”. Trần Minh Tông cho

rằng “Hết thảy sinh dân đều là đồng bào của ta, nỡ lòng nào để cho bốn bề

khốn cùng”. Nguyễn Trãi nhấn mạnh “Chở thuyền là dân, mà lật thuyền cũng

là dân”, hoặc “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Còn Lý Thường Kiệt thì

khẳng định" Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân”…

Từ giữa thế kỷ thứ 18 đến nay, cùng với sự phát triển của nền sản xuất

công nghiệp, khoa học quản lý cũng phát triển, xuất hiện các học thuyết, các

trường phái quản lý mới. Chẳng hạn, Frederick Winslow Taylor (1856 –

1915) với thuyết quản lý khoa học; Henry Fayol (1841 – 1925) với thuyết

quản lý hành chính; Mary Parker Follet ( 1868- 1933), Elton Mayor (18801949) thiên về trường phái quản lý theo quan hệ con người; G.B.Watson

(1878- 1958), Hugo Munsterberge (1683- 1916); Abraham Maslow (19081970); Douglas Mc.Gregor (1906-1964) với thuyết quản lý theo hành vi. Về

thuyết quản lý tổ chức phải kể đến Chester Irving Barnard (1886-1961). Về

các thuyết văn hoá quản lý có thuyết X của William Ouchi, và đại biểu của

trào lưu này còn phải kể đến Thomas J. Peters, Robert H.Waterman,… Trên

nền tảng khoa học quản lý chung, khoa học quản lý giáo dục ở thế giới và

Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể.

Ở nước ngoài, từ thế kỷ 18 đã xuất hiện những công trình về thực tiễn

hoạt động giáo dục của K.Raumer (1842, Đức), về cải cách giáo dục của R.H.

5



Quych (1868, Mỹ). Từ giữa và cuối thế kỷ 19, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên

cứu những vấn đề cụ thể về giáo dục, trong đó đề cập tới quản lý giáo dục

như K.Ker, A.Lavrôpxki, M.I.Calinin, N.K. Crupxcaia, A.X.Makarenco…

Ở Việt Nam, từ đã lâu, một số tư tưởng, quan điểm về giáo dục đã được

các sử gia đề cập tới trong các công trình nghiên cứu của mình như Ngô Sĩ

Liên (TK 15), Lê Quý Đôn(TK18). Trong nửa đầu thế kỷ 19, Phan Huy Chú

đã nghiên cứu chi tiết và có hệ thống về công việc điều hành, tổ chức thi cử

trong giáo dục. Từ 1945, sau Cách mạng Tháng 8 thành công, nhiều nhà

nghiên cứu và hoạt động sư phạm đã đề cập tới quản lý giáo dục, đặc biệt như

Hồ Chủ Tịch trong “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục”, như Thủ tướng

Phạm Văn Đồng tại một hệ thống những bài viết, bài nói về giáo dục.

Tiếp theo đó, có những tổng kết lí luận và kinh nghiệm thực tiễn về

phát triển, quản lý giáo dục theo một số giai đoạn như Nguyễn Văn Huyên

với cuốn “Quá trình 16 năm xây dựng giáo dục – Hà nội, 1961”, Nguyễn

Khánh Toàn với “20 năm xây dựng giáo dục – Hà nội, 1965”, Nguyễn Lân

với “Lịch sử giáo dục thế giới –Hà nội, 1958”…

Trưởng thành, lớn mạnh theo cùng sự phát triển kinh tế – xã hội,

khoa học quản lý giáo dục Việt Nam dần dần hoàn thiện, tiếp cận với thế

giới. Trong quá trình đó, đã xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu quản lý giáo

dục như Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm

Minh Hạc, Lê Sơn,…

Vào cuối thế kỷ 20, bước sang đầu thế kỉ 21, xuất hiện những nhà

nghiên cứu kết hợp thực tiễn giáo dục ở Việt nam với những yếu tố hiện đại

như Đặng Quốc Bảo với “Về phạm trù nhà trường và nhiệm vụ phát triển nhà

trường trong bối cảnh hiện nay”, " Quản lý giáo dục – nhiệm vụ và phương

hướng”, NXB Đại học – Hà nội, 1996; Nguyễn Quang Uẩn chủ biên “Tâm lý

học đại cương”, NXB Giáo dục, 1999; Nguyễn Văn Lê với" Khoa học quản

lý” 1994; Trần Quốc Thành với “Bài giảng đại cương về quản lý giáo dục”…



6



Hiện nay, trong quá trình xây dựng và phát triển, khoa học quản lí giáo

dục của ta đã có những cơ sở phương pháp luận. Đó là một” bộ tứ” gồm có:

