1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGOẠI NGỮ Ở HỌC VIỆN THANH THIẾU NIÊN VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.56 MB, 119 trang )


Các biện pháp được xây dựng trên cơ sở được đảm bảo sự nhất quán

từ điều tra cơ bản, phân tích thực trạng và cùng thống nhất trong mục tiêu,

mục đích chung là cải tiến quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh đáp

ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ trong bối cảnh hiện

nay của đất nước.

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

Nâng cao chất lượng từ việc cải tiến dạy học là việc làm cần thiết. Tuy

nhiên, để thực hiện được việc cải tiến hoạt động dạy học môn ngoại ngữ của

Học viện đòi hỏi Học viện, khoa, bộ môn Ngoại ngữ phải dựa trên điều kiện

thực tiễn, cụ thể thuộc phạm vi Học viện. Trên cơ sở điều kiện vật chất, khả

năng tài chính, nguồn nhân lực hiện có, khả năng và trình độ của sinh viên,

Học viện và khoa sẽ tiến hành thực hiện từng bước để kịp thời điều chỉnh, bổ

sung. Nguyên tắc thực tiễn này đòi hỏi các biện pháp đề xuất phải những biện

pháp phù hợp với nhu cầu thật sự để giải quyết được những khó khăn, trở ngại

thuộc hiện trạng.

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

Các biện pháp nêu ra nhằm vào mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất

lượng và hiệu quả công tác đào tạo của Học viện thông qua việc cải tiến công

tác quản lý hoạt động dạy học. Những biện pháp nêu ra nhằm vào việc từng

bước cải tiến chất lượng và hiệu quả của hoạt động dạy học ở Học viện TTN

Việt Nam. Xuất phát từ nguyên tắc tính hiệu quả, những biện pháp đề xuất

cần mang lại hiệu quả trong hoàn cảnh cụ thể và trong thời điểm nhất định.

3.2. Các nhóm biện pháp quản lý hoạt động dạy học Ngoại ngữ ở Học viện

Thanh thiếu niên Việt Nam

3.2.1. Nhóm các biện pháp quản lý việc xây dựng chương trình

3.2.1.1. Biện pháp 1: Cải tiến mục tiêu môn học

*Mục tiêu:

Cải tiến mục tiêu môn học nhằm đạt được mục tiêu sau:

a) Đối với giảng viên

57



Là công cụ để giảng viên tự quản lý, tự đánh giá mình, từ đó người giảng

viên điều chỉnh hoạt động dạy học của mình, phát huy những cái được và

khắc phục nhược điểm.

Giúp giảng viên chủ động hơn trong công việc.

b) Đối với người quản lý

Giúp cho người quản lý đưa ra được cách thức quản lý tối ưu với các

giảng viên của mình và có thể theo sát được giảng viên trong suốt quá trình

dạy học của họ từ đầu đến cuối.

c) Đối với sinh viên

Nắm được kiến thức sâu rộng và dựa trên đó hình thành thái độ và kỹ

năng làm việc, cũng như kỹ năng sống.

*Nội dung, cách thực thực hiện:

Dự thảo “Đề án Giảng dạy, học tập ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục

quốc dân giai đoạn 2004 – 2015" đã nêu mục tiêu dạy học ngoại ngữ đối với

giáo dục CĐ/ ĐH không chuyên ngữ ( xem chương 1). Học viện TTN Việt

Nam đang cố gắng được hoà mình vào trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt

Nam nên tất nhiên phải tuân theo mục tiêu chung này. Tuy nhiên, từ nay đến

năm 2010, thời gian còn lại là 2 năm, không đủ để đảm bảo 100% đầu vào của

sinh viên là học sinh chương trình Tiếng Anh 10 năm nay, vậy nên đặt mục

tiêu của bậc 4 là không khả thi đối với Học viện TTN Việt nam; bậc 3 là hợp

lí cụ thể là:

* Nghe

Nghe hiểu các đối thoại đơn giản trong và ngoài lớp học; nghe hiểu ý

chính các thông tin trong đời sống xã hội thông thường.

* Nói

Có thể tham gia các đối thoại đơn giản trong và ngoài lớp học; có thể

bày tỏ ý kiến một cách hạn chế về các vấn đề văn hoá xã hội.

* Đọc



58



Đọc hiểu nội dung chính các tài liệu phổ thông liên quan đến các vấn đề

văn hoá xã hội quen thuộc.

