1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.67 MB, 124 trang )


CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO



1.1. Tổng quan hệ thống giáo dục nghề nghiệp:

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường duy nhất để phát triển

nền kinh tế - xã hội đối với bất cứ quốc gia nào, nhất là các nước chậm và

đang phát triển. Chỉ có công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới có thể rút ngắn

được thời gian phát triển kinh tế - xã hội so với các nước “đi trước”. Trong

công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, con người - nguồn nhân lực - với

tư cách là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội, chính là yếu tố quyết

định quan trọng nhất, là động lực cơ bản nhất. Thực tế đã chứng minh,

nguyên nhân dẫn đến sự thành công của các quốc gia và vùng lãnh thổ có

nền công nghiệp phát triển ở Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo,

Hồng Công, Đài Loan… không chỉ bắt nguồn từ khoa học - công nghệ mà

chủ yếu là dựa vào nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có hàm

lượng chất xám cao. Vì thế, có thể khẳng định, nguồn nhân lực đã trở thành

yếu tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng mang tính quyết định nhất đối với sự

phồn thịnh của quốc gia, dân tộc. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp có vai trò

và vị trí quan trọng trong công tác phát triển nguồn nhân lực của các quốc

gia.

1.1.1. Một số nƣớc trên thế giới:

Trong các thập kỷ qua, rất nhiều nước trên thế giới đã duy trì và phát

triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân của

mình. Loại hình giáo dục này nhằm đào tạo nguồn nhân lực có nhiều trình

độ: Kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ, công nhân kỹ thuật nhằm đáp ứng

kinh tế - xã hội của đất nước. Đặc điểm của đội ngũ nhân lực này là trình

độ nằm trong diện rộng, từ công nhân và nhân viên có trình độ sơ cấp,

trung cấp đến trình độ tương đương với Cao đẳng. Trình độ đào tạo thấp



14



hay cao phụ thuộc vào yêu cầu của từng ngành nghề, từng trường quy định

và ở mỗi nước khác nhau. Việc nghiên cứu mô hình tổ chức quản lý và

quản lý giáo dục ở một số nước sẽ giúp ta so sánh và suy nghĩ, hiểu biết tốt

hơn nền giáo dục nước mình, biết người thấu đáo để hiểu mình rõ ràng hơn,

từ đó có các biện pháp cải tiến hoặc cải cách những vấn đề gay cấn trong

nền giáo dục nước mình. Đồng thời vận dụng một cách sáng tạo vào cách

thức quản lý giáo dục nghề nghiệp ở nước ta trong giai đoạn tới.

1.1.1.1. Ở Pháp

Giáo dục phổ thông của Pháp được phân luồng từ năm thứ ba của

trung học cấp I (Tương đương với lớp 7 ở nước ta) Học sinh đã chia làm

hai hướng: Phổ thông và công nghệ, và đến năm đầu trung học cấp II học

sinh vào học trong 4 loại trường LEG ( lycee d’enseignement generale), LT

( lycee technique), LEP ( lycee d’enseignement proessionnel), ES ( e’cole

spe’cialise’e). Trường thứ nhất mang tính chất phổ thông, còn ba loại

trường sau mang tính chất nghề nghiệp hoặc kết hợp giữa phổ thông và

nghề nghiệp.Về các loại hình trường trung học chuyên nghiệp của Nguyễn

Tiến Đạt

- Trường LEP có thể coi tương đương trường dạy nghề của nước ta.

Học sinh học hai năm đầu tốt nghiệp được nhận bằng nghề và có thể đi làm

việc, nếu học tiếp một năm sẽ được nhận chứng chỉ năng lực nghề hoặc học

tiếp hai năm sẽ lĩnh bằng tú tài nghề, có giá trị tương đương như các bằng

tú tài khác và bằng kỹ thuật viên, hoặc có thể chuyển sang trường khác để

tiếp tục học theo hướng công nghệ hoặc phổ thông.

- Loại hình trường ES chiếm một số lượng rất nhỏ, tuyệt đại đa số

nhân lực trình độ trung cấp như kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ là

những người tốt nghiệp các trường LT có sự đào tạo kết hợp giữa phổ

thông và nghề nghiệp tương tự như loại hình trường trung học nghề ở nước



15



ta hoặc những người tốt nghiệp trường LEP với chương trình hoàn chỉnh;

mô hình đào tạo ở đây là 9+(3-4).

