1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC KỸ THUẬT - DẠY NGHỀ BẮC GIANG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.67 MB, 124 trang )


vùng kinh tế động lực và cho việc xuất khẩu lao động. Mở rộng mạng lưới

cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận, huyện. Tạo chuyển

biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu

vực và thế giới. Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích phát triển hình thức

dạy nghề đa dạng, linh hoạt: Dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại

làng nghề…; tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động học nghề, lập

nghiệp. Tổ chức dạy nghề, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ sản xuất phù

hợp cho nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số. ”  1 tr 96

Chiến lược phát triển Giáo dục 2001 - 2010 đã cụ thể hoá mục tiêu

phát triển đối với dạy nghề trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá là

đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng dạy nghề gắn với nâng cao ý thức

kỷ luật lao động và tác phong lao động hiện đại. Hình thành hệ thống đào

tạo kỹ thuật thực hành, chú trọng đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên,

nhân viên nghiệp vụ có trình độ cao.4

Tóm lại, từ các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước như

đã nêu trên là cơ sở định hướng phát triển công tác đào tạo nghề ở nước ta

trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Công tác đào tạo

nghề giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho nền

kinh tế quốc dân, đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển bề vững của đất

nước. Chính vì vậy mà hệ thống dạy nghề cần phải được cả xã hội quan

tâm, các cơ sở dạy nghề phải được đổi mới cơ bản và toàn diện, trong đó

chú trọng chất lượng đào tạo nhằm đáp cơ bản yêu cầu của sản xuất, của thị

trường lao động; đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ

công nhân kỹ thuật để có đủ khả năng tiếp cận và làm chủ công nghệ tiên

tiến, thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện

đại hoá.

3.1.2. Định hướng phát triển công tác đào tạo nhân lực lao động kỹ thuật

của tỉnh Bắc Giang:



81



* Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Bắc Giang:

Trong những năm gần đây cùng với cả nước, để thu hút vốn đầu tư

phát triển kinh tế xã hội Bắc Giang đã trình Thủ tướng Chính phủ phê

duyệt quy hoạch các khu công nghiệp, cụm công nghiệp như:

- Khu công nghiệp Đình Trám huyện Việt Yên với diện tích 100 ha

đã cơ bản hoàn thành hạ tầng kỹ thuật giai đoạn I, đang triển khai đầu tư

giai đoạn II. Hiện tại đã có 30 dự án được chấp thuận đầu tư, thuê 76% diện

tích với tổng số vốn đăng ký gần 700 tỷ đồng và 4,1 triệu USD.

- Khu công nghiệp Song Khê - Nội Hoàng huyện Yên Dũng với diện

tích 150 ha đang đầu tư hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng. Hiện nay đã có 20 dự án

được chấp thuận đầu tư với số vốn đăng ký trên 218 tỷ đồng, một số công

ty trong khu công nghiệp này đã xây dựng xong cơ sở vật chất đã đi vào

hoạt động.

- Khu công nghiệp Quang Châu huyện Việt Yên với diện tích 430

ha, hiện nay đang trong giai đoạn giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ sở

hạ tầng.

- Các cụm công nghiệp tập trung như: Cụm công nghiệp Dĩnh Kế,

Cụm công nghiệp Xương Giang thành phố Bắc Giang, cụm công nghiệp

tập trung tại các huyện Lạng Giang, Tân Yên, Hiệp Hoà … đã được đầu tư,

nhiều doanh nghiệp đã xây dựng song cơ sở vật chất đã và đang đi vào hoạt

động.

- Nhà máy nhiệt điện huyện Sơn Động đang xây dựng dự kiến thu

hút khoảng trên 1.000 lao động.

Bắc Giang là một tỉnh nông nghiệp với 90% dân số sống ở khu vực

nông thôn, 77,79% lao động làm việc trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp,

hầu hết số lao động này là lao động phổ thông chưa qua đào tạo. Sản xuất

nông nghiệp chủ yếu vẫn mang tính chất tự cung, tự cấp, sản xuất hàng hoá



82



chưa phát triển mạnh, lao động chất xám chưa kết tinh nhiều trong các sản

phẩm nông nghiệp.

Với các điều kiện phát triển kinh tế nêu trên cho thấy nhu cầu phát

triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội hiện nay của

Bắc Giang là rất lớn. Theo kết quả điều tra và thống kê nhu cầu sử dụng lao

động trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề truyền

thống và lao động có kỹ thuật trong khu vực nông thôn cho thấy nhu cầu

lao động qua đào tạo nghề của Bắc Giang thời kỳ 2006 - 2010 khoảng trên

100 nghìn lao động, bình quân 1 năm trên 20 nghìn lao động.

Bên cạnh nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế xã hội

của tỉnh, Bắc Giang lại là một tỉnh rất gần với các tỉnh, thành phố có nền

công nghiệp phát triển như: Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải

Phòng, Quảng Ninh nên nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cung cấp cho

các tỉnh, thành phố này hàng năm cũng rất lớn (khoảng từ 7.000 lao động

đến 10.000 lao động/năm) góp một phần quan trọng vào việc giải quyết

việc làm cho người lao động thực hiện thắng lợi chương trình giải quyết

việc làm cho lao động tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2000 - 2010.

