1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC TUYỂN CHỌN VÀ BỒI DƯỠNG LỰC LƯỢNG GIẢNG VIÊN TRẺ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.57 MB, 108 trang )


- Phẩm chất, đạo đức tư tưởng tốt.

- Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ.

- Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp.

- Lý lịch bản thân rõ ràng.

Luật Giáo dục cũng đã quy định đầy đủ quyền hạn của giảng viên.

Đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội ngày càng cao, đòi hỏi giáo dục đại

học cần có các yêu cầu cao về năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức đối với

người giảng viên đại học. Vì vậy, người giảng viên đại học cần phải phấn đấu

để có trình độ hơn hẳn mặt bằng đào tạo và phải thường xuyên tiếp cận tri

thức mới, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp để có thể phục

vụ tốt sự nghiệp giáo dục được coi là “quốc sách hàng đầu” của Quốc gia.

Người giảng viên đại học trước tiên phải có trình độ nhất định về sư

phạm, nắm được các nguyên tắc cơ bản của giáo dục học, tâm lý học, đặc

điểm của đối tượng giáo dục, phương thức tiến hành giáo dục,… đồng thời họ

phải không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống,… để

thực sự là tấm gương sáng cho người học noi theo.

Người giảng viên đại học là nhà khoa học có trình độ chuyên môn, kỹ

năng nghề nghiệp, có phẩm chất và năng lực tư duy khoa học của nhà nghiên

cứu, thường xuyên tham gia nghiên cứu khoa học, nắm bắt kịp thời các thông

tin khoa học mới, kiến thức mới để truyền đạt lại cho sinh viên. Giảng dạy và

nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ chủ yếu của người giảng viên.

Phẩm chất chính trị của nhà giáo được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá

rất cao. Người cho rằng: “Có chuyên môn mà không có chính trị giỏi thì dù

học giỏi mấy dạy trẻ con cũng hỏng”. Vì vậy, đòi hỏi người giảng viên phải

có một bản lĩnh chính trị vững vàng.

Đối với mỗi đối tượng, yêu cầu và mức độ rèn luyện bản lĩnh chính trị

là khác nhau. Với người giảng viên, thì điều quan trọng không chỉ có nhận

thức chính trị đúng, mà còn phải có khả năng xử lý được những tình huống

chính trị ở mức độ nhất định.

10



Bất kỳ nghề nào nếu người lao động muốn giỏi nghề và cống hiến được

nhiều trong hoạt động nghề nghiệp thì phải tâm huyết với nghề. Lòng yêu

nghề sẽ tạo động lực rất lớn cho hoạt động sáng tạo và sự phấn đấu vươn lên

của mỗi người giảng viên.

Lao động nghề nghiệp của người giảng viên là lao động sư phạm đại

học, một loại hình lao động đặc biệt. Tìm hiểu đặc điểm của loại hình lao động

đặc biệt này giúp ta tìm ra được các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng

viên phù hợp. Một số nét đặc trưng cơ bản trong lao động sư phạm của người

giảng viên đó là:

- Đặc trưng về đối tượng lao động: Đối tượng tác động chủ yếu của

người giảng viên là những sinh viên đại học, học viên cao học và nghiên cứu

sinh. Trong đó, phần lớn là thanh niên - lực lượng trẻ, khoẻ, rất năng động và

nhiệt tình, có khả năng tiếp nhận tri thức mới nhanh chóng và nhạy bén trước

đời sống hiện thực. Nhiệm vụ của người giảng viên là bằng lao động sáng tạo

của mình (thông qua hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học của bản

thân), bằng phẩm chất và năng lực của nhà giáo, tác động vào các đối tượng

trên nhằm đào tạo ra những người lao động có trí tuệ, sáng tạo, có phẩm chất

đạo đức tốt, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về nguồn nhân lực chất lượng

cao cho đất nước.