* Viết

Có thể viết các đọan văn ngắn, đơn giản về các chủ đề quen thuộc phù

hợp với sự hiểu biết của người học.

Bên cạnh mục tiêu chung -mục tiêu tổng thể, cụ thể từng bài học, từng

giờ học lại các mục tiêu chi tiết khác nữa. Những mục tiêu này do các giảng

viên môn Tiếng Anh, bộ môn Ngoại ngữ xây dựng. Các mục tiêu chi tiết luôn

thống nhất với mục tiêu chung, là các bộ phận của mục tiêu chung. Các mục

tiêu này có vai trò như những đích mà thầy và trò cần đạt tới trong quá trình

dạy và học. Chúng cần được quản lí và tuân thủ chặt chẽ.

Đối với hệ trung cấp lí luận chính trị có thể đạt là bậc 2, cụ thể :

* Nghe

Có thể hiểu những chỉ dẫn đơn giản liên quan đến các chủ điểm quen thuộc.

* Nói

Có thể hỏi đáp về các chủ điểm quen thuộc như bản thân, gia đình, nhà

trường.

* Đọc

Có thể hiểu những chỉ dẫn thông báo đơn giản liên quan đến các chủ

điểm gần gũi, quen thuộc.

* Viết

Có thể điền vào các phiếu, biểu mẫu đơn giản liên quan đến bản thân

(tên, tuổi, địa chỉ, ngày, giờ,…).

Tương tự như với hệ đại học, bên cạch mục tiêu chung - mục tiêu tổng

thể, cụ thể từng bài học, từng giờ học lại có các mục tiêu chi tiết khác. Những

mục tiêu này sẽ do các giảng viên môn tiếng Anh, bộ môn Ngoại ngữ xây

dựng và cũng như mục tiêu tổng thể, chúng được quản lý bởi phòng Quản lí

đào tạo để kiểm tra-đánh giá về sau cũng như được quản lý bởi bộ môn Ngoại

Ngữ để thực hiện và căn cứ vào đó để xây dựng ngân hàng câu hỏi phục vụ

59



cho công tác kiểm tra – đánh giá chung của nhà trường sau này. Có thể nói,

mục tiêu giống như thước đo để đo lường kết quả đạt được của thầy và trò sau

một quá trình dạy và học.

* Điều kiện để thực hiện mục tiêu

Đảm bảo số giờ tối đa khung chương trình cho phép ( 225 giờ tiếng

anh chung và 75 giờ tiếng Anh chuyên ngành). Hiện nay trường chỉ áp dụng

225 giờ tiếng Anh chung. Số giờ tiếng Anh trên lớp không đủ có thể gây ra

khó khăn cho giảng viên trong việc triển khai những nội dung cần thiết.

Tạo điều kiện để học sinh có thể học tiếng Anh bất cứ chỗ nào, bất cứ

khi nào có điều kiện. Đặc điểm của sinh viên của Học viện là: các em học cả

2 buổi một ngày. Phải nói các em không có nhiều thời gian để học tiếng Anh

cho ra giờ, ra buổi. Cho nên, việc tạo điều kiện để các em có thể học bất cứ

chỗ nào, bất cứ khi nào có thể là hết sức cần thiết, muốn vậy một số điều sau

đây cần thực hiện.

Thư viện nhà trường có các loại sách tiếng Anh tham khảo khác nhau,

phương tiện nghe, nhìn, mạng internet, … để các em sử dụng. Bên cạch đó

cán bộ thư viện còn biết về số sách, băng đĩa, … để giới thiệu cho sinh viên

khi cần thiết.

Ký túc xá có một phòng trang bị như thư viện về môn Tiếng Anh. Thực

tế, thư viện nhà trường hiện tại không đủ lớn để mọi sinh viên có thể lên đó

học, nhiều em học ngay tại phòng học của ký túc xá. Trang bị được như thế

này giúp các em tiết kiệm được thời gian đi tìm tài liệu và đỡ “ngại” học tiếng

Anh hơn.

Văn phòng bộ môn có cán bộ “tư vấn”cho sinh viên về mọi vấn đề liên

quan đến việc học tiếng Anh của các em, từ việc giúp các em lựa chọn tài liệu

phù hợp để trả lời “các thắc mắc”.

Xây dựng động cơ học tập tiếng Anh cho sinh viên thông qua các hoạt

động đoàn thể, như câu lạc bộ tiếng Anh, dạ hội tiếng Anh, ca hát tiếng

Anh,vv. Các em có yêu thích môn học thì mới hết lòng vì nó được.

