1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGOẠI NGỮ TẠI HỌC VIỆN THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.56 MB, 119 trang )


Lưu trữ, khai thác thông tin khoa học và nghiệp vụ nhằm tham mưu cho

BGH, Ban Thường vụ, Ban Bí thư Trung ương Đoàn về các chủ trương công

tác Đoàn, Hội, Đội.

2.1.1.3. Nhiệm vụ

Bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ công tác vận động thanh thiếu nhi và

công tác Đoàn cho cán bộ Đoàn chuyên trách từ cấp huyện trở lên theo nhiều

loại chương trình, theo chức danh, theo chuyên đề, theo loại cán bộ… Đây

được coi là nhiệm vụ chủ yếu, thường xuyên của Học viện.

Đào tạo ở trình độ cử nhân theo một số chuyên ngành đặc biệt, phù hợp,

trước mắt là xã hội học thanh niên, có thi tuyển để bồi dưỡng những tài năng

trẻ trong hoạt động chính trị – xã hội, tạo nguồn cho tương lai. Tiếp tục đào

tạo cơ bản ở trình độ trung cấp lý luận Mác-Lênin và nghiệp vụ Đoàn, Hội,

Đội trong thời kỳ quá độ (3 năm) (2005-2008).

Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu dự báo các vấn đề về thanh thiếu nhi nhằm

xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề xuất các chính sách đối với thế hệ trẻ của

Đảng và Nhà nước, chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn các cấp.

Nghiên cứu ứng dụng và triển khai các vấn đề về công tác vận động

thanh thiếu nhi và công tác xây dựng Đoàn, Hội, Đội. Tổ chức nghiên cứu,

tổng kết thực tiễn phong trào thanh thiếu nhi, tạo cơ sở cho việc hoạch định

các chủ trương công tác Đoàn và công tác thanh thiếu nhi của các cấp uỷ

Đảng, chính quyền, đoàn thể.

Biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo về công tác Đoàn, Hội, Đội và

lưu trữ, trao đổi các thông tin, tư liệu phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên

cứu của Học viện.

Tổ chức thông tin khoa học, lý luận và nghiệp vụ về công tác thanh thiếu

nhi về xây dựng Đoàn, Hội, Đội, xã hội hoá các kết quả nghiên cứu và tổng

kết thực tiễn về thanh thiếu nhi và phong trào thanh thiếu nhi.

Xây dựng và thực hiện các kế hoạch hợp tác với các cơ quan đào tạo,

nghiên cứu thông tin khoa học ở trong nước. Tăng cường hoạt động hợp tác

32



quốc tế trên lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu và thông tin khoa học các vấn đề về

thanh thiếu nhi theo các quy định hiện hành.

Hướng dẫn nghiệp vụ, nội dung chương trình, biên soạn tài liệu về công tác

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công tác nghiên cứu, thông tin khoa học đối với

các trung tâm, trường Đoàn các tỉnh thành và Đoàn trực thuộc Trung ương, đối

với các bộ môn công tác đoàn thuộc khoa Dân vận Trường chính trị các tỉnh.

Bồi dưỡng nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ giảng viên, nghiên

cứu viên, cộng tác viên. Quản lý tài chính, tài sản, cơ sở vật chất, kỹ thuật của

Học viện theo quy định phân cấp quản lý của Ban Bí thư Trung ương Đoàn.

2.1.2. Những kết quả về công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ của Học viện

Thanh thiếu niên Việt Nam trong hơn 50 năm

2.1.2.1. Về công tác đào tạo

+ Từ năm 1956 đến năm 1985 đã đào tạo:

- 75 khoá bồi dưỡng từ 1 tháng đến 9 tháng với 10.663 học viên.

- 15 khoá đào tạo từ 18 tháng đến 3 năm với 2.363 học viên.

- 5 khoá cao cấp dài hạn 4 năm với 258 học viên.

- Đào tạo 13 khoá cho cán bộ chủ chốt của Đoàn Thanh niên Nhân dân

Cách mạng Lào với 482 học viên.