- Hệ thống các quan điểm, quy luật triết học Duy vật biện chứng, Duy

vật lịch sử Mác-Lênin

- Các quan điểm, đường lối, chính sách xây dựng, phát triển kinh tế- xã

hội nói chung, phát triển sự nghiệp giáo dục nói riêng cả Đảng, Nhà nước, của

Hồ Chủ Tịch.

- Các tiếp cận xuất phát từ những lí thuyết và thực tiễn khoa học phù

hợp với yêu cầu phát triển giáo dục và phát triển khoa học quản lý giáo dục.

- Các qui luật đặc thù của giáo dục, phản ánh những lĩnh vực hiện thực,

cần thiết cho lí luận và hoạt động quản lý.

Riêng về “các tiếp cận” trong quản lý giáo dục, chúng ta đã gặp các

tiếp cận chủ yếu như: tiếp cận hệ thống, tiếp cận phức hợp, tiếp cận chức

năng, tiếp cận điều khiển Xibecnetic, tiếp cận đồng bộ,… Gần đây, trong cơ

chế kinh tế thị trường, người ta chú ý, quan tâm vận dụng thêm những tiến

cận mới, hiện đại trong quản lí giáo dục: Tiếp cận quản lý chất lượng tổng

thể, tiếp cận quản lý trên nền tảng nhà trường, tiếp cận quản lý Marketing

trong giáo dục…

Trong hướng đề tài nghiên cứu về quản lý dạy học trong nhà trường

hiện nay, chủ yếu tập trung vào quản lý dạy cho trong trường phổ thông ( Ví

dụ: Thực trạng và các biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất

lượng dạy học ở trường THCS huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá/ Phạm Bá

Phong ĐHSPHN, 1999 ), còn hướng quản lý dạy học ngoại ngữ trong trường

không chuyên ngoại ngữ rất ít. Đây chính là lí do khiến tác giả chọn nghiên

cứu đề tài này.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Khái niệm về quản lý

Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện cùng với xã hội loài người,

được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội. Chính sự phân công

7



và hợp tác lao động để có hiệu quả nhiều hơn, năng xuất cao hơn trong công

việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra và chỉnh lý…tức

là phải có người đứng đầu- người quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là

nghệ thuật bởi quản lý nghiên cứu các luật lệ, các nguyên tắc và phải linh hoạt

trước nhiều tình huống, phải đương đầu với cách ứng xử của con người:

Thương lượng, thuyết phục, vận động sao cho đạt tới mục tiêu. Có rất nhiều

định nghĩa khác nhau về quản lý, trong phạm vi nghiên cứu này, luận văn chỉ

đề cập đến một số định nghĩa tiêu biểu, có liên quan đến hoạt động quản lý.

- C. Mác viết : “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến

hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu cần có một sự chỉ đạo để điều hoà

sự hoạt động…Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn

nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [1, tr.29,30]

- F. W.Taylor khẳng định: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn

muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đó hoàn thành công việc

một cách tốt nhất và rẻ nhất” [36, tr.89]

- Còn H.Koontz thì lại khẳng định:" Quản lý là hoạt động thiết yếu bảo

đảm sự nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức”. Mục

tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể

đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá

nhân ít nhất”

Ở Việt Nam có nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý, có thể nêu ra

một số định nghĩa như sau:

- Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý

lẫn khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ

thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện

pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự nghiệp phát triển của

đối tượng.



8



- Hoạt động quản lý còn được định nghĩa như là quá trình đạt đến mục

tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ

đạo và kiểm tra.

- Quản lý là quá trình lập kế hoạch tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công

việc các thành viên thuộc hệ thống đơn vị và sử dụng các nguồn lực phù hợp

để đạt được các mục tiêu quản lý đã định.

