1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 3 NHỮNG BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QL CÁC ĐIỀU KIỆN ĐBCLGD Ở TRƯỜNG THPTNT - ĐỒ SƠN.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.46 MB, 98 trang )


- Chuyên môn dạy và học.

- Các chƣơng trình hoạt động ngoài giờ lên lớp.

- Các chƣơng trình xây dựng cơ bản và mua sắm thiết bị.

- Các chƣơng trình quản lý học sinh nội trú.

- Các chƣơng trình hành chính và quản trị đời sống.

Tất nhiên rất cần thiết phải tạo ra sự gắn kết giữa ban giám hiệu thông

qua một số hoạt động sau:

Mỗi tuần các hiệu phó thực hiện trao đổi buổi trực bàn giao công việc

cho nhau để thực hiện kế hoạch. Các vấn đề chung sẽ cùng bàn bạc thoả thuận

cùng thực hiện, hoặc chịu sự chỉ đạo phân việc của hiệu trƣởng. Nhiệm vụ

chính của các phó HT nào phụ trách, thì phó HT ấy chịu trách nhiệm giải

quyết sau khi tham khảo ý kiến của đồng sự. Các phó HT chịu trách nhiệm

trƣớc hiệu trƣởng về nhiệm vụ đƣợc giao. Các quyết định phân quyền phải

nằm trong kế hoạch của BGH. Trong trƣờng hợp chƣa rõ hoặc có tình huống

phát sinh phải bàn bạc trong BGH vào các ngày giao ban, nếu là tình huống

đột xuất cần kíp phải xin ý kiến chỉ đạo của hiệu trƣởng. Các phó HT sẽ nhận

những nhiệm vụ đƣợc giao khác của hiệu trƣởng trong những hoàn cảnh cụ

thể.

Đối với đơn vị tổ thì tổ trƣởng là ngƣời xây dựng kế hoạch của tổ, nhóm,

quản lý chuyên môn của tổ. Là ngƣời tham mƣu trực tiếp cho phó HT phụ

trách chuyên môn về các vấn đề chuyên môn của tổ và báo cáo tham mƣu với

hiệu trƣởng về các vấn đề nhân sự tổ chức của tổ.

- Phân công dạy thay, tiếp thu và triển khai ứng dụng trong đơn vị tổ các

chƣơng trình đổi mới.

- Tổ chuyên môn sinh hoạt 2 lần 1 tháng, dự giờ dạy thể nghiệm ý tƣởng,

dạy tiết khó, đánh giá theo tiết dạy chuẩn của Sở GD&ĐT, góp ý xây dựng

giáo án chuẩn kiến thức, trọng tâm, in thành tập sử dụng trong tổ.

- Tổ trƣởng và giáo viên giỏi có kế hoạch, cách thức bồi dƣỡng giúp đỡ

đồng nghiệp và đội tuyển học sinh giỏi, bồi dƣỡng học sinh yếu.



49



- Trực tiếp thanh tra các thành viên và tham gia thanh tra đánh giá giáo

viên của đơn vị tổ trong các kỳ thanh tra của BGH.

Do vậy đổi mới công tác tổ chức và quản lý trong nhà trƣờng để phù hợp

với tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn mới và hoàn cảnh cụ thể của đơn vị thì

cần phải tăng cƣờng bồi dƣỡng nâng cao chất lƣợng đội ngũ CBQL để thích

ứng với việc quản lý loại hình trƣờng THPTNT.

Trong nhà trƣờng cần xây dựng những tiêu chí về CBQL.

Hiện ở nƣớc ta, đội ngũ cán bộ quản lí trực tiếp ở các trƣờng học nói

chung, ở các trƣờng THPT nói riêng chƣa đƣợc đào tạo có bài bản, đó là một

trở ngại không nhỏ. Trong khi đó, chất lƣợng giáo dục phụ thuộc rất nhiều

vào đội ngũ cán bộ quản lí. Quản lí yếu kém là một trong những nguyên nhân

chính gây nên tình trạng xuống cấp về chất lƣợng trong giáo dục.