- Đào tạo 6 khoá cán bộ với 130 học viên cho Đoàn Thanh niên Nhân

dân Cách mạng Căm-pu-chia.

+ Từ năm 1986 đến nay:

- Cơ sở Hà Nội đã đào tạo hệ trung cấp 24 tháng cho 44 khoá, cơ sở

phía Nam đã đào tạo 15 khoá với tổng số học viên là trên 6.100 người.

- Đào tạo hệ bồi dưỡng từ 1 đến 3 tháng cho 25 khoá với 3.456 học viên.

- Liên kết với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đào tạo trình

độ cao cấp và cử nhân chính trị cho 162 cán bộ chủ chốt của Trung ương

Đoàn và các tỉnh, thành Đoàn.

- Tiếp tục mở 5 khoá tập huấn ngắn hạn ( 3 tháng ) cho Đoàn

TNNDCM Lào với số lượng 85 học viên

33



- Tập huấn và bồi dưỡng ngắn hạn theo chuyên đề cho cán bộ cấp

huyện và tương đương được 602 khoá với 9.000 học viên.

- Liên kết với Bộ Giáo dục và Đào tạo mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ

công tác Đoàn, Đội ngũ cán bộ Đoàn, giáo viên dạy công tác Đoàn, Đội trong

các trường Đại học sư phạm Hà Nội I, các Trường cao đẳng sư phạm, Uỷ ban

Dân số – Gia đình trẻ em Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Trung

tâm Dân số – Sức khoẻ – Môi trường Trung ương Đoàn.... 50 khoá với 5000

học viên.

- Phối hợp các tỉnh, thành Đoàn, Học viện đã mở 22 khoá tại chức trình

độ chính trị trung cấp cho hơn 2000 cán bộ Đoàn tại các địa phương.

- Học viện đã chọn, cử nhiều lượt giảng viên giúp các tỉnh, thành Đoàn

và Đoàn trực thuộc Trung ương Đoàn tổ chức 82 lớp tập huấn nghiệp vụ cho

12.400 cán bộ các cơ sở Đoàn.

Từ năm năm 1993 đến nay, Học viện đều mở đều đặn các lớp bồi dưỡng

ngắn hạn (1 tháng, 2 tuần) cho cán bộ chủ chốt cấp Quận, Huyện đoàn, Đoàn

các ngành, cán bộ chuyên trách các Tỉnh, Thành Đoàn và cán bộ mới về công

tác ở cơ quan Trung ương Đoàn.

- Đoàn các ngành (Quân đội, Công an, Hàng không, Đường sắt...) hàng

năm thường xuyên phối hợp với Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam để mở

các lớp bồi dưỡng từ 2 tuần đến 1 tháng cho cán bộ cơ sở của Đoàn.

Học viện hỗ trợ các tỉnh thành Đoàn, Đoàn các ngành xác định nội

dung, chương trình của các lớp tập huấn ngày càng phù hợp với thực tiễn

công tác đoàn, Hội, Đội ở cơ sở, với đối tượng được tập huấn, phương thức

bồi dưỡng, tập huấn là hết sức phong phú đa dạng, phương pháp tập huấn

cũng được đổi mới theo tinh thần giáo dục chủ động như phương pháp sắm

vai cùng tham gia, thảo luận nhóm, thi đua giữa các nhóm trẻ với trẻ, thực

hành kỹ năng, nghiệp vụ (nhất là đối với các lớp theo chương trình dự án,

với sự hỗ trợ của các chuyên gia hoặc các lớp của Hội LHTN Việt Nam,

của Hội đồng Đội các cấp).

34



- Các loại hình bồi dưỡng thông dụng: theo chuyên đề, theo lĩnh vực

công tác, theo dự án ( Giới, lồng ghép giới, Dân số, sức khoẻ sinh sản,...) theo

chức danh, theo đối tượng...

Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam cùng hệ thống các Trung tâm hoạt

động TTN 3 miền (Bắc, Trung, Nam) và 7 trường Đoàn độc lập trực thuộc các

tỉnh, thành Đoàn đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì hoạt động của hệ

thống đào tạo - bồi dưỡng của Đoàn thanh niên. Học viện hướng dẫn nghiệp vụ

(qua thông tin khoa học - nghiệp vụ, bồi dưỡng giảng viên cho các Trung tâm,

các trường Đoàn tỉnh, các Khoa Dân vận Trường chính trị Tỉnh. Ngoài ra, trong

những năm qua Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam còn liên kết với các trường

Cao đẳng, Đại học Sư phạm, bồi dưỡng tập huấn cho hàng chục ngàn lượt giáo

sinh, những người ở các trường trung học cơ sở và tiểu học sau này.

Hệ thống giáo trình, tài liệu ngày càng được biên soạn trên cơ sở khoa

học, phát hành rộng rãi đến tận tay đội ngũ cán bộ cơ sở của Đoàn.

- Bộ giáo trình 4 quyển (500 trang) do Học viện Thanh thiếu niên Việt

Nam biên soạn, được Ban Bí thư chuẩn y, được NXB Thanh niên xuất bản và

phát hành vào dịp 26/3/2005, hiện đang được các trường chính trị Tỉnh,

trường Đoàn các tỉnh sử dụng rất có hiệu quả.

Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam kết hợp với NXB Thanh niên, liên

kết với các Ban, khối phong trào biên soạn trên 40 cuốn sách, tài liệu về

phương pháp luận, kỹ năng, nghiệp vụ, phương pháp công tác Đoàn, Hội, Đội

với hàng chục vạn bản. Nhiều tài liệu được tái bản nhiều lần (Sổ tay Bí thư

chi đoàn: Cẩm nang cán bộ Đoàn cơ sở; Kỹ năng tổ chức các hoạt động

TTN,. ..).

Học viên tốt nghiệp các khoá đào tạo của Học viện đã nhanh chóng

trưởng thành, hầu hết đều nắm giữ những vị trí chủ chốt của các cấp bộ Đoàn,

tham gia vào các cấp uỷ và lãnh đạo chính quyền địa phương. Trên 60 đồng

chí đã và đang tham gia Ban chấp hành Trung ương Đoàn; 26 đồng chí đã và



35



đang tham gia Ban Thường vụ, Ban Bí thư Trung ương Đoàn; 16 đồng chí đã

và đang là Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng.

2.1.2.2. Về công tác nghiên cứu và hoạt động khoa học

- Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam đã có nhiều đóng góp trong

nghiên cứu khoa học:

+ Chủ nhiệm 02 đề tài độc lập cấp Nhà nước.

+ Chủ nhiệm 26 đề tài cấp Bộ và tương đương liên quan đến công tác

Đoàn, Hội, Đội.

+ Triển khai nghiên cứu và hoàn thành 78 đề tài tổng luận cấp Quốc

gia, cấp bộ, cấp Học viện và cấp viện.

+ Xuất bản tạp chí thông tin khoa học nghiệp vụ 2 số/1 năm.

+ 54 giảng viên và 20 nghiên cứu viên đã viết được 352 bài báo công

bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành.

+ Tổ chức 65 Hội thảo cấp Trường, cấp Viện và tham gia 24 Hội thảo

cấp Trung ương Đoàn.

+ Xuất bản bộ giáo trình chuẩn sử dụng cho công tác đào tạo về

phương pháp luận, kỹ năng công tác thanh thiếu nhi, nghiệp vụ xây dựng

Đoàn và phương pháp công tác Đội với 17 tập.

+ Liên kết với Nhà xuất bản Thanh niên, Nhà xuất bản Giáo dục, Nhà

xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội đã xuất bản trên 100 đầu sách phục vụ

công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn.

+ Liên kết với Uỷ ban Dân số–Gia đình–Trẻ em, Hội Chữ thập đỏ,

UNICEF, Radda Barnen, CRS, Uỷ ban Quốc gia phòng chống AIDS... thực

hiện 24 dự án có liên quan đến tình hình thanh thiếu nhi Việt Nam.