- Đặc trưng về công cụ lao động: Công cụ lao động chủ yếu và quan

trọng nhất của lao động sư phạm chính là bản thân người thầy giáo với toàn bộ

nhân cách của người thầy, bao gồm: Tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, niềm

tin, lối sống, nếp sống, tri thức, trong đó tri thức có vai trò rất quan trọng.

Chính năng lực và phẩm chất của người thầy có sức lối cuốn, khích lệ rất lớn

đối với sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu. Nhân cách người thầy

càng hoàn hảo thì công cụ lao động của người thầy càng sắc bén, là điều kiện

thuận lợi để người thầy đạt hiệu quả cao trong lao động sáng tạo của mình.

- Đặc trưng về sản phẩm lao động: Sản phẩm lao động sáng tạo của

người giảng viên đại học là nhân cách của người học, gồm toàn bộ các giá trị

11



về thể chất và tinh thần của người học sau khi trải qua quá trình đào tạo của

một khoá học (họ trở thành những người lao động trí thức với đầy đủ các

phẩm chất và năng lực cần có trong một lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp nhất

định) và những kết quả nghiên cứu khoa học.

Sản phẩm lao động sáng tạo của người giảng viên đại học rất khó xác

định được một cách cụ thể về mặt định lượng mà chủ yếu được đánh giá gián

tiếp thông qua giá trị khoa học của bài giảng (lượng thông tin, phương pháp

tiếp cận, sự nhận thức, tiếp thu của sinh viên,…), giá trị lý luận và thực tiễn

của những phát minh khoa học mà họ tạo ra. Tất cả những sản phẩm đó

không chỉ đánh giá đơn thuần bằng những con số cụ thể, ngay lập tức, mà có

khi phải vài năm, thậm chí hàng chục năm sau, những phát minh khoa học,

tiềm năng của sinh viên ra truờng mới phát huy tác dụng và nở rộ khi gặp

điều kiện thích hợp.

- Đặc trưng về giáo dục: Khác với giáo dục phổ thông, giáo dục đại học

khác cả về mục tiêu, nội dung và phương pháp. Giáo dục phổ thông nhằm dạy

cho học sinh ở tuổi vị thành niên những kiến thức phổ thông cơ bản về thế giới

và xã hội. Còn đối tượng của giáo dục đại học là sinh viên, họ phải học một

lượng kiến thức tổng hợp rộng và sâu hơn so với phổ thông, sau đó tập trung

học kiến thức chuyên ngành và những bộ môn khoa học có liên quan để trở

thành những chuyên gia của ngành đó. Phương pháp dạy và học chủ yếu theo

phương pháp phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học. Giảng

viên là người tổ chức các hoạt động học tập, tìm tòi, sáng tạo của sinh viên.

Luôn cải tiến phương pháp dạy học, xây dựng môi trường GD&ĐT tích cực

tạo mọi điều kiện phát huy năng lực, trí tuệ, tư duy của sinh viên, kết hợp hài

hoà giữa học thầy với học bạn. Người thầy phải có sự chuẩn bị kỹ về nội dung

và sáng tạo trong phương pháp, với phương pháp hợp lý thúc đẩy tính tích

cực, chủ động tự giác trong học tập của sinh viên, động viên cổ vũ kịp thời sự

sáng tạo của họ, giúp họ không ngừng vươn lên trong học tập và lao động sáng

tạo.

12



- Đặc trưng về môi trường: Môi trường lao động của người giảng viên

là một môi trường đặc biệt, trong đó các yếu tố giáo dục mang tính văn hoá,

đạo đức rất cao, do đó việc học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ, rèn luyện

phẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống, phải rất được coi trọng. Người

thầy, người giảng viên phải thực sự là tấm gương sáng cho những trí thức

trẻ tương lai noi theo.

Như vậy, giảng viên là những người lao động trí thức, với đặc trưng lao

động trí tuệ sáng tạo, họ là những người làm công tác giảng dạy, trực tiếp

tham gia vào quá trình giáo dục đại học nhằm đào tạo nguồn nhân lực có trình

độ cao, bồi dưỡng và phát triển nhân tài cho đất nước, là lực lượng chủ yếu

giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường.