60



Nâng cao trình độ tiếng Anh chuyên ngành cho đội ngũ cán bộ giảng

viên thông qua hình thức gửi họ qua nước ngoài học tập hoặc mời chuyên gia

nước ngoài về trường dạy. Thầy có giỏi thì trò mới giỏi được.

Giảm sĩ số học sinh trong một lớp xuống tối đa chỉ còn 30 em. Hiện các

lớp ngoại ngữ có chất lượng, chẳng có lớp nào học sinh vượt qua 20 em. Tại

các lớp học tiếng Anh thuộc các trung tâm nước ngoài như British Council,

Apollo,… sĩ số một lớp chỉ khoảng 10 người trong khi họ có phương tiện

nghe nhìn đạt chuẩn, tài liệu tham khảo không thiếu.

Mặt khác, sĩ số lớp ít đi thì mới có điều kiện thực hiện các hoạt động

khác nhau trong giờ học, ví dụ: thảo luận nhóm, đóng vai, chơi các trò chơi,…

tạo môi trường giao tiếp cho các em.

Vấn đề đặt ra là nếu giảm sĩ số trong lớp thì phải tăng số lượng giảng

viên vì một lớp bây giờ thành hai hoặc tăng thu nhập cho giảng viên hiện có

cho phần việc gấp đôi của họ.

Mọi khâu trong hoạt động dạy học phải nhất nhất tuân theo mục tiêu.

Định kì phải có kiểm tra, đánh giá, bình bầu, thi giáo viên dạy giỏi,…qua đó

xác định người dạy có đi đúng mục tiêu đã đặt ra hay không. Đôi khi có hiện

tượng mục tiêu một đằng giảng viên làm một nẻo, giảng viên cứ theo ý mình

mà làm, nghĩ đến đâu làm đến đó, không ai kiểm tra, đánh giá gì cả hoăc có

kiểm tra, đánh giá nhưng qua quýt, không đánh giá đúng vấn đề.

3.2.1.2. Biện pháp 2: Cải tiến nội dung chương trình dạy học

*Mục tiêu:

Phù hợp với việc cải tiến mục tiêu môn học và là cơ sở để thực hiện cải

tiến phương pháp dạy học, kiểm tra- đánh giá.

Đáp ứng với đề án phát triển Học viện.

Phù hợp với khả năng học tập của sinh viên và xu thế phát triển của xã hội.

*Nội dung, cách thức thực hiện:

Nội dung phải theo sát với mục tiêu. Hiện nay bộ môn tiếng Anh của nhà

trường đang sử dụng giáo trình tiếng Anh do nước ngoài biên soạn. Không thể

61



phủ nhận sách của họ biên soạn rất hay, rất khoa học, phân loại trình độ rõ

ràng tuy mỗi loại giáo trình có điểm yếu, điểm mạnh riêng. Giáo trình của họ

không phải biên soạn vu vơ, trong quá trình biên soạn tác giả luôn hướng tới

đối tượng người học cụ thể. Ví dụ: giáo trình dành cho người châu Âu thì

mang đậm văn hoá châu Âu, từ minh hoạ đến tự giới thiệu ngữ pháp, rất gần

với cách biểu đạt với người châu Âu. Thật không may không có loại giáo

trình nào hướng tới đối tượng người học Việt Nam cả. Vậy nên, dùng giáo

trình biên soạn sẵn với học sinh của ta, giống như ăn các món ăn của hãng

MacDonald’s vậy vẫn sống được nhưng không thân thuộc, gần gũi không

khắc sâu vào tâm trí ngay khi mới biết lần đầu. Vẫn biết “học thêm môt ngoại

ngữ là sống thêm một cuộc đời (Các-Mác), học một ngoại ngữ là học cả văn

hoá dân tộc đó nữa, song giá như vừa được học văn hoá của bạn, vừa biết

cách thể hiện văn hoá của ta thì hiệu quả của việc học sẽ tăng lên rất nhiều.

Tuy nhiên, để cho ra đời một cuốn giáo trình không hề đơn giản. Một người

không làm được, đó phải là một tác phẩm của một ê-kíp đa ngành: ngôn ngữ

học, văn hoá - xã hội học, sư phạm học, thiết kế, mỹ thuật, vv. Một cuốn giáo

trình phải đảm bảo các yếu tố: hấp dẫn, đúng mục tiêu, có tính giáo dục, cập

nhật. Xưa nay, một số tác giả Việt Nam tâm huyết với sự nghiệp giáo dục

cũng từng biên soạn giáo trình dạy tiếng Anh, nhưng những cuốn sách đó

không được phổ biến rộng rãi. Nguyên nhân có thể là, hoặc sách không hấp

dẫn, hoặc sách không được quảng bá rộng rãi để nhiều người biết mà sử dụng.