50 năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, các thế hệ cán bộ thầy,

trò của Học viện đã đạt được nhiều thành tích đáng tự hào, đồng thời cũng

hình hình bề dày truyền thống với những nét đẹp tiêu biểu.



36



- Luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Đoàn, vượt lên

những khó khăn, thử thách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đáp ứng

ngày càng tốt hơn nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn, Hội, Đội.

- Đoàn kết thân ái giữa những người đồng chí, đồng nghiệp, tình nghĩa

thầy trò yêu thương gắn bó.

- Truyền thông nâng niu trân trọng và chăm lo vun trồng nhân tố mới,

xu thế mới tiến bộ. Mọi sáng kiến đều được biểu dương khen thưởng kịp thời,

mọi khả năng đều được tạo điều kiện để phát huy.

- Truyền thống liên kết, hợp tác, cộng tác tin cậy với các đối tác ở trong

hệ thống tổ chức Đoàn và các đối tác bên ngoài hệ thống.

2.1.3. Một số nét cơ bản về đội ngũ giảng viên giảng dạy môn ngoại ngữ

của Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam

Bộ môn Tiếng Anh có 3 giảng viên gồm: 3 cử nhân Anh ngữ.

Các giảng viên đều có năng lực chuyên môn, có kinh nghiệm trong giảng

dạy và tâm huyết với nghề: 1 giảng viên đã qua giảng dạy trên 15 năm, 2

giảng viên trên 10 năm.

Nhiều năm qua, trong phong trào thi đua" Dạy tốt- Học tốt “, các giảng viên

đều hăng hái tham gia và đạt danh hiệu" Giảng viên dạy giỏi cấp Học viện”.

2.2. Thực trạng công tác quản lý quá trình dạy học tiếng Anh

Nhìn chung, Học viện và phòng Đào tạo giao quyền tự chủ cho bộ môn

tiếng Anh trong việc quản lý hoạt động dạy học bộ môn tiếng Anh. Bộ môn tự

xây dựng mục tiêu, nội dung, lựa chọn phương pháp giảng dạy, phương pháp

học, thực hiện kiểm tra đánh giá. Phòng Quản lý đào tạo chỉ lưu giữ văn bản

liên quan đến chương trình đào tạo thuộc môn Tiếng Anh do Bộ môn gửi lên

và quản lý điểm sau khi bộ môn đã hoàn tất phần kiểm tra - đánh giá. Tuy

nhiên, đây là môn được lãnh đạo Học viện rất quan tâm vì trọng trách mới của

nhà trường đòi hỏi phải có sự chuyển biến về chất ở bộ môn này. Tiếng Anh

đang rất cần thiết ở Học viện. Nếu sinh viên và cán bộ Học viện thông thạo

tiếng Anh, chất lượng đào tạo của Học viện nói chung sẽ được nâng lên.

37



2.2.1. Mục tiêu môn học

- Mục tiêu môn học do bộ môn Tiếng Anh xây dựng, phòng Quản lý

đào tạo thông qua, trình Giám đốc duyệt, sau đó bộ môn thực hiện.

- Ngoài mục tiêu “Giao tiếp được Tiếng Anh ở trình độ A” không còn

mục tiêu nào khác. Mục tiêu này có một số nhược điểm như sau:

+ Mục tiêu đề ra quá thấp so với trình độ của học sinh. Trình độ A là

trình độ dành cho người mới bắt đầu trong khi sinh viên Việt Nam không em

nào là chưa từng học ngoại ngữ ở phổ thông.

+ Mục tiêu đề ra quá sơ sài, không có mục tiêu cụ thể đối với từng kỹ

năng. Phần mục tiêu chỉ nói “giao tiếp được” trong khi phần đánh giá lại đánh

giá khả năng đọc hiểu, nghe hiểu, viết, nói, dịch của sinh viên. Hơn nữa, trình

độ A, ai cũng biết là trình độ thấp nhất, nhưng không ai biết để đạt được trình

độ A sinh viên phải đạt được những tiêu chí gì.