Cán bộ quản lý THPT Nội trú Đồ sơn hầu hết đƣợc chuyển từ THPT

sang, do quen với cách quản lý THPT nên trình độ quản lý, không “bắt” kịp

với cơ chế quản lý mới. Để tháo gỡ vấn đề này, cần có giải pháp cho chức

danh hiệu trƣởng trƣờng THPT Nội trú Đồ sơn có thêm chức năng về quản lý

kinh tế, quản lý trƣờng nội trú. Có định hƣớng cho việc xây dựng và phát

triển nhanh chóng đội ngũ này nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng hoàn chỉnh

trƣờng THPT Nội trú Đồ Sơn.

Đất nƣớc ta đang bƣớc vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại

hóa, giáo dục luôn là yếu tố then chốt trong tiến trình phát triển của xã hội.

Chỉ có thể hoàn thành sứ mệnh của mình nếu toàn ngành GD-ĐT nói chung

và hệ thống các trƣờng PTDTNT nói riêng đƣợc đảm bảo bằng đội ngũ cán bộ

quản lí có đủ năng lực phẩm chất: đạo đức, trí tuệ, trình độ lí luận, khả năng

quản lí kinh tế, khả năng tác nghiệp và điều hành công tác Giáo dục - Đào tạo.

Nghị quyết Trung ƣơng 3 (KhóaVIII) đã nhấn mạnh: “Đổi mới cơ chế

quản lí, bồi dƣỡng cán bộ, sắp xếp chấn chỉnh và nâng cao năng lực của bộ

máy quản lý Giáo dục- Đào tạo... đào tạo bồi dƣỡng trƣớc khi bổ nhiệm, đề

bạt. Khắc phục tình trạng bầu, bổ nhiệm rồi mới đƣa đi đào tạo” [4.tr.44].

Điều này không chỉ đúng cho trƣờng công lập, mà các trƣờng PT nội trú càng

cần phải có một đội ngũ cán bộ quản lí vững vàng hơn, không thể chắp vá



50



theo kiểu vừa làm vừa học, theo chủ nghĩa kinh nghiệm. Hồ Chủ Tịch thƣờng

căn dặn cán bộ: “Có kinh nghiệm mà không có lí luận thì khác nào đi trong

đêm tối, vừa chậm chạp, vừa hay vấp váp”. Cán bộ quản lí giáo dục phải đƣợc

đào tạo, huấn luyện thì mới có đủ tri thức, lí luận soi đƣờng để đảm đƣơng

công việc.

Trong xu thế hội nhập hiện nay, trƣớc yêu cầu đổi mới, Giáo dục- Đào

tạo phải đa dạng và phong phú hơn, đòi hỏi ngƣời cán bộ quản lí trƣờng

THPTnội trú không những phải là nhà giáo mà còn là nhà quản lý kinh tế

giỏi. Cán bộ quản lí trong các trƣờng cần phải áp dụng cơ chế thay thế, luân

chuyển theo nhiệm kỳ, để từng bƣớc nâng cao chất lƣợng và ngày càng hoàn

thiện.

Để vận dụng sát hợp các tiêu chuẩn cán bộ trong Nghị quyết Trung ƣơng

3 (Khóa VIII) cần nhấn mạnh một số điểm trong phƣơng châm đào tạo, tuyển

dụng cán bộ quản lí cho trƣờng THPT nội trú Đồ Sơn nhƣ sau:

Một là, kiên trì thực hiện nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tƣ tƣởng

Hồ Chí Minh về chính sách cán bộ.

Hai là, thực hiện nội dung đào tạo bồi dƣỡng toàn diện: chính trị phẩm

chất - chuyên môn - nghiệp vụ, quản lí giáo dục, quản lý kinh tế...

Ba là, chú trọng cán bộ đã đƣợc rèn luyện trong thực tiễn, thử thách qua

tình huống giáo dục.

Bốn là, trẻ hóa đội ngũ cán bộ, chú ý cán bộ nữ (quan điểm về giới), cán

bộ có năng lực sƣ phạm, năng lực quản lý kinh tế.

Năm là, gắn các vấn đề cụ thể của ngành với tổng thể xã hội địa phƣơng

và Trung ƣơng.

3.1.2. Công tác QL nhà trường phải được chỉ đạo theo kế hoạch và bằng kế

hoạch.