Thuật ngữ quản lý trong tiếng Anh gọi là “management”. Nhưng khi

được dịch sang tiếng Việt có nhiều người hiểu và sử dụng với nghĩa là quản

trị. Tuy nhiên, người ta hay sử dụng “management” với ý nghĩa là quản lý

hơn cả vì quản lý là thật ngữ được dùng chỉ việc điều khiển nói chung.

Các định nghiã trên tuy nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng điểm

chung thống nhất đều coi quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm

đạt tới mục tiêu xác định.

Như vậy, quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu và không thể thiếu

được trong xã hội, đời sống xã hội, đời sống của mỗi cá nhân. Hiện nay, hoạt

động quản lý được người ta định nghĩa rõ hơn, cụ thể hơn:" Quản lý là quá

trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận động các hoạt động chức

năng như: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”.

1.2.2. Các chức năng của quản lý

Quản lý phải thực hiện nhiều chức năng khác nhau và cũng có nhiều

quan điểm khác nhau về việc phân chia các chức năng quản lý. Tuy nhiên,

ngày nay người ta đều thống nhất hoạt động quản lý có bốn chức năng cơ bản

sau: Kế hoạch hoá, Tổ chức, Chỉ đạo, và Kiểm tra.

* Kế hoạch hoá

Kế hoạch hoá là một chức năng của quản lý. Kế hoạch hoá có nghĩa xác

định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con

đường biện pháp, cách thức để đạt mục tiêu, mục đích đó. Chức năng kế

hoạch hoá có ba nội dung cơ bản:

Xác định, hình thành mục tiêu ( phương hướng) đối với tổ chức.

9



Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn

lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này.

Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục

tiêu, xác định các hoạt động ưu tiên.

* Tổ chức

Tổ chức là qúa trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành

viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành

công kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Chính nhờ sự tổ

chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn

vật lực và nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào người

quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả.

Theo Ernest Dale, chức năng tổ chức gồm năm bước:

Bước một: Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt

được mục tiêu của tổ chức.

Bước hai: Phân chia toàn bộ công việc thành những nhiệm vụ để các

thành viên hay các bộ phận ( nhóm) trong tổ chức thực hiện một cách thuận

lợi và hợp lôgic. Đây là bước phân công lao động.

Bước ba: Kết hợp các nhiệm vụ một cách lôgic và hiệu quả. Đây là

bước phân chia bộ phận.

Bước bốn: Thiết lập một cơ chế điều phối. Sự liên kết hoạt động của

các cá nhân, các nhóm, các bộ phận một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện để đạt

được các mục tiêu của tổ chức một cách dễ dàng và hiệu quả hơn.

Bước năm: Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cấu trúc tổ chức và tiến

hành những điều chỉnh cần thiết.

* Chỉ đạo

Chỉ đạo hay lãnh đạo bao gồm việc liên kết, liên hệ với người khác và

động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của

tổ chức. Hiển nhiên, việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch



10



và thiết kế bộ máy đã hoàn tất mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai

chức năng trên.

Chỉ đạo tập trung vào các ưu tiên sau:

Nhận thức lãnh hội quan điểm, xây dựng tầm nhìn, lý tưởng, sứ mệnh

của hệ thống.

Làm sáng tỏ được thực trạng vận động của hệ thống, phân tích các mâu

thuẫn trong quá trình phát triển, phát hiện ra nhân tố mới.

Tổng kết được quy luật, xu thế phát triển của hệ thống.

Đề xuất các phương án chiến lược phát triển hệ thống.

* Kiểm tra

Kiểm tra là chức năng cuối cùng trong bốn chức năng cơ bản của quản

lý. Kiểm tra đề cập đến các phương pháp và cơ chế được sử dụng đề đảm bảo

rằng các hành vi/ hoạt động và thành tựu phải tuân thủ, phù hợp với mục tiêu,

kế hoạch và chuẩn mực của tổ chức. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng

nói:" Quản lý mà không kiểm tra thì coi như không quản lý”. Thông qua kiểm

tra một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả

hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Một

kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng

thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn.