+ Mục tiêu này không để cập đến ngoại ngữ chuyên ngành vì vậy hầu

hết sinh viên không được tiếp cận với các từ về Đoàn, Hội, Đội.

- Ngoài mục tiêu kể trên, bộ môn Tiếng Anh không hề xây dựng mục

tiêu chi tiết. Phần nội dung cho thấy, đây là bảng liệt kê tên các bài học trong

cuốn giáo trình do các tác giả nước ngoài biên soạn là “Streamline”. Thông

thường, dạy đến bài nào, có hiện tượng ngữ pháp gì thì hiện tượng ngữ pháp

đó trở thành “mục tiêu” của bài học luôn.

- Thực tế, mục tiêu môn học Tiếng Anh tại Học viện Thanh thiếu niên

không có vai trò định hướng cho các bộ phận còn lại của quá trình dạy học là:

nội dung, chương trình, học liệu; phương pháp dạy, phương pháp học; kiểm

tra - đánh giá; bởi lẽ, nếu đóng vai trò định hướng nó phải được xây dựng

trước tiên và mọi khâu còn lại phải lấy nó làm chuẩn để lập kế hoạch thực

hiện.



38



- 3/3 giảng viên của bộ môn Tiếng Anh khi được hỏi về mục tiêu môn

học không nêu được mục tiêu đúng như ghi trong cuốn “Chương trình đào tạo

Trung cấp lý luận chính trị và kỹ năng Đoàn, Hội, Đội” của Học viện Thanh

thiếu niên Việt Nam. Họ chỉ biết mình đang dạy trình độ A, còn trình độ A là

trình độ như thế nào không định nghĩa được. Với họ, sinh viên học hết quyển

giáo trình quy định được coi là trình độ A.

2.2.2. Nội dung, chương trình, học liệu

2.2.2.1. Nội dung, chương trình

Chương trình môn Tiếng Anh với số giờ cho phép đối với môn học này

là 225 tiết. Chương trình và nội dung chi tiết do Bộ môn Tiếng Anh của nhà

trường xây dựng, phòng Quản lý đào tạo thông qua, trình Giám đốc duyệt.

Nội dung dạy học môn Tiếng Anh gói gọn trong cuốn giáo trình kể

trên. Nội dung này có một số hạn chế sau:

- Nội dung không thể hiện đúng mục tiêu. Mục tiêu là “Giao tiếp được

bằng tiếng Anh ở trình độ A” trong khi nội dung (phần luyện kỹ năng giao tiếp)

chẳng có gì nổi bật hơn so với các kỹ năng khác, giao tiếp hay phi giao tiếp?

- Nếu tính bình quân số buổi/bài học có thể tính như sau: 225 tiết (toàn

khoá học): 3 ( tiết/bài ) x 80 bài= tổng cộng 240 tiết. Nhìn vào phần nội dung

chương trình và số thời gian thì không đủ để hoàn thành một chương trình.

Chúng tôi đã xem nội dung từng bài trong cuốn giáo trình sinh viên hiện đang

học thì thấy, mỗi một bài đều rất nhiều hiện tượng ngữ pháp và thực hành kỹ

năng, từng bài có rất nhiều từ mới, chỉ nhớ từ thôi cũng khó, chưa nói gì đến

sử dụng được những từ đó chỉ với thời gian 3tiết/bài để học một bài sinh viên

phải học rất nhanh thì mới kịp. Thực tế chứng minh, mỗi một buổi học, thầy –

trò chỉ tập trung giải quyết số bài có trong giáo trình ( nhiều khi phải bỏ bớt

bài do không đủ thời gian ), thì còn đâu thời gian mà nói đến chuyện luyện

nghe, nói, đọc, viết một cách kỹ càng nữa?