Phân bố nguồn lực và đánh giá các hoạt động. Công tác này thể hiện việc

quản lý và tổ chức chặt chẽ của nhà trƣờng để đảm bảo thực hiện các mục tiêu

do trƣờng đề ra từ khâu xây dựng kế hoạch đòi hỏi phải chi tiết cụ thể, phù

hợp và có tính khả thi.



51



Một đặc điểm cơ bản của trƣờng THPTNT Đồ Sơn là có cơ cấu thành

phần nhân lực đa dạng có tới 2 cấp chuyên môn THCS và THPT do vậy các

hoạt động khó có thể diễn ra nhƣ các trƣờng công lập một bậc một cấp. Mặt

khác để tạo ra phong cách làm việc công nghiệp và thích ứng với thời kỳ mà

công nghệ thông tin đang phát triển; nhà quản lý ở các nhà trƣờng cần thiết

lập một cơ chế làm việc thích ứng, hiệu quả.

Trƣớc hết BGH nhà trƣờng cần xây dựng chƣơng trình kế hoạch từ tổng

quát đến cụ thể, tức là xây dựng kế hoạch của cả năm học cho đến tuần học.

Trong hội nghị công chức hàng năm (cần chủ động tiến hành vào tháng 7, 8)

BGH sẽ xây dựng kế hoạch năm học chuyển đến tận cá nhân để mỗi CB GV-CNV nhà trƣờng nắm đƣợc cụ thể chƣơng trình hành động và tự hoạch

định đƣợc phần công việc của mình trong năm học. Mặt khác mỗi tháng kế

hoạch cũng đƣợc phát cho giáo viên với những chƣơng trình cụ thể hơn hoặc

những điều chỉnh cần thiết.

Cần sử dụng khoa học những hệ thống thông tin bảng biểu để tạo điều

kiện cho các giáo viên dễ quan sát về lịch hoạt động trong tuần, những vấn đề

cần làm cần điều chỉnh. Bố trí trong các phòng sinh hoạt tổ nhóm một máy

tính và phòng văn thƣ thƣờng trực những hệ thống sổ sách cần thiết để giáo

viên chủ động đến thực hiện các quy chế chuyên môn vào điểm chấm điểm

ghi chép kiến nghị trên những Finle của riêng mình... Hiện nay mỗi nhà

trƣờng cần thực hiện nối mạng Internet nội bộ, ngƣòi quản lý có thể thông qua

mạng mà kiểm tra đƣợc quy chế vào điểm những phản ánh của giáo viên

thông qua các Finle của họ hoặc khuyến khích họ chủ động thực hiện gửi thƣ

điện tử hay thƣ tay phản ánh hoặc cố vấn những hoạt động quản lý.

Đƣơng nhiên ngƣời quản lý cũng cần có những thông tin kiểm tra hoạt

động của giáo viên. Trong điều kiện hiện tại có thể thu những thông tin này từ

nhiều nguồn: học sinh, CMHS và chính từ các đồng nghiệp của họ.

Tạo dựng kế hoạch và thông tin giúp con ngƣời tận dụng thời gian, tránh

đƣợc những cuộc hội họp dài bất tận. Tuy nhiên điều quan trọng lại đƣợc đặt

vào ngƣời quản lý; ở đây đòi hỏi nhà quản lý phải biết thu thập thông tin và

xử lý kết luận những thông tin ấy. Bằng những hình thức khác nhau ngƣời



52



quản lý phải chỉ ra cho ngƣời đƣợc kiểm tra những ƣu khuyết của họ giúp họ

điều chỉnh và làm công tác thƣởng phạt.