Các yêu cầu đối với giảng viên

Để hoàn thành được vai trò, nhiệm vụ của mình, người giảng viên cần có

những năng lực nhất định. Có nhiều khái niệm về năng lực của nguồn nhân

lực.

Theo từ điển tiếng Anh : "Năng lực là sản phẩm của nhiều khả năng được

nhân lên bởi đào tạo và các cơ hội".

Theo các nhà quản trị nhân lực: "Năng lực là những thuộc tính về tâm lý

của cá nhân giúp cho việc con người lĩnh hội một lĩnh vực kiến thức nào đó

được dễ dàng và nếu họ hoạt động trong lĩnh vực đó thì sẽ đạt được kết quả

cao" [9].

Xem xét một cách tổng hợp, năng lực là tập hợp các kỹ năng, kiến thức,

hành vi và thái độ mà các cá nhân sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu công

việc của tổ chức đề ra. Cũng theo quan điểm trên, năng lực, một mặt mang tính

di truyền, một mặt được hình thành, thể hiện và hoàn thiện trong hoạt động.

Đối với đội ngũ giảng viên, trình độ và năng lực của họ một mặt có thể

được đánh giá thông qua học hàm, học vị (đây là những danh hiệu được xã hội

công nhận thông qua thành tích hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học),

một mặt, để chính xác hơn, phải đánh giá thông qua chất lượng hoạt động thực

13



tiễn của họ trong môi trường giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

Những yêu cầu cụ thể đối với giảng viên đại học được quy định theo tiêu

chuẩn ngạch giảng viên trong Tiêu chuẩn chung các ngạch công chức chuyên

ngành giáo dục và đào tạo ban hành kèm theo quyết định số 202/TCCP- VC

ngày 08/06/1994 của ban Tổ chức - cán bộ Chính phủ. Trong đó, giảng viên

được phân chia thành ba ngạch: giảng viên, giảng viên chính và giảng viên cao

cấp. Mỗi ngạch lại có những tiêu chuẩn hay yêu cầu về trình độ riêng.

Đối với giảng viên, viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và

đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường

đại học hoặc cao đẳng, yêu cầu về trình độ bao gồm:

- Có bằng cử nhân trở lên.

- Đã qua thời gian tập sự giảng viên theo quy định hiện hành

- Có ít nhất hai chứng chỉ bồi dưỡng sau đại học: chương trình chính trị,

triết học nâng cao cho nghiên cứu sinh và cao học và chứng chỉ những vấn đề

cơ bản về tâm lý học và lý luận dạy học ở bậc đại học.

- Sử dụng được một ngoại ngữ trong chuyên môn ở trình độ B.

Giảng viên chính là viên chức chuyên môn đảm nhiệm vai trò chủ chốt

trong giảng dạy và đào tạo bậc đại học và sau đại học thuộc một chuyên ngành

đào tạo của trường đại học. Tiêu chuẩn để công nhận là một giảng viên chính

bao gồm:

- Có bằng thạc sỹ trở lên.

- Có thâm niên ở ngạch giảng viên ít nhất là 9 năm.

- Sử dụng được một ngoại ngữ trong chuyên môn ở trình độ C.

- Có đề án hoặc công trình sáng tạo được cấp khoa và trường công nhận

và được áp dụng có kết quả trong công việc.

Giảng viên cao cấp là viên chức có chuyên môn cao nhất đảm nhiệm vai

trò chủ trì, tổ chức chỉ đạo, thực hiện giảng dạy và đào tạo bậc đại học và sau

đại học, chuyên trách giảng dạy về một chuyên ngành đào tạo ở trường đại

học. Đây là đội ngũ nòng cốt trong quá trình giảng dạy, giữ vai trò chủ đạo

14



trong công tác chuyên môn và đảm nhiệm các công việc đòi hỏi có chuyên

môn và nghiệp vụ cao, chủ trì các hoạt động khoa học, là tiêu biểu cho phương

hướng phát triển mới của bộ môn. Yêu cầu với giảng viên cao cấp bao gồm:

- Có bằng tiến sỹ về chuyên ngành đào tạo

- Là giảng viên chính có thâm niên giảng dạy ở ngạch tối thiểu là 6 năm.