- Đào tạo nghề ở Pháp có hướng đi lên để nâng cao trình độ đến kỹ

thuật viên hoặc chuyển trường để học lên, mở ra nhiều cơ hội học tập tiếp

của người tốt nghiệp trường nghề.

- Loại hình trường đào tạo nghề ở Pháp có thể là đơn cấp như LT,

IUT (institut universitaire de technologie), và ES, nhưng cũng có thể là đa

cấp như LEP và LT có STS ( section des techniciens supeperieus).

1.1.1.2. Ở Đức:

Các loại hình trường của giáo dục nghề nghiệp ở Đức rất đa dạng,

đặc biệt là các loại hình trường đào tạo nghề hoặc giáo dục phổ thông kết

hợp với đào tạo nghề. Trường chuyên nghiệp ở Đức bao gồm nhiều ngành

học. để vào học được trường chuyên nghiệp, học sinh phải kết thúc việc

đào tạo ban đầu ở một trong các loại hình trường nghề, một bộ phận sau

một thời gian làm việc có kinh nghiệm lâu năm, một bộ phận khác chứng tỏ

có năng khiếu đặc biệt về chuyên môn, mô hình đào tạo có thể tóm tắt như

sau: 4 năm trường cơ sở ( tiểu học) + 5 năm trường chính +3 năm đào tạo

nghề +(1/2- 2) năm trường chuyên nghiệp. Trong hệ thống giáo dục của

Đức, vị trí người tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp xếp ngang hàng vị trí

người tốt nghiệp đại học, vì ưu thế của họ là đã có một số năm kinh nghiệm

trong nghề nghiệp hoặc là người có năng khiếu đặc biệt sau khi tốt nghiệp

các loại hình trường nghề. Về các loại hình trường trung học chuyên

nghiệp của Nguyễn Tiến Đạt

1.1.1.3. Ở Ôxtrâylia:

Ôxtrâylia không có một hệ thống trung học chuyên nghiệp riêng tách

rời hệ thống dạy nghề như ở Việt Nam, mà gắn bó chung trong một hệ

thống giáo dục nghề nghiệp. Trình độ của hệ thống này trải dài từ trình độ

sơ cấp qua trình độ trung cấp bậc thấp đến trình độ trung cấp bậc cao tương



16



đương cao đẳng, cung cấp nguồn nhân lực ở mọi trình độ sơ cấp và trung

cấp.

Hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở Ôxtrâylia có các chứng chỉ bậc

thấp nhất có thể so sánh tương đương chứng chỉ và bằng cao nhất của hệ

thống giáo dục phổ thông, và đặc biệt hơn nữa là văn bằng cao nhất của hệ

thống này lại có thể so sánh tương đương với các văn bằng thấp nhất của hệ

thống giáo dục đại học, tạo điều kiện cho người học có nhiều cơ hội học tập

vì có thể chuyển đổi hệ thống một cách dễ dàng. Tất cả các chứng chỉ và

văn bằng của cả ba hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp,

giáo dục đại học đều được thống nhất với nhau trong một khung hệ thống

bằng cấp chung của Ôxtrâylia. Về các loại hình trường trung học chuyên

nghiệp của Nguyễn Tiến Đạt

1.1.1.4. Ở Thái Lan:

Các loại hình đào tạo nghề đều là đa cấp, tiến hành dạy nghề để lấy

chứng chỉ nghề, đến đào tạo kỹ thuật để lấy bằng kỹ thuật, thậm chí có loại

hình trường đào tạo cả đại học. Các con đường đào tạo trong các loại hình

trường nối tiếp nhau, không bị đứt quãng.

Căn cứ vào số năm đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp, có thể xếp

đào tạo nghề vào bậc trung học; đào tạo lấy bằng kỹ thuật cũng như kỹ

thuật viên và bằng nghề có trình độ cao hơn chứng chỉ nghề có thể xếp vào

cấp cao đẳng. Đào tạo nghề và kỹ thuật ở trình độ cao sau nhiều năm đào

tạo được coi là rất có giá trị và xếp ngang hàng tốt nghiệp đại học. Về các

loại hình trường trung học chuyên nghiệp của Nguyễn Tiến Đạt

1.1.2. Việt Nam:

1.1.2.1. Sự phát triển của hệ thống giáo dục nghề nghiệp:

Trước nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu phát triển nhân

lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, ngày 26/3/1998

Chính phủ đã có Quyết định số 67/1998/QĐ - TTg về việc chuyển giao



17



nhiệm vụ quản lý nhà nước về đào tạo nghề từ Bộ Giáo dục và đào tạo

sang Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, tiếp theo đó Chính phủ có Nghị

định số 33/1998/NĐ - CP ngày 23 tháng 5 năm 1998 tái thành lập lại Tổng

cục dạy nghề. Quyết định quan trọng trên tạo ra bước phát triển mới của

đào tạo nghề trước ngưỡng cửa thế kỷ 21.