Các giảng viên môn tiếng Anh của Học viện TTN Việt Nam nên tự biên

soạn lấy một cuốn giáo trình phù hợp cho Học viện. Có thể cuốn giáo trình

không được hoàn hảo ngay từ đầu, song nếu các giảng viên có nhiệt huyết,

cùng với thời gian nhà trường sẽ có được cuốn giáo trình ưng ý. Một điều cần

lưu ý, cuốn giáo trình trong tương lai này phải hội tụ đủ những nội dung như

đã đề cập trong phần mục tiêu. Nghĩa là, nó phải chứa đựng những nội dung

giúp người học đạt được các mục tiêu đề ra. Từng bài học phải có đủ 4 kỹ



62



năng: nghe, nói, đọc, viết; được biên soạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp

đến cao.

Trong quá trình dạy học, ngoài một giáo trình chính cần có tối thiểu là

2 giáo trình tham khảo, chưa kể băng, đĩa hình, các website,… liên quan khác.

Để tiết kiệm thời gian lên lớp, các giảng viên nên giảm thời gian “chép

bài” cho sinh viên bằng cách phát tài liệu phát tay, trong tài liệu phát tay đó

có các thông tin mà lẽ ra sinh viên phải chép từ trên bảng hoặc chép từ lời

giáo viên đọc vào vở. Trong giờ tiếng Anh các em thường phải chép rất

nhiều: từ mới, phiên âm, nghĩa của từ, từ loại, ví dụ, minh họa từ mới, ngữ

pháp, bài tập minh họa cho ngữ pháp, các bài tập bổ trợ, vv. Việc chép bài

xưa nay chiếm rất nhiều thời gian trong giờ học. Thêm nữa, sinh viên của ta

thường có thói quen chép mọi lời của thầy, cô vào vở, nên nhiều đi học chỉ

cắm cúi nghe và ghi chép là vừa vặn hết giờ, chẳng có thời gian đâu mà luyện

nói, luyện nghe, luyện đọc, luyện viết nữa. Cộng thêm lớp học quá đông,

giảng viên cũng ưa thích kiểu làm việc này. Thế là, kết quả học ngoại ngữ:

sinh viên nhìn chữ thì biết, nghe thì không hiểu, nói không được, không biết

viết theo ý mình định trình bày.

Bộ môn Ngoại ngữ nên sưu tầm một số tranh ảnh, đồ vật,… làm giáo

cụ trực quan phục vụ cho việc dạy học. Các nhà khoa học đã chứng minh

người ta học nhanh và nhớ lâu hơn khi được “mục sở thị” những cái mà mình

học. Các cụ ta xưa cũng từng dạy “Trăm nghe không bằng một thấy”. Sự đa

dạng trong giờ học bao giờ cũng cuốn hút sinh viên hơn.

Một điều quan trọng, nội dung dạy học phải được quản lý về mặt

chuyên môn, tức là, giữa các giảng viên trong bộ môn phải có sự thống nhất

về khối lượng kiến thức tối thiểu mà sinh viên cần đạt được đối với từng kỹ

năng trong 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Đối với những giảng viên vừa mới

ra trường, chưa có nhiều kinh nghiệm, nội dung bài giảng cần có sự thông qua

của trưởng bộ môn.

*Điều kiện thực hiện:

63



Cần có sự chỉ đạo thống nhất, phối hợp nhịp nhàng giữa giảng viên với

các phòng ban, khoa, bộ môn liên quan đến hoạt động dạy học ngoại ngữ

trong việc xây dựng kế hoạch lựa chọn nội dung, hình thức phương pháp, biên

soạn tài liệu, chuẩn bị cơ sở vật chất và tổ chức triển khai việc cải tiến nội

dung môn học.

Chương trình phải được xây dựng phù hợp với mục tiêu đào tạo của môn

tiếng Anh cũng như mục tiêu đào tạo của Học viện và tương thích với trình độ

của sinh viên.

Để thực hiện biện pháp này cần có đội ngũ giảng viên giỏi về chuyên môn.