- Có trình độ lý luận chính trị cao cấp

- Sử dụng được hai ngoại ngữ để phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa

học và giao tiếp quốc tế (ngoại ngữ thứ nhất tương đương với trình độ C,

ngoại ngữ thứ hai tương đương với trình độ B).

- Có tối thiểu ba (03) công trình khoa học sáng tạo được Hội đồng

khoa học trường đại học hoặc chuyên ngành công nhận và đưa vào áp

dụng có hiệu quả.

1.1.1.2. Giảng viên trẻ

Lực lượng giảng viên có thể chia theo độ tuổi: dưới 30 tuổi; từ 30 đến

dưới 50 tuổi; từ 50 đến 60 tuổi; trên 60 tuổi. Giảng viên trẻ là những giảng

viên ở độ tuổi dưới 30 tuổi, có trình độ từ cao đẳng đến tiến sỹ khoa học, được

bổ nhiệm làm giảng viên giảng dạy ở các trường đại học và cao đẳng theo hệ

thống chức danh của Bộ Giáo dục và Đào tạo; là lực lượng kế cận giữ vai trò

quyết định đến chất lượng giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học của mỗi

nhà trường trong hiện tại và tương lai.

Căn cứ vào hoạt động nghề nghiệp và lứa tuổi của lực lượng này có thể

đưa ra một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất: Giảng viên trẻ là những con người đang có sự trưởng thành

về mọi mặt. Với tư cách là một con người cá thể tuổi từ 22 đến 30, đang

trưởng thành, có khả năng phát triển về trí tuệ và nhân cách cùng với sự phát

triển tiếp về thể chất. Đó là những năm tháng sung sức, đẹp đẽ nhất của đời

người. Đứng ở góc độ sinh học, lứa tuổi của lực lượng này được coi là một

cấp độ phát triển hoàn thiện về mặt thể chất. Trong các giai đoạn của một đời

người, tuổi thanh niên là biểu tượng của sự trẻ trung, mạnh mẽ, hoạt động, hy

15



vọng và ước mơ. Đây chính là giai đoạn mà họ tự khẳng định về vai trò, vị trí

và trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp giáo dục và đất nước. Tuy vậy lực

lượng này còn có những hạn chế nhất định, bên cạnh sự mạnh dạn, dám nghĩ,

dám làm, là tính bồng bột, nông nổi, thiếu kinh nghiệm thậm chí cả sự “liều

lĩnh”, “kiêu ngạo”,.. Có sự tiềm ẩn những khả năng to lớn, những yếu tố tích

cực và tiêu cực đan xen trong bản thân mỗi một con người cụ thể. Nhìn từ góc

độ này ta thấy xuất hiện một mâu thuẫn trong sự phát triển của lực lượng này,

ở họ, mặt tự nhiên có tốc độ phát triển nhanh hơn mặt xã hội trong quá trình

hoàn thiện bản chất con người. Đó là mâu thuẫn của quá trình tự phát triển

trong bản thân nó với những phẩm chất xã hội chưa chín muồi. Để giải

quyết tốt mối quan hệ này thì việc giáo dục lý tưởng cách mạng, lối sống xã

hội chủ nghĩa và hướng dẫn họ vào mục tiêu chung của dân tộc có vai trò

đặc biệt quan trọng. Quan điểm chỉ đạo và hướng dẫn ở đây là phải chú ý

đáp ứng nhu cầu hợp lý và tồn tại và các hoạt động mang tính đặc thù về

lứa tuổi, giới tính, tình yêu và tình bạn.