Bảng 7: Sơ đồ biểu thị mối quan hệ công tác (Chính quyền) cần và đủ

trong trường THPTnội trú Đồ Sơn

HIỆU TRƢỞNG



P.H.TRƢỞNG PHỤ

TRÁCH THPT



CÁC TỔ TRƢỞNG

THPT



GV. THPT



P.H.TRƢỞNG PHỤ

TRÁCH HÀNH CHÍNH

CSVC



G.VỤ QUẢN SINH



P.H.TRƢỞNG PHỤ

TRÁCH THCS



H. CHÍNH T.VỤ



HỌC SINH

THPT



HỌC SINH TH CS



CÁC.TỔ TRƢỞNG

THCS



GV.THCS



3.1.3. Bộ phận theo dõi chất lượng nhà trường

Muốn có đƣợc cách nhìn nhận và đánh giá đúng chất lƣợng của nhà

trƣờng thì việc đánh giá đo lƣờng chất lƣợng có thể đƣợc tiến hành từ chính

giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh và các tổ chức đoàn thể của nhà

trƣờng nhằm tự đánh giá các điều kiện ĐBCL cũng nhƣ đánh giá chất lƣợng

GD.

Nhà trƣờng có một bộ phận chuyên theo dõi các hoạt động ĐBCL, thu

thập thông tin báo cáo hiệu trƣởng để hiệu trƣởng có biện pháp xử lý kịp thời.

3.2. Đội ngũ CBQL - GV - CNV

Đứng trƣớc những yêu cầu của công cuộc đổi mới đòi hỏi đội ngũ CBQL

- GV - CNV của nhà trƣờng phải có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ thì mới

có thể đảm nhiệm và thực hiện có kết quả trƣớc những nhiệm vụ mà ngành



53



đặt ra cho nhà trƣờng, sự đòi hỏi của xã hội đối với chất lƣợng GD hiện nay.

Do vậy yêu cầu đội ngũ phải đủ về số lƣợng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hóa về

đào tạo.

3.2.1. Về số lượng cơ cấu

Đảm bảo tỷ lệ CBQL - GV trên lớp, nhân viên phục vụ tƣơng ứng theo

quy định hiện hành:

- CBQL phải đƣợc bố trí theo hạng trƣờng.

- Tổng phụ trách đội.

- Cấp THCS: 1,85 gv/lớp.

- Cấp THPT: 2,1 gv/lớp.

Nhân viên phục vụ đƣợc bố trí theo cơ cầu hành chính: Kế toán - Văn

thƣ - Thƣ viện - Thí nghiệm - Bảo vệ - Quản sinh - Y tế - Nhà bếp.

3.2.2. Về tiêu chuẩn hóa đội ngũ

CB - GV phải có bằng cấp về chuyên môn nghiệp vụ, đƣợc chuẩn hoá về

đào tạo theo đúng chuẩn quy định của Bộ GD&ĐT. Có kinh nghiệm giảng

dạy theo đặc trƣng công việc đáp ứng yêu cầu của cấp học và bậc học.

3.2.3. Quy định về chức trách chung của CB - GV - CNV

CB - GV - CNV chịu trách nhiệm chính về công tác giảng dạy giáo dục

học sinh. Khuyến khích học sinh học tốt, đánh giá kết quả học tập và tu

dƣỡng, rèn luyện của học sinh. Chịu trách nhiệm thực hiện tiến độ chƣơng

trình biên chế năm học của Bộ GD&ĐT ban hành.

CB - GV tham gia vào công tác tập huấn, bồi dƣỡng thay sách, tham gia

vào các dự án phát triển GD.

3.2.4. Đánh giá CB - GV - CNV

Nhà trƣờng phải xây dựng quy trình đánh giá CBCC theo các văn bản

hiện hành về Pháp lệnh CBCC. Nhà trƣờng phải tiến hành định kỳ đánh giá

CBCC. CBCC phải đƣợc biết các tiêu chí đánh giá đó và quy trình đánh giá



54



xếp loại CBCC theo các đợt thi đua, học kỳ, năm học không biệt CB - GV CNV. So sánh chất lƣợng GD đạt đƣợc với việc đánh giá xếp loại CBCC.

3.2.5. Thực hiện tuyển nguồn giáo viên.

Việc tuyển mộ các nguồn từ bên ngoài tổ chức không phải lúc nào cũng

dễ dàng. Theo cách làm hiện nay (đặc biệt việc tuyển mộ giáo viên mới) hầu

hết là chỉ tuyển qua hồ sơ. Hiệu trƣởng nhà trƣờng sẽ gặp phải một số vấn đề

sau:

- Hồ sơ không phản ánh đúng năng lực của giáo viên: Hiện nay một số

trƣờng đại học có hiện tƣợng đánh giá xếp loại giáo sinh không đúng thực

chất nhằm để giải quyết nguyện vọng cá nhân và ngƣời sử dụng nhân lực

không nhận ra đƣợc chất lƣợng đích thực hoặc bị ép phải nhận vì loại bằng

nằm trong diện tuyển thẳng.