Kiểm tra trong hoạt động quản lý là một nỗ lực có hệ thống nhằm xác

định những chẩn mực (tiêu chuẩn) thành tựu khi đối chiếu với các mục tiêu đã

được kế hoạch hoá; thiết kế một hệ thống thông tin phản hồi; so sánh thành

tựu hiện thực với các chuẩn mực đã định; xác định những lệch lạc có và đo

lường mức độ của chúng; tiến hành những hành động cần thiết để đảm bảo

rằng những nguồn lực của tổ chức được sử dụng một cách hiệu quả để đạt

được mục tiêu của tổ chức.

Theo Rorbert J.Mockler, kiểm tra có bốn bước:

Bước một: Xác định mục tiêu chuẩn ( chuẩn mực) và phương pháp đo

lường thành tựu. Các tiêu chẩn thành tựu phải đủ tường minh để các thành

11



viên liên quan lĩnh hội được một cách dễ dàng, thống nhất. Phương pháp đo

lường chuẩn mực phải đảm bảo so sánh chính xác và công bằng giữa các

thành tựu với chuẩn mực đặt ra.

Bước hai: Đo lường thành tựu, là một quá trình lặp đi lặp lại và diễn

biến liên tục, với tần suất thực hiện phụ thuộc vào các dạng hoạt động và các

cấp độ quản lý khác nhau.

Bước ba: Xác định mức độ đáp ứng phù hợp của thành tựu so với tiêu

chuẩn

( chuẩn mực).

Bước bốn: Tiến hành những hoạt động uốn nắn, sửa chữa khi phát hiện

thấy những sai lệch thành tựu so với chuẩn mực (tiêu chuẩn) đề ra. Các nhà

quản lý có thể điều chỉnh các sai lệch bằng cách thay đổi các hoạt động của

các cá nhân thành viên hay các nhiệm vụ hoạt động của một bộ phận trong tổ

chức, hoặc là sửa đổi lại các chuẩn mực thành tựu nếu thấy chúng không thể

nào thực hiện được.

Tóm lại, bốn chức năng của quản lý trong định nghĩa về quản lý theo

quan điểm hiện nay được phân tích trên đây có quan hệ hữu cơ, biện chứng

với nhau. Cả bốn chức năng trên đều được triển khai đồng thời khi tiến hành

hoạt động quản lý. Bất cứ người quản lý nào cũng phải làm công việc lập kế

hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.

1.2.3. Biện pháp quản lý

* Biện pháp

Theo từ điển tiếng Việt:" Biện pháp là cách làm, giải quyết một vấn đề

cụ thể”. Tiếng Anh gọi là “Measure” : hành động để thực hiện một mục đích.

Biện pháp là một bộ phận của phương pháp, điều đó có nghĩa là để sử dụng

một phương pháp nào đó phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau.

Ví dụ: biện pháp so sánh có thể dùng trong phương pháp thuyết trình và

phương pháp vấn đáp.

* Biện pháp quản lý



12



Biện pháp quản lý ( managerial measure) là cách quản lý, cách giải

quyết những vấn đề có liên quan đến quản lý.

Như vậy, biện pháp quản lý có tác động đến hoạt động dạy học ngoại

ngữ là cách làm, giải quyết liên quan đến việc kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo

và kiểm tra công việc dạy học ngoại ngữ nhằm đạt được mục tiêu của dạy học

ngoại ngữ và góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.

1.3. Quản lý giáo dục, quản lý quá trình dạy học

1.3.1. Giáo dục

Giáo dục với tư cách là một hiện tượng xã hội, có thể và cần được xem

xét theo 2 mặt: giáo dục là một tổ chức, một thể chế: và giáo dục là một dạng

hoạt động, một quá trình.

Thuật ngữ giáo dục có thể hiểu theo 3 phạm vi rộng- hẹp khác nhau:

Theo nghĩa rộng nhất, giáo dục là một quá trình hình thành và phát

triển nhân cách con người, dưới tác động tự giác và tự phát của xã hội.

Theo nghĩa thông thường: giáo dục là quá trình đào tạo, hình thành

nhân cách một cách có mục đích, có tổ chức, và bao gồm quá trình truyền thụ

học vấn cùng quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp.

Theo nghĩa hẹp : giáo dục là quá trình bồi dưỡng, rèn luyện những tình

cảm, thói quen, nét tính cách….

Quá trình truyền thụ học vấn chỉ là quá trình trang bị tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo, thái độ.