Quyết định 132/2000/QĐ - TTg ngày 24/11/2000 về một số chính

sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, trong đó có những quy

định về đào tạo nghề cho nông dân. Đây chính là những thuận lợi rất cơ

bản để phát triển hệ thống đào tạo nghề rộng khắp trên cả nước với nhiều

loại hình đào tạo khác nhau phù hợp với nhu cầu phát triển chung của cả

nước cũng như của từng vùng, từng địa phương và từng ngành kinh tế.

Cùng với việc tăng đầu tư cho giáo dục và đào tạo, trong đó có đào

tạo nghề, Nhà nước chủ trương vay vốn của nước ngoài để phát triển đào

tạo nghề như: Dự án Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp với vốn vay 121 triệu

USD của Ngân hàng Châu Á và các nhà tài trợ khác; đang xây dựng các dự

án vay vốn của Cộng hoà liên bang Đức, Hàn quốc để phát triển một số

trường trọng điểm trong hệ thống.

Các dự án hợp tác đa phương, song phương về đào tạo nghề với

Cộng đồng Châu Âu (Eu), các nước trong khu vực (Asean), Nhật bản, Hàn

quốc, Thuỵ sỹ, Cộng hoà liên bang Đức, Australia, Áo, Hà Lan,

Lucxămburg …

Trong cơ cấu lao động thì lao động qua đào tạo nghề là lực lượng

đông đảo nhất, trực tiếp tham gia sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội.

Khi nghiên cứu về hệ thống nghề nghiệp ở Việt Nam (năm 1997) các

chuyên gia trong và ngoài nước đều khẳng định: Hệ thống giáo dục nghề

nghiệp đã bị quên lãng trong một thời gian dài. Đã đến lúc chúng ta nhìn

nhận thực tế vai trò của đào tạo nghề với quan niệm và cách nhìn khác. Đào

tạo nghề được xác định là một trong những công cụ mạnh nhất để cho các



18



thành viên trong cộng đồng đối mặt với những thách thức mới và tự tìm

thấy vai trò của mình trong xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà Hội nghị

quốc tế có hơn 150 nước tham dự với chủ đề “ Giáo dục kỹ thuật nghề

nghiệp trước thềm thế kỷ XXI”, được tổ chức tại Hàn Quốc năm 1999, đã

đưa ra khuyến nghị:

- Uy tín và địa vị của đào tạo nghề phải được tăng cường trong con

mắt của cộng đồng và các phương tiện thông tin đại chúng.

- Học suốt đời là cuộc hành trình với nhiều hướng đi, trong đó giáo

dục kỹ thuật nghề nghiệp là hướng đi chủ yếu trong cuộc hành trình này.

Đứng trước tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế với các nước trong

khu vực và trên thế giới, đồng thời nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội,

công tác đào tạo nghề được Đảng và nhà nước đặc biệt coi trọng thể hiện ở

những vấn đề sau:

* Cơ sở pháp lý:

- Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 đã đề ra mục tiêu:

“Hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành, đáp ứng nhu cầu

phát triển kinh tế - xã hội, trong đó chú trọng phát triển đào tạo nghề ngắn

hạn và đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ có

trình độ cao dựa trên nền học vấn trung học phổ thông hoặc trung học

chuyên nghiệp”4

- Quyết định số 48/2002/QĐ-TT ngày 14/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ

về quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002-2010 chỉ rõ:

- Hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành, thực hiện các

chương trình dạy nghề ngắn hạn dưới một năm (bán lành nghề) và dài hạn

từ một đến ba năm (lành nghề và trình độ cao);

- Từng bước xây dựng và hoàn thiện những trường dạy nghề theo

hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá để tăng năng lực, chất lượng và hiệu quả



19



đào tạo; tập trung đầu tư để nâng cấp và phát triển các trường dạy nghề

chất lượng cao phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội;

- Nâng tỷ lệ tuyển sinh học nghề dài hạn với tổng quy mô tuyển sinh

học nghề từ 16% (năm 2000) lên 22% (năm 2005) và 15% (năm 2010).