- Các cơ sở giới thiệu xúc tiến việc làm thực hiện những nội dung

maketing sai lệch so với đơn vị sử dụng lao động cần vì lợi ích của mình. Rất

khó có thể xác định đƣợc một giáo sinh tốt khác với một học sinh học hệ mở

rộng nhƣ thế nào? Bởi văn bằng nhƣ nhau. Một kiểu ngƣời giả bằng thật thậm

chí ngƣời giả còn có bằng thật đẹp hơn.

- Phải chấp nhận tuyển ngƣời vì lý do thiếu hụt bộ môn mặc dù biết là

yếu.

Công tác lựa chọn. Công tác lựa chọn hiện nay (tuyển giáo viên) có

những cải tiến đáng kể nhƣng nhìn chung vẫn chƣa thoát khỏi tình trạng bất

cập. Quy trình lựa chọn hiện nay diễn ra nhƣ sau:

- Thu nhập hồ sơ đăng ký danh sách với Sở (bất kỳ ai có nguyện vọng)

- Kiểm tra trắc nghiệm (bằng hai tiết giảng).

- Kết luận sơ bộ - gửi về Sở để cân đối - Sở ra quyết định.

Trong các bƣớc này hiệu trƣởng là chủ tịch hội đồng xét tuyển và đơn vị

tuyển ngƣời có 50% giám khảo tham dự theo hình thức bốc thăm dành quyền

đánh giá. Mặc dù tính chất tuyển lựa mang màu sắc dân chủ hơn nhƣng vẫn

có những sơ suất.



55



- Hệ thống chuyên gia đánh giá giúp việc của hiệu trƣởng chỉ có 50%

(đồng nghĩa với 50% quyền quyết định).

- Số thành viên tham gia tuyển dụng (3 thành phần: Sở nội vụ - Sở giáo

dục - Trƣờng) thì khả năng khống chế các tiêu cực của hiệu trƣởng càng bị

suy giảm và sức ép từ các phía gia tăng. Có 10 sức ép diễn ra trong thực tiễn

tổng kết nhƣ sau:

1- Sức ép của cơ chế với các thủ tục rƣờm rà (đặc biệt tuyển nhân viên từ

cơ quan khác chuyển sang). 2 - Quy trình tuyển lựa còn mang tính hình thức.

3 - Sức ép quyền lực từ cấp trên. 4 - Bằng thật ngƣời giả. 5 - Sự yếu kém của

hội đồng tuyển lựa. 6 - Mối quan hệ của ngƣời xin việc với cơ quan. 7 - Mối

quan hệ xã hội ràng buộc ngƣời tuyển. 8 - Tâm lý thƣơng ngƣời không đúng

chỗ. 9 - Vụ lợi cá nhân của ngƣời tuyển. 10 - Do phải lựa chọn vì không có

nguồn khác.

- Do qui trình lựa chọn đƣợc thiết lập không có khâu sơ tuyển (Lẽ ra ở

khâu này quyền quyết định phải thuộc về ngƣời sử dụng nhân lực) nên khi lựa

chọn xong những bất cập khác tiếp tục nảy sinh. Vì không đƣợc tập việc (thực

chất là quá trình kiểm tra thử thách) nên số giáo sinh giỏi chữ mà không giỏi

nghề hoặc giáo sinh bằng thật ngƣời giả kém hoặc không có năng lực làm

việc.

+ Nhóm giáo sinh đƣợc tuyển theo cổng hậu (đặc biệt loại nhờ các thế

lực hậu thuẫn) lơ là công việc, có trƣờng hợp khống chế hoạt động quản lý

của thủ trƣởng.