Liên quan đến đề tài mà chúng ta đang nghiên cứu về quản lý hoạt

động dạy học môn ngoại ngữ, thuật ngữ giáo dục theo nghĩa thông thường sẽ

được chú ý vận dụng.

1.3.2. Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục, là một loại hình của quản lý xã hội, là quá trình vận

dụng những nguyên lý, phương pháp, khái niệm… của khoa học quản lý vào

một lĩnh vực hoạt động cụ thể, một ngành chuyên biệt, đó là ngành giáo dục.

Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục:



13



Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới

khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới

kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất. [19, tr.12]

Quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức, được định hướng của

chủ thể quản lý lên các thành tố của các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện

mục tiêu của giáo dục một cách hiệu quả. [19, tr.12]

Quản lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng có ba đối

tượng quản lý cơ bản là quản lý con người và các mối quan hệ liên nhân cách;

quản lý toàn bộ quá trình giáo dục và dạy học diễn ra trong nhà trường cùng

các mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình học sinh và cộng đồng xã hội

nơi trường đóng; quản lý các điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện, nguồn nhân

lực cho dạy và học. [15, tr.1]

Nói chung, quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách

thể quản lý trong lĩnh vực hoạt động giáo dục. Nói đầy đủ hơn của định nghĩa

này, QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật

của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục

quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo

nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực

lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội.

Hệ thống giáo dục là một hệ thống xã hội. QLGD cũng chịu sự chi

phối của các quy luật xã hội và tác động của QL xã hội. QLGD có những đặc

trưng chủ yếu sau:

+ Sản phẩm giáo dục là nhân cách, là sản phẩm có tính đặc thù nên

QLGD phải ngăn ngừa sự dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm

cũng như không được phép tạo ra phế phẩm.

+ QLGD nói chung, quản lý nhà trường nói riêng phải chú ý đến sự

khác biệt giữa đặc điểm lao động sư phạm so với lao động xã hội nói chung.



14



+ Trong QLGD, các hoạt động quản lý hành chính nhà nước và quản lý

sự nghiệp chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không thể tách

rời, tạo thành hoạt động QLGD thống nhất.

+ QLGD đòi hỏi những yêu cầu cao về tính toàn diện, tính thống nhất,

tính liên tục, tính kế thừa, tính phát triển…

+ QLGD phải thấm nhuần quan điểm quần chúng vì giáo dục là sự

nghiệp của quần chúng.

Dựa trên phạm vi quản lý, người ta chia quản lý giáo dục ra hai loại, đó là:

+ Quản lý hệ thống giáo dục: QLGD được diễn ra ở tầm vĩ mô, trong

phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương ( tỉnh, thành phố).

+ Quản lý nhà trường: QLGD ở tầm vi mô, trong phạm vi một đơn vị,

một cơ sở giáo dục.

1.3.3. Quản lý quá trình dạy học

Quản lý quá trình dạy học là quản lý việc chấp hành những quy định, quy

chế về hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động đó được thực hiện một

cách nghiêm túc, tự giác có chất lượng và có hiệu quả. Trong quản lý quá trình

dạy học giáo viên vừa là khách thể quản lý nhưng cũng vừa là chủ thể quản lý của

quá trình dạy học vì giáo viên vừa có nhiệm vụ giảng dạy – giáo dục sinh viên,

đồng thời họ phải học tập, rèn luyện, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng để nâng cao trình

độ về mọi mặt nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động giảng dạy – giáo dục

của mình. Sinh viên vừa đối tượng vừa là chủ thể của quá trình đào tạo đó.

1.4. Hoạt động dạy học

1.4.1. Học là gì?

Học là một hoạt động với đối tượng, trong đó học học sinh là chủ thể,

khái niệm khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh.

Học là quá trình tự giác tích cực chiếm lĩnh khái niệm khoa học, dưới

sự điều khiển sư phạm của giáo viên.

1.4.2. Dạy là gì ?

Dạy là sự điều khiển tối ưu hoá quá trình học sinh chiếm lĩnh khái niệm

khoa học, trong và bằng cách đó, phát triển và hình thành nhân cách.

15



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (119 trang)

×