Thứ hai: Lực lượng giảng viên trẻ là lực lượng có trình độ học vấn cao,

có khát vọng vươn lên.

Cũng như tầng lớp thanh niên, lực lượng giảng viên trẻ có những khát

khao lý tưởng và hành động thực hiện lý tưởng, hướng tới các giá trị xã hội

nhưng lại chưa có kinh nghiệm và sự từng trải để so sánh nên việc đánh giá,

suy xét, lựa chọn các định hướng giá trị theo tinh thần duy lý. Những con

người đang trưởng thành về mặt sinh lý này sống nặng về tình cảm hơn là lý

trí, họ còn mang trong mình tính bồng bột, nông nổi. Họ là nhóm xã hội có

trình độ học vấn tương đối cao, năng động, nhạy cảm, nên dễ dàng tiếp nhận

và hội nhập cái mới. Họ hay di chuyển sự chú ý, thay đổi hứng thú, sở thích,

dễ dàng tiếp thu kể cả tích cực và tiêu cực. Sự nhạy cảm, xúc cảm trực tiếp

mạnh hơn và đi trước năng lực phân tích bằng lý trí khoa học về mọi vấn đề

của đời sống, về bản chất con người và xã hội. Do đó, có thể dẫn đến những

mâu thuẫn xung đột thế hệ về tâm lý và tính cách xã hội. Do bị chi phối bởi

16



những quan niệm khác nhau về trình độ văn hóa, học vấn và kinh nghiệm

sống... nên về quá khứ họ dễ có cách nhìn và cách đánh giá xuất phát từ cảm

hứng phê phán, thậm chí có cả phê phán phiến diện, chủ quan và cực đoan.

Với tương lai, trong một chừng mực nào đó, họ thường hay lý tưởng hóa,

nhưng cũng dễ thất vọng, chán nản, hoài nghi khi gặp khó khăn khốc liệt trong

đời sống tình cảm, trong nghiên cứu khoa học. Để khắc phục tình trạng này,

cần phải áp dụng hàng loạt các biện pháp giáo dục đạo đức, nhân cách và lối

sống cho họ, đặc biệt là trong giáo dục truyền thống và đối thoại với đội ngũ

này theo nguyên tắc dân chủ, tôn trọng suy nghĩ độc lập và tư do tư tưởng của

họ. Mặt khác, cần lôi cuốn, thuyết phục và giúp họ tự điều chỉnh. Đồng thời

cần chú ý tạo mối quan hệ bình đẳng giữa lực lượng giảng viên trẻ với lớp

người đi trước, nhằm động viên, phát huy thế mạnh và tiềm lực của đội ngũ

này, giúp họ biết phát huy, thừa kế truyền thống hào hùng của dân tộc. Cần

làm cho cán bộ giảng viên trẻ không có thái độ kiêu ngạo, tự mãn, tự ngộ nhận

và huyễn hoặc bản thân cũng như trạng thái mặc cảm, tự ti, an phận và thụ

động.

Thứ ba: Lực lượng giảng viên trẻ là một nhóm xã hội đặc thù.

Đang còn ở lứa tuổi thanh niên, lực lượng giảng viên trẻ có những

vấn đề của riêng mình, luôn tự khẳng định mình trong nhà trường và xã hội.

Họ dễ bị cuốn hút vào các sự kiện khác nhau của cuộc sống vật chất, nhạy

cảm về nhân cách. Đó là sự nhạy cảm về các giá trị dân chủ, công bằng và

tự do. Họ có yêu cầu cao về lòng tự trọng, được tôn trọng và tin cậy. Mọi sự

xúc phạm thô bạo đến nhân cách, lòng tự trọng của họ đều có hại, thậm chí

còn rất nguy hiểm.