39



- Nếu tuân thủ nội dung như liệt kê ở trên một cách chặt chẽ với số giờ

ít ỏi như vậy, không thể tránh khỏi tình trạng không có thời gian cập nhật kiến

thức sát với cuộc sống hiện tại. Bỏ bớt bài trong giáo trình cũng không phải

đơn giản vì các bài trong giáo trình có tính kế thừa, bài nọ nối tiếp bài kia.

- Chương trình được chia làm 2 kỳ học tuy nhiên sự phân bố giờ giảng

giữa các kỳ không có tính khoa học kỳ 1 thường dồn quá nhiều giờ (180 h/ 20

tuần) và kỳ 2 (45h/ 3 tuần) do đó làm giảm chất lượng học tập của sinh viên.

2.2.2.2. Học liệu

Sinh viên học tổng cộng 225 tiết Tiếng Anh chia là 2 kỳ, sau 1 kỳ đầu

có một bài kiểm tra viết giữa kỳ 1 và kiểm tra cuối kỳ 1, hết kỳ 2 sinh viên

phải trải qua một kỳ thi kiểm tra kỹ năng nói. Không có kiểm tra kỹ năng

nghe, đọc, hiểu. Nhìn vào cơ số bài kiểm tra như vậy có thể dễ dàng nhận ra

các dạng bài viết vẫn là chủ đạo và cứ làm tốt các dạng bài viết là “ổn”. Ngoài

cuốn giáo trình như vừa trình bày ở trên, sinh viên chẳng có “học liệu” gì nữa.

Thư viện không hề có một cuốn sách tham khảo nào dành cho môn tiếng Anh.

Về thiết bị hỗ trợ cho việc dạy học môn tiếng Anh, ngoài máy chiếu và

máy tính cá nhân giảng viên dùng trình chiếu thay vì viết phấn ra, hầu như

không có thiết bị hỗ trợ cho công tác giảng dạy (không đài cassette, không

băng..)

2.2.3. Hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy, phương pháp học

Hình thức tổ chức dạy học môn tiếng Anh, về cơ bản, chẳng có gì khác

so với các môn khác trong nhà trường: cùng phòng học với khoảng 50-60 sinh

viên/lớp, cùng phương pháp dạy, cùng phương pháp học, cùng điều kiện và

môi trường học tập. Sinh viên khi vào trường không được phân loại trình độ

tiếng Anh đầu vào nên trong một lớp trình độ của các em chương trình 7 năm,

có em học tiếng Trung,… tất cả ngồi chung một lớp học, học chung một cuốn

giáo trình.



40



Những ai từng học ngoại ngữ không thể không biết câu nói: “ Học

ngoại ngữ là phải tắm mình trong ngôn ngữ đó ”. Tại Học viện Thanh thiếu

niên Việt Nam phòng học Tiếng Anh chung với các môn học khác, hôm nay

lớp này học Tiếng Anh, ngày mai học Tâm lý hoặc một môn nào đó. Vì thế,

bộ môn Tiếng Anh có muốn tranh trí phòng học cho ra vẻ “Anh” một chút

hay có muốn gắn lên tường những câu thành ngữ, những hình ảnh minh họa

sinh động cũng không thể làm được. Hơn nữa, các phòng học nằm kề nhau,

cách âm lại không được tốt, nên các lớp thường phải “tự giác” giữ trật tự

không để ảnh hưởng đến lớp bên cạnh. Học ngoại ngữ mà phải giữ trật tự thì

còn nâng cao khả năng giao tiếp làm sao được?



Tuy nhiên, Học viện đang



đề xuất đề án nâng cấp lên đại học, công tác xây dựng theo quy mô một

trường đại học mới bắt đầu, hy vọng, một ngày không xa môn Tiếng Anh sẽ

có những phòng học dành riêng cho mình.