3.2.1.3. Biện pháp 3: Cải tiến hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy

học, kiểm tra - đánh giá thường xuyên

*Mục tiêu:

Nâng cao ý thức tự giác học trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên

cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, nâng cao kỹ

năng làm việc với người khác.

Tăng cường vai trò tổ chức, hướng dẫn, định hướng, điều khiển của

giảng viên đối với hoạt động học, hoạt động tư duy sáng tạo và rèn luyện kỹ

năng của sinh viên.

*Nội dung, cách thức thực hiện:

a) Hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học

Đây là một yếu tố kép trong hệ thống quy trình dạy học. Yếu tố này

cũng do mục tiêu dạy học chi phối, tức là phải phù hợp với mục tiêu.

Hình thức tổ chức dạy học quy định phương pháp dạy, phương pháp

dạy quy định phương pháp học và ngược lại. Do đó, việc lựa chọn, tổ chức

hình thức dạy học rất quan trọng. Đặc thù môn tiếng Anh: kích cỡ lớp học,

cách kê bàn ghế, thiết bị dạy học, hình thức trang trí, v.v… có tác động không

nhỏ đến chất lượng giờ học và cần phù hợp với mục tiêu các kỹ năng.



64



Mục tiêu đề ra là phải phát triển cân đối 4 kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết

của học sinh, nên việc tổ chức quá trình dạy học cũng phải hướng tới 4 mục

tiêu này.

Nhiều khi khó tách bạch việc dạy nghe ra khỏi dạy nói, đọc, viết và

tương tự với các kỹ năng còn lại, bởi lẽ, khi nghe thì phải nói lên điều mình

nghe thấy, nếu nghe theo định hướng thì phải đọc hướng dẫn và nhiều khi

phải viết kết quả nghe được. Tuy nhiên, khi rèn kỹ năng, tuỳ theo loại kỹ năng

định rèn, có thể lấy đó làm trọng tâm.

* Kỹ năng nghe

Mục tiêu đề ra là “Nghe hiểu các đối thoại đơn giản trong và ngoài lớp

học. Nghe hiểu ý chính các thông tin đơn giản trong đời sống xã hội thông

thường”. Vậy, nội dung các bài nghe phải tập trung vào các đối thoại và các

thông tin đơn giản trong đời sống xã hội thông thường.

Hiện nay, trong giờ học tiếng Anh tại Học viện Thanh thiếu niên Việt nam

không có giờ nghe băng vì vậy cần phải cho sinh viên nghe và bài nghe phải:

- Đa dạng hình thức bài nghe, có thể nghe băng, nghe đĩa, nghe thông

qua xem video, nghe thầy/cô, nghe các bạn, nghe cả lớp, nghe theo nhóm,

nghe theo cặp,… Hình thức càng phong phú càng dễ lôi cuốn sinh viên. Bài

nghe phải đảm bảo rõ ràng về mặt âm lượng, phát âm.

- Nội dung bài nghe phải gần gũi với người học, xoay quanh các chủ đề

người nghe cần đạt tới, đảm bảo người nghe lúc nào cũng ở trong “tầm với

gần”, nghĩa là phần có thể hiểu được là 80%, phần “phỏng đoán” chỉ khoảng

20%. Tránh tình trạng bài nghe quá nhiều từ mới, vấn đề xa lạ với người học.

- Khi cho sinh viên luyện nghe, giảng viên nên định hướng thông tin

chính của bài nghe để sinh viên tập trung vào đó thông qua hình thức ra câu

hỏi trước khi nghe; sau khi nghe có kiểm tra kết quả nghe của sinh viên dựa

trên phần yêu cầu đề ra trước đó. Câu hỏi định hướng cũng nên phong phú:

nghe tóm tắt từng đoạn, nghe điền từ vào chỗ trống, nghe chọn đáp án

đúng/sai, nghe ghi,…

65



- Một số sinh viên có thể nghe tốt hơn những em khác. Giảng viên nên

khích lệ để những em nghe yếu không nản chí. Thi thoảng có thể ra những bài

nghe đơn giản một chút để những em này cảm thấy tự tin hơn.

- Một điều hết sức quan trọng là sự tương hỗ giữa phát âm và khả năng

nghe. Các em phát âm chuẩn thì thường nghe tốt hơn những em phát âm

không chuẩn. Ngược lại, việc nghe cũng giúp các em hoàn thiện phát âm của

mình. Giảng viên nên chú ý rèn phát âm cho sinh viên nhằm nâng cao khả

năng nghe cho các em.