Giải pháp cứu cánh cho thực trạng này có lẽ không gì hơn là thực hiện

đúng bài bản của lý luận. 1. Hoàn tất đơn xin việc - 2. Phỏng vấn chọn lựa sơ

bộ - 3. Trắc nghiệm - 4. Nghiên cứu hồ sơ và thông tin cơ bản - 5. Phỏng vấn

chọn lựa sâu - 6. Kiểm tra sức khoẻ - 7. Giao việc.

Đƣơng nhiên để đối đầu với những thách thức đã nêu rất cần thực hiện

việc đánh giá lại sau một thời gian giao việc (trƣớc khi biên chế), vì hiện nay

đội ngũ biên chế nhà nƣớc rất khó thực hiện sa thải khi mà quyền lực không

hoàn toàn thuộc về ngƣời hiệu trƣởng. Đây là một phƣơng thức ngăn chặn từ

xa buộc nhân viên mới tuyển phải nỗ lực và giảm đƣợc nhiều sức ép.



56



Đề bạt, thuyên chuyển, giáng cấp, sa thải: Đối với trƣờng THPT nội trú

nguồn nhân lực (Giáo viên) là cực kỳ quan trọng. Quá trình xây dựng đội ngũ

đòi hỏi phải tuyển đƣợc ngƣời có khả năng thực sự; đồng thời tiến hành bồi

dƣỡng nhanh tiến tới chuẩn để họ không những đủ sức làm việc nhƣ một giáo

chức ở trƣờng THPT mà còn tham gia quản lý, điều chỉnh (chỉ huy) lực lƣợng

giáo viên mới còn non tay nghề. Và đặc biệt phải năng động làm đƣợc nhiều

việc để thích ứng với hoàn cảnh nguồn nhân lực của trƣờng luôn trong tình

trạng thiếu lực lƣợng can thiệp tại chỗ.

3.2.6. Đổi mới công tác QLCM và công tác DH nhằm đạt hiệu quả

Quản lý quá trình dạy học thích ứng với trƣờng THPTNT

Lấy căn cứ là nội dung chƣơng trình pháp quy của bộ GD và ĐT để xây

dựng kế hoạch giảng dạy tới từng tuần học. Dạy đủ các bộ môn theo quy định

của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thực hiện hiện đúng phân phối chƣơng

trình.(Nội quy)

- Chỉ đạo thực hiện tốt văn bản hƣớng dẫn giảng dạy các bộ môn của

phòng Trung học Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng.

- Thực hiện tốt quản lý sự thay đổi đặc biệt về phƣơng pháp và những

chƣơng trình thay đổi trong giáo dục (Chƣơng trình phân ban, sách giáo

khoa). Trƣớc hết cần xác định bốn mục tiêu cơ bản của việc đổi mới chƣơng

trình và sách giáo khoa phổ thông là:

- Nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện tăng cƣờng bồi dƣỡng cho thế

hệ trẻ lòng yêu nƣớc, yêu quê hƣơng và gia đình, tinh thần tự tôn dân tộc, lý

tƣởng XHCN, lòng nhân ái, ý thức pháp luật,tinh thần hiếu học, chí tiến thủ,

lập thân, lập nghiệp.

- Đổi mới phƣơng pháp dạy và học phát huy tƣ duy sáng tạo và năng lực

tự học của học sinh.

- Tiếp cận trình độ GDPT ở các nƣớc trong khu vực và trên thế giới.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức phân luồng sau THCS và

THPT chuẩn bị tốt cho học sinh học tập tiếp ở bậc sau Trung học tham gia lao

động ngoài xã hội.



57



- Năm học 2004 - 2005 thay sách lớp 3 lớp 8 và lớp 10

- Năm học 2005 - 2006 thay sách lớp 4, lớp 9 và lớp 11

- Năm học 2006 - 2007 thay sách lớp 5 và lớp 12

Thực hiện sự cam kết: Cam kết của cấp lãnh đạo cao nhất, của mọi bộ

phận liên quan, Cam kết của mọi giáo viên. Biểu hiện rõ nhất của sự cam kết

đó là phải đƣa việc đổi mới phƣơng pháp dạy học vào kế hoạch hành động

hàng năm và phải có kế hoạch chỉ đạo cụ thể.

Là việc thực hiện tốt những công việc liên quan đến đổi mới phƣơng

pháp dạy học thuộc chức năng nhiệm vụ của mình và phối hợp tốt với những

bộ phận liên quan trong việc tổ chức triển khai các hoạt động đổi mới phƣơng

pháp dạy học.