11

Hàng loạt chủ trương chính sách, văn bản quy phạm pháp luật được

ban hành như nghị định hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động và Luật Giáo

dục, Nghị định về xã hội hoá giáo dục đào tạo, Nghị định về đầu tư nước

ngoài, các quyết định về điều lệ trường dạy nghề, quy chế trung tâm dạy

nghề, quy định chế độ làm việc của giáo viên dạy nghề, quy định về việc sử

dụng, bồi dưỡng giáo viên; quy định nguyên tắc xây dựng chương trình,

thông tư ban hành danh mục nghề đào tạo, quy định về thi, kiểm tra xét lên

lớp, tốt nghiệp v.v. Các văn bản trên đã tạo nên hành lang pháp lý phát

triển đào tạo nghề trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển ngành đào tạo nghề, kế hoạch

đào tạo nghề giai đoạn 1998 - 2000, chiến lược phát triển giáo dục giai

đoạn 2001 - 2010, quy hoạch mạng lưới trường dạy nghề giai đoạn 2002 2010 đã được Chính phủ phê duyệt. Đây là căn cứ pháp lý để phát triển và

đầu tư cho các cơ sở dạy nghề theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã

hội hoá.

1.1.2.2. Giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân:

* Vị trí của GDNN trong hệ thống giáo dục quốc dân:

GDNN là một phân hệ của hệ thống giáo dục, bao gồm trung học

chuyên nghiệp và dạy nghề (THCN và DN), có vị trí tiếp thu thành quả

giáo dục của phổ thông và tạo nguồn đào tạo cho cao đẳng, đại học và

nguồn lao động trực tiếp cho xã hội. Luật Giáo dục 2005 đã chỉ rõ:

- Giáo dục nghề nghiệp gồm:



20



- Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ ba đến bốn năm học

đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm học

đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông;

- Dạy nghề được thực hiện dưới một năm đối với đào tạo nghề trình

độ sơ cấp, từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trình độ trung cấp, trình

độ cao đẳng.

Việc hình thành ba cấp trình độ đào tạo nhằm đổi mới hệ thống dạy

nghề đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực, phù hợp với cơ cấu sản

xuất, thay đổi của kỹ thuật, công nghệ mới trong quá trình công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời, cũng tạo

tính liên thông giữa các cấp đào tạo. Và đây là một trong những yêu cầu rất

quan trọng, trọng tâm và cấp bách của hệ thống đào tạo hiện nay. 3

- Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp:

Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến

thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm

nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo

điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm

hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng

yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh.

Trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo người lao động có kiến thức,

kỹ năng thực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và

có tính sáng tạo, ứng dụng công nghệ vào công việc.

Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất,

dịch vụ, có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo.

- Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục nghề nghiệp:

- Nội dung giáo dục nghề nghiệp phải tập trung đào tạo năng lực

thực hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, rèn



21



luyện kỹ năng theo yêu cầu đào tạo của từng nghề, nâng cao trình độ học

vấn theo yêu cầu đào tạo.

- Phương pháp giáo dục nghề nghiệp phải kết hợp rèn luyện kỹ năng

thực hành với giảng dạy lý thuyết để giúp người học có khả năng hành

nghề và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu của từng công việc.

- Chương trình, giáo trình giáo dục nghề nghiệp:

- Chương trình giáo dục nghề nghiệp thể hiện mục tiêu giáo dục

nghề nghiệp; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội

dung giáo dục nghề nghiệp, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức

đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành, nghề, trình độ đào

tạo của giáo dục nghề nghiệp; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương

trình giáo dục khác.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với bộ trưởng, thủ

trưởng cơ quan ngang bộ có liên quan, trên cơ sở thẩm định của hội đồng

thẩm định ngành về chương trình trung cấp chuyên nghiệp, quy định

chương trình khung về đào tạo trung cấp chuyên nghiệp gồm cơ cấu nội

dung, số môn học, thời lượng các môn học, tỷ lệ thời gian giữa lý thuyết và

thực hành, thực tập đối với từng ngành, nghề đào tạo. Căn cứ vào chương

trình khung, trường trung cấp chuyên nghiệp xác định chương trình đào tạo

của trường mình.

Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề phối hợp với Bộ

trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ có liên quan, trên cơ sở thẩm định của

hội đồng thẩm định ngành về chương trình dạy nghề, quy định chương

trình khung cho từng trình độ nghề được đào tạo bao gồm cơ cấu nội dung,

số lượng, thời lượng các môn học và các kỹ năng nghề, tỷ lệ thời gian giữa

lý thuyết và thực hành, đảm bảo mục tiêu cho từng ngành, nghề đào tạo.

Căn cứ vào chương trình khung, cơ sở dạy nghề xác định chương trình dạy

nghề của cơ sở mình.



22



- Giáo trình giáo dục nghề nghiệp cụ thể hoá các yêu cầu về nội dung

kiến thức, kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục đối với mỗi môn

học, ngành, nghề, trình độ đào tạo của giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng yêu

cầu về phương pháp giáo dục nghề nghiệp.

Giáo trình giáo dục nghề nghiệp do Hiệu trưởng nhà trường, Giám

đốc trung tâm dạy nghề tổ chức biên soạn và duyệt để sử dụng làm tài liệu

giảng dạy, học tập chính thức trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cơ sở

thẩm định giáo trình do hiệu trưởng, giám đốc trung tâm dạy nghề thành

lập.

- Cơ sở giáo dục nghề nghiệp:

- Cơ sở giáo dục nghề nghiệp gồm:

+Trường trung cấp chuyên nghiệp;

+Trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, lớp dạy

nghề (sau đây gọi chung là cơ sở dạy nghề).

- Cơ sở dạy nghề có thể được tổ chức độc lập hoặc gắn với cơ sở sản xuất,

kinh doanh, dịch vụ, cơ sở giáo dục khác.

- Văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp:

- Học sinh học hết chương trình dạy nghề trình độ sơ cấp, chương

trình bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề, có đủ điều kiện theo quy định của

thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề thì được dự kiểm tra và

nếu đạt yêu cầu thì được thủ trưởng cơ sở giáo dục nghề nghiệp cấp chứng

chỉ nghề.

- Học sinh học hết chương trình trung cấp chuyên nghiệp, có đủ điều

kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được dự thi

và nếu đạt yêu cầu thì được Hiệu trưởng nhà trường cấp bằng tốt nghiệp

trung cấp chuyên nghiệp.

- Học sinh học hết chương trình dạy nghề trình độ trung cấp, có đủ

điều kiện theo quy định của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy



23



nghề thì được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì được Hiệu trưởng nhà trường

cấp bằng tốt nghiệp trung cấp nghề. Sinh viên học hết chương trình dạy

nghề trình độ cao đẳng, có đủ điều kiện theo quy định của thủ trưởng cơ

quan quản lý nhà nước về dạy nghề thì được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì

được hiệu trưởng nhà trường cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề.

* Đặc điểm của ngành Giáo dục TCCN và dạy nghề:

Giáo dục TCCN và DN là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc

dân, đào tạo người lao động có kiến thức kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ

trung cấp hoặc kỹ năng nghề nghiệp phổ thông, công nhân kỹ thuật, nhân

viên nghiệp vụ, có trình độ văn hoá tương đương trung học phổ thông để

trực tiếp tham gia lao động sản xuất và tiếp tục học cao hơn khi có điều

kiện và nhu cầu.

Giáo dục TCCN và dạy nghề có tính đa dạng về ngành nghề, có quan

hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhu cầu phát triển kinh tế xã

hội, thị trường việc làm.

Giáo dục TCCN và dạy nghề có nhiều đầu mối quản lý, có trường

thuộc các Bộ, ngành TW, có trường trực thuộc sở, ngành địa phương, có

trường thuộc doanh nghiệp (Tổng công ty, công ty) có lớp riêng thuộc bệnh

viện, nhà máy… do vậy công tác quản lý rất phức tạp.

* Vai trò của GDNN trong phát triển nguồn nhân lực lao động kỹ thuật:

Giáo dục TCCN và dạy nghề có vị trí hết sức quan trọng trong hệ

thống giáo dục quốc dân, có vai trò to lớn trong việc đào tạo kỹ thuật viên,

nhân viên nghiệp vụ, công nhân kỹ thuật, góp phần đào tạo nguồn nhân lực

phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hoá, hiện đại

hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Nguồn nhân lực có chất lượng là nhân tố quyết định nhất sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong nguồn nhân lực, đội ngũ

công nhân lành nghề và những người lao động qua đào tạo giữ một vị trí



24



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (124 trang)

×