* Kỹ năng nói

Mục tiêu đề ra là “Có thể tham gia các đối thoại đơn giản trong và ngoài

lớp học. Có thể bày tỏ ý kiến một cách hạn chế về các vấn đề văn hoá, xã hội”.

Muốn đạt được mục tiêu này, người giảng viên có thể làm một số việc sau:

- Tạo cơ hội “nói” cho sinh viên thông qua các hoạt động trong và

ngoài lớp học. Ở trong lớp, sinh viên có thể nói thông qua các hoạt động như:

vấn đáp giữa giảng viên và sinh viên, thảo luận nhóm, đóng vai, nghiên cứu

từng trường hợp, định kỳ trình bày về một chủ đề tự chọn nào đó,… Ngoài

lớp học, các em có thể nói tiếng Anh thông qua các hoạt động đoàn thể như:

câu lạc bộ tiếng Anh, dạ hội, phát động phong trào nói tiếng Anh trong ký túc

xá,…

- Nếu có thể hãy liên lạc với các chuyên gia dạy tiếng Anh tình nguyện

đến từ các nước nói tiếng Anh để họ giúp luyện nói cho sinh viên. Hiện nay

chưa có phương pháp nào hiệu quả hơn phương pháp này.

- Các chủ đề luyện nói cho sinh viên phải xoay quanh những chủ đề

nhằm đạt được mục tiêu đề ra, không xa lạ không quá khó đối với sinh viên.

- Trong giờ học càng nhiều người có thể nói được càng tốt. Để đạt được

điều này nên chia nhỏ lớp ra, mỗi nhóm sẽ chịu sự quản lý – hướng dẫn của

giảng viên hay một bạn nói tốt trong lớp (trong trường hợp không thể bố trí

nhiều giảng viên đến dạy cùng một buổi). Tuy nhiên, để lớp khỏi bị phân tán

và có thể học hỏi lẫn nhau mà có tính thi đua, các nhóm nên thảo luận các chủ

66



đề lệch nhau sau đó chia sẻ kết quả thảo luận của nhóm mình với các nhóm

còn lại.

- Để nói được tiếng Anh, chỉ nói ở trên lớp thôi là chưa đủ, sinh viên

cần phải có thói quen nói tiếng Anh ở ngoài lớp học nữa. Giảng viên có thể

giao nhiệm vụ về nhà cho các em bằng cách: phân công mấy em một nhóm từ

tìm tài liệu rồi cuối tuần/tháng trình bày trước lớp về một chủ đề nào đó,

người trình bày sẽ được chỉ định bất kỳ. Muốn trình bày được trên lớp, các

em phải hợp tác với nhau, tập hợp, lựa chọn tài liệu rồi tập nói cho nhau nghe

nhiều lần. Nếu được giao nhiệm vụ cụ thể, có thời hạn rõ ràng các em sẽ làm

việc hăng say hơn là chỉ được bảo về nhà tập nói nhiều.

* Kỹ năng đọc

Mục tiêu đối với kỹ năng đọc là “Đọc hiểu nội dung chính các tài liệu

phổ thông liên quan đến các vấn đề văn hoá, xã hội quen thuộc”.

Trong các mục tiêu về 4 kỹ năng, mục tiêu này có lẽ là dễ thực hiện

nhất vì đọc là dễ nhất so với 3 kỹ năng còn lại. Tuy vậy, dễ cũng không có

nghĩa là không cần phương pháp. Để việc dạy học đọc có hiệu quả, hoạt động

này nên được tiến hành như sau:

- Đối với những bài đọc mục tiêu là nâng cao vốn từ, nên phát tài liệu

đọc cho sinh viên để các em nghiên cứu trước ở nhà, vừa tiết kiệm được thời

gian trên lớp, vừa có thời gian cho các em suy nghĩ, tra từ điển, làm các bài

tập kiểm tra xem mình có hiểu đúng nội dung của bài đọc hay không. Sau đó

trên lớp giảng viên cùng sinh viên kiểm tra lại một lần nữa kết quả bài đọc

sinh viên đã chuẩn bị trước này.

- Chủ đề các bài đọc bổ trợ nên theo sát các chủ đề bài học trên lớp để

các em tận dụng vốn từ vừa học của mình.

- Nên đa dạng hoá hình thức luyện đọc để tránh nhàm chán. Ví dụ: đọc

cá nhân, đọc theo cặp, đọc theo nhóm, đọc trả lời câu hỏi, đọc kể lại, đọc cho

bạn chép,…

* Kỹ năng viết

67



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (119 trang)

×