Ngay từ khi tham vào công tác giảng dạy, lực lượng giảng viên trẻ được

tiếp cận với tri thức khoa học, đòi hỏi phải huy động cao các chức năng tâm

lý, huy động toàn bộ vốn tri thức, kinh nghiệm để làm chủ, chiếm lĩnh các tri

thức và đối tượng đó. Càng đi sâu khám phá những bí mật khoa học trong đối

tượng càng kích thích óc tò mò, lòng kiêu hãnh của tuổi trẻ. Kết quả tìm tòi,

17



khám phá đem lại những niềm vui bất ngờ cho người giảng viên trẻ, làm cho

họ càng ham mê với công việc của mình. Ý nghĩa chính trị của những kết quả

đó cũng góp phần lôi cuốn, kích thích, làm cho họ càng say mê nghiên cứu sâu

hơn, miệt mài hơn. Nhờ đó tri thức nghề nghiệp của họ ngày càng được bồi

đắp, rèn luyện, năng lực hoạt động thực tiễn ngày càng được nâng cao.

Thứ tư: Lực lượng giảng viên trẻ là những cán bộ ham học hỏi, cầu tiến

bộ, luôn mong muốn được cống hiến, là lực lượng nắm giữ tri thức khoa học

trong tương lai, nhưng do tác động của kinh tế thị trường đã xuất hiện một bộ

phận nhỏ cán bộ giảng viên trẻ không toàn tâm toàn ý với nhiệm vụ được

giao.

Khát vọng vươn lên của cán bộ giảng viên trẻ được thể hiện ở sự khao

khát học tập và sáng tạo trong lao động nghề nghiệp. Họ không bằng lòng với

trình độ hiện có, luôn có mong muốn được học tập, nghiên cứu khoa học, cập

nhật kiến thức mới để không ngừng nâng cao trình độ trí tuệ của mình. Niềm

vui được học tập, được cống hiến mạnh mẽ hơn tất cả các lợi ích trước mắt.

Họ luôn đặt mục tiêu thành công trong học tập và công tác lên trên hết. Vì vậy

cán bộ giảng viên trẻ thực sự đang ở độ tuổi phấn đấu và rèn luyện không suy

tính thiệt hơn về lợi ích mà lấy các giá trị chính trị – xã hội, các phần thưởng

về tinh thần làm động lực cho sự phấn đấu. Họ sẽ là lực lượng tiếp bước các

thế hệ đàn anh, lớp giảng viên cao tuổi nắm vững tri thức khoa học trong

tương lai. Đây là đặc điểm quan trọng làm cơ sở để các cấp lãnh đạo có những

chính sách định hướng phát huy nguồn lực cán bộ giảng viên trẻ.

Tuy nhiên, do tác động mạnh mẽ của cơ chế thị trường; thêm vào đó

do thực tế nền kinh tế nước nhà còn gặp nhiều khó khăn, nhà trường chưa

đáp ứng được đầy đủ những nhu cầu của cán bộ giảng viên trẻ, nên không ít

cán bộ giảng viên trẻ làm việc không hết mình, không toàn tâm toàn ý hoàn

thành các nhiệm vụ được giao, không toàn tâm toàn ý đóng góp trí tuệ và

công sức cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Để khắc phục điểm yếu này,

trong công tác quản lý cán bộ giảng viên trẻ phải tạo ra một môi trường

18



nhân lực thuận lợi trong đó chứa đựng những yếu tố tạo nên động lực, khơi

dậy tính tích cực, sáng tạo trong hoạt động giáo dục - đào tạo và nghiên cứu

khoa học của nhà trường.

1.1.2. Công tác tuyển chọn

Công tác tuyển chọn bao gồm 2 hoạt động chủ yếu là tuyển mộ và lựa

chọn.

Mục đích của việc tuyển mộ là tạo ra một nhóm đủ lớn các ứng viên từ

đó tổ chức có thể lựa chọn những thành viên có kỹ năng cần thiết. Trước hết,

phải mô tả công việc và vị trí công tác, có nghĩa là nhà tuyển dụng phải “nêu

rõ tên gọi (chức danh) công việc hay vị trí công tác; trách nhiệm, nghĩa vụ,

quyền hạn; vị trí sắp đặt trong tổ chức” [15, tr .38].