Là coi việc đổi mới phƣơng pháp dạy học, từ việc soạn bài lên lớp theo

hƣớng phát huy tính tích cực nhận thức của ngƣời học cho đến khâu tổ chức

các hoạt động sự phạm trên lớp và cải tiến việc kiểm tra đánh giá các năng lực

của ngƣời học.

Kế hoạch hoá các hoạt động triển khai và tổ chức tốt việc đổi mới

phƣơng pháp dạy học trong nhà trƣờng.

Xây dựng quy trình, kế hoạch. Quá trình lập kế hoạch cần chú trọng các

bƣớc sau:

a. Quán triệt chủ trƣơng (phổ biến chỉ thị 15/BGD).

b. Thảo luận khả năng triển khai chủ trƣơng đổi mới phƣơng pháp dạy

học ở trƣờng mình.

c. Cho đăng ký hoặc chỉ định ngƣời làm điểm (theo định hƣớng nêu

trên).

d. Tạo điều kiện cho ngƣời đó triển khai điểm.

e. Tổ chức dự giờ rút kinh nghiệm.

f. Nhân rộng điển hình.

g. Tìm biện pháp duy trì phong trào.



58



h. Phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm để có thể kế hoạch hoá việc đổi

mới phƣơng pháp dạy học cho các năm học tiếp theo.

Điều quan trọng ở đây là phải cụ thể hóa những chủ trƣơng đổi mới

phƣơng pháp dạy học thành những văn bản có tính pháp quy phù hợp với điều

kiện, hoàn cảnh của nhà trƣờng; đồng thời tổ chức hƣớng dẫn cho giáo viên

quán triệt chủ trƣơng và các văn bản này để vừa tạo sự ràng buộc, vừa kích

thích động viên họ thực hiện.

Triển khai việc giám sát các hoạt động đổi mới PPDH. Kinh nghiệm

chỉ ra rằng việc đổi mới phƣơng pháp dạy học phát nhiều mà chƣa động nhiều

là do không có sự chỉ đạo liên tục và giám sát thƣờng xuyên ở cấp cơ sở (tất

nhiên còn có nhiều nguyên nhân khác nhƣ thiếu động lực, thiếu điều kiện, ...

nhƣng ở đây có vai trò của yếu tố quản lý). Để giám sát, chỉ đạo tốt quá trình

đổi mới phƣơng pháp dạy học cần: có sự phân công phân nhiệm vụ rõ ràng cụ

thể; có cơ chế phối hợp tốt; có quy trình giám sát, chỉ đạo khoa học, có

thƣởng có phạt rõ ràng.

Kiểm tra đánh giá, điều chỉnh. Để đánh giá, có thể thông qua việc

kiểm tra nhƣng cũng có thể dƣới hình thức đƣa ra một "gƣơng soi" bằng các

chuẩn đánh giá mà các khoa, các bộ môn đã thống nhất để giáo viên tự đánh

giá kết quả việc đổi mới phƣơng pháp dạy học của mình.

Việc đánh giá chính xác, khách quan những cái đƣợc và cái chƣa đƣợc

để tìm đúng nguyên nhân của chúng chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ thực

hiện chu kỳ chỉ đạo tiếp theo.

3.3. Đội ngũ học sinh

3.3.1. Tuyển sinh và phụ đạo nâng cao chất lượng đầu vào

Có chính sách và tiêu chí tuyển sinh tuân thủ sứ mệnh và nhiệm vụ của

nhà trƣờng. Chính sách và tiêu chí tuyển sinh đƣợc thông báo công khai rộng

rãi. Thông tin về mục tiêu GD của nhà trƣờng. Kết quả thi đua, đánh giá xếp

loại, kiểm tra học kỳ, thi tốt nghiệp hàng năm của trƣờng đƣợc thông báo kịp

thời cho học sinh. Các thông tin về chế độ học bổng, các giải học sinh giỏi,

các khoản hỗ trợ học sinh khó khăn, thƣởng và học bổng ngoài chế độ cấp của



59



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (98 trang)

×