Đó là về hình thức, còn về nội dung, trong giờ học sinh viên học khá

thụ động, các em nói Tiếng Anh rất ít, giảng viên bảo làm gì làm nấy. Bản

thân các giảng viên cũng còn nói nhiều tiếng Việt trong giờ học. Phần ngữ

pháp hoàn toàn được dạy bằng tiếng Việt. Sinh viên không được nghe băng

do đó kỹ năng nghe hoàn toàn không được luyện tập. Ra khỏi lớp thì 100% là

nói tiếng Việt. Tựu chung, sinh viên ở đây chưa có môi trường ngôn ngữ để

mà tắm mình trong đó.

Chúng tôi đã dự một số giờ tiếng Anh của các lớp khác nhau và sau đây

là những gì chúng tôi quan sát thấy:

Giảng viên khi lên lớp, ngoài giáo trình giống như của sinh viên thì

không có gì khác: không giáo án (chúng tôi có hỏi các giảng viên về điều này

và được họ cho biết họ có giáo án nhưng không sử dụng vì giáo án chỉ là thủ

tục), không giáo cụ trực quan, không tranh ảnh, không thiết bị hỗ trợ giảng

dạy, tóm lại là chẳng có gì cả. Trình tự giờ học diễn ra như sau:

Giảng viên vào lớp, kiểm tra sĩ số, giới thiệu mục tiêu bài học (chính là

phần ngữ pháp mà sinh viên sẽ học trong buổi học đó; ví dụ giảng viên nói: “

41



Trong buổi học này chúng ra sẽ học cách sử dụng thời hiện tại tiếp diễn ” ).

Tiếp đó giảng viên cho sinh viên đọc từ mới, dạy ngữ pháp, lấy các ví dụ

mình họa cho hiện tượng ngữ pháp đó. Đối với mẫu câu giảng viên cho ví dụ

bằng tiếng Việt để sinh viên dịch ra tiếng Anh, sau đó là đọc và làm các bài

tập trong giáo trình, có bài viết thì giảng viên hoặc cho làm ngay trên lớp hoặc

cho về nhà viết và hẹn mang đến nộp nhưng sinh viên chẳng bao giờ nộp và

giảng viên cũng không nhắc lại điều này.

Trong tất cả những giờ chúng tôi có mặt, cách làm việc của thầy và trò

đều tương tự như vậy. Chúng tôi có hỏi sinh viên về những giờ học khác các

em cho biết “ cũng tương tự như vậy ”. Từ đó có thể kết luận, phương pháp

giảng dạy chủ yếu vẫn là thuyết trình, hỏi - đáp. Trong phần trích dẫn

“Chương trình đào tạo” môn Tiếng Anh, mục phương pháp dạy học có nêu

phương pháp “Thảo luận nhóm” song phương pháp này chưa một lần được

thực hiện. Lý giải cho vấn đề này đồng chí trưởng Bộ môn cho biết:

Chúng tôi ý thức được là còn có nhiều phương pháp giảng dạy nữa hiệu

quả hơn phương pháp mà chúng tôi đang áp dụng, song trong điều kiện của

chúng tôi thì khó mà làm khác được. Một lớp có tới 50-60 sinh viên, ngồi kín hết

các bàn, các bàn chiếm hết chỗ trong lớp học, đi lại trong lớp rất khó khăn. Nếu

chia nhóm thảo luận, không có khoảng trống ngăn cách giữa các nhóm; lớp

đông phải chia làm nhiều nhóm; trong lớp chỉ có một giảng viên thì không thể

bao quát hết các nhóm, tập trung vào nhóm này thì các nhóm khác nói chuyện;

phương án để một sinh viên khá/giỏi quản lý nhóm cũng được nhưng không

nhiều, nội dung phải bao quát lại lớn nên chúng tôi phải cố gắng làm thế nào

chuyển tải được càng nhiều nội dung trong thời gian ngắn nhất càng tốt.

Việc học môn Tiếng Anh ở nhà của sinh viên cũng giới hạn trong phạm

vi học từ mới, làm một số bài trong giáo trình, thỉnh thoảng làm thêm bài tập

phát tay (các dạng bài tập viết).



42



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (119 trang)

×