Sau đó phải đưa ra yêu cầu hay tiêu chuẩn tuyển mộ về trình độ học

vấn, chứng chỉ, kinh nghiệm, kỹ năng tay nghề để hoàn thành công việc hay vị

trí quản lý sẽ đảm đương. Nguồn tuyển mộ có thể từ bên trong tổ chức hoặc

bên ngoài tổ chức. Mỗi nguồn tuyển mộ đều có ưu điểm, nhược điểm riêng.

Chẳng hạn như nếu tuyển mộ từ bên trong tổ chức người được tuyển mộ có

thể thích nghi nhanh chóng với nhiệm vụ mới vì họ đã quen với hoạt động,

truyền thống, luật lệ của tổ chức khích lệ sự trung thành kiên định với tổ chức;

cổ vũ nỗ lực của các thành viên trong tổ chức và ít tốn kém hơn. Tuy nhiên,

nhược điểm của cách làm này là dễ dẫn đến sự tự mãn của nhiều thành viên

trong tổ chức gây nên trạng thái tâm lý “sống lâu lên lão làng”. Nếu tuyển mộ

từ nguồn ngoài tổ chức thì cần phải lưu ý đến vấn đề pháp luật, áp lực từ bên

ngoài tổ chức, sự ảnh hưởng và tác động của người quản lý và tốn kém hơn.

Nguồn tuyển mộ từ bên trong tổ chức thường được áp dụng trong tuyển mộ

cán bộ quản lý, còn tuyển mộ giảng viên phần lớn từ nguồn bên ngoài tổ chức,

có chăng ở mỗi nhà trường trong quá trình đào tạo sinh viên, chú trọng tuyển

chọn một số sinh viên xuất sắc nhất và bồi dưỡng những sinh viên này, sau đó

giữ lại làm giảng viên trong nhà trường.



19



Trên cơ sở kết quả tuyển mộ, quá trình chọn lựa được tiến hành.

Trong quản lý nguồn nhân lực nói chung và trong quản lý đội ngũ giảng

viên của trường đại học nói riêng, quá trình chọn lựa thực chất là đều là

quá trình “ra quyết định” hai chiều: một chiều là tổ chức/nhà trường

“quyết định” chọn lựa một người nào đó trở thành thành viên/giảng viên

của tổ chức/nhà trường và đương sự “quyết định” chấp nhận việc giảng

dạy cho trường trên cơ sở hai bên thống nhất với nhau về quyền và nghĩa

vụ của mỗi bên.

Khi đã chọn lựa được nhân viên vào làm việc trong tổ chức của mình

rồi, tổ chức phải có trách nhiệm định hướng hoạt động cho họ hay nói cách

khác là tạo điều kiện cho họ hội nhập vào môi trường làm việc của tổ chức.

Định hướng là một quá trình chính thức hay không chính thức nhằm

giới thiệu cho người mới đến làm quen với nhiệm vụ mới, với đồng nghiệp

mới và các chính sách của tổ chức. Mục đích của việc định hướng là:

- Đẩy nhanh sự phát triển để đạt được kết quả làm việc mong đợi.

- Người mới đến sẽ hoà nhập nhanh vào tổ chức vì họ hiểu rõ những

giá trị của tổ chức cần tuân thủ và giữ gìn.

- Giảm bớt công sức và thời gian mà người quản lý phải bỏ ra để huấn

luyện người mới đến.

- Giảm sự hoán chuyển thành phần tổ chức, người mới gia nhập tổ chức

yên tâm làm việc lâu dài trong tổ chức” [15, tr.37-38].

Vậy trong việc tuyển chọn giảng viên mới, nhà trường cần phải giới

thiệu về những quy định, quy chế của trường, về SV, về chương trình định

hướng của trường, về giảng viên cũ, về các chế độ chính sách… giúp giảng

viên mới nhanh chóng nắm bắt và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

1.1.3. Công tác bồi dưỡng



20



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (108 trang)

×