* Định hướng phát triển công tác đào tạo nhân lực lao động kỹ thuật:

Quán triệt tinh thần của:

- Nghị quyết 42 - NQ/TƯ ngày 6 tháng 9 năm 2001 của ban thường

vụ Tỉnh uỷ về chương trình giải quyết việc làm cho người lao động tỉnh

Bắc Giang thời kỳ 2001 - 2010.

- Quyết định số 86/2005/QĐ-UB ngày 28 tháng 11 năm 2005 của

UBND tỉnh Bắc Giang về việc phê duyệt đề án phổ cập bậc trung học tỉnh

Bắc Giang giai đoạn 2005 - 2010, trong đó xác định 15% học sinh tốt

nghiệp THCS vừa tham gia học văn hoá vừa tham gia học nghề dài hạn tại

các trường dạy nghề.



83



- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bắc Giang

đến năm 2020.

- Quy hoạch phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến

năm 2020.

- Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XVI: " nâng tỷ

lệ lao động qua đào tạo từ 24% năm 2005 lên 30% năm 2010 trong đó tỷ lệ

lao động qua đào tạo nghề năm 2010 là 18%".

- Thực trạng dân số, nguồn lao động tỉnh Bắc Giang và kết quả điều

tra doanh nghiệp, điều tra nhu cầu học nghề của học sinh tốt nghiệp trung

học cơ sở, trung học phổ thông, điều tra việc làm và thu nhập của học sinh

sau khi tốt nghiệp nghề dài hạn, ngắn hạn …

- Nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp hiện có trên địa

bàn tỉnh và các tỉnh thành phố lân cận.

- Tổng nhu cầu đào tạo nghề thời kỳ 2006 - 2010

Năm



Sơ cấp nghề



Trung cấp nghề



Cao đẳng nghề



Tổng số



2006



15.347



14.718



6.307



36.372



2007



15.487



14.625



6.622



36.734



2008



15.528



14.327



7.055



36.910



2009



15.682



13.985



7.619



37.286



2010



15.873



13.425



8.950



38.248



Tæng



77.917



71.080



36.553



185.550



( Nguồn: Phòng dạy nghề - Sở LĐTB & XH Tỉnh Bắc Giang)

- Ngành nghề đào tạo.

Hàng năm tổ chức nghiên cứu, điều tra thị trường lao động để xác

định nhu cầu đào tạo nghề. Trên cơ sở đó, điều chỉnh cơ cấu ngành nghề

đào tạo cho phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động trong các ngành

Công nghiệp và Xây dựng, Thương mại, Dịch vụ, Nông nghiệp.



84



Trú trọng đào tạo một số ngành nghề công nghệ, dịch vụ chất lượng

cao phục vụ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trong tỉnh, phục vụ

xuất khẩu lao động, phục vụ nhu cầu của tỉnh thành phố khác. Ưu tiên cho

một số ngành như: Công nghiệp Ôtô, Điện, Điện tử, Xây dựng, Cơ khí, Chế

biến nông sản và một số ngành có nhu cầu sử dụng nhiều lao động như Dệt,

May, Thủ công mỹ nghệ.

Trước nhu cầu đào tạo nghề để đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hoá,

hiện đại hoá của tỉnh nhà đã xác định rõ vai trò của công tác đào tạo nhân

lực lao động kỹ thuật. Công tác đào tạo phải là nền tảng và đáp ứng yêu cầu

phát triển kinh tế, là động lực để thúc đẩy kinh tế phát triển. Đồng thời,

công tác đào tạo phải đi trước một bước, vừa phải thể hiện đường lối, kết

hợp tăng trưởng kinh tế với các lĩnh vực xã hội khác. Mục tiêu của công tác

đào tạo là phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá,

hiện đại hoá với chất lượng cao hơn nhiều so với hiện nay. Công tác đào

tạo phải đáp ứng được yêu cầu mới của đất nước về tăng trưởng kinh tế

trong giai đoạn hiện nay.

Để thực hiện tốt các chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và của ngành GD

& ĐT, thực hiện tốt các định hướng kinh tế - xã hội và đào tạo của tỉnh

nhà, Trường THKT - DN Bắc Giang cần phải không ngừng nâng cao chất

lượng đào tạo để tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng và hiệu quả phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh nhà.

3.2. Các biện pháp quản lý chất lƣợng đào tạo của trƣờng THKT - DN

Bắc Giang:

3.2.1. Quản lý công tác tuyển sinh:

Công tác tuyển sinh có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo thực

hiện thắng lợi chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước giao. Đảm bảo sự công bằng



85



trong việc thoả mãn nhu cầu muốn học, giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu

học tập và khả năng đáp ứng của nhà trường.

Chất lượng đầu vào ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo của nhà

trường. Vì vậy công tác tuyển sinh là công tác hết sức quan trọng và cần

được quan tâm đúng mức. Việc tuyển sinh của nhà trường trước hết phải

đảm bảo đúng quy chế, theo đúng yêu cầu của các chỉ thị, Nghị quyết và

các văn bản pháp quy của Đảng, Chính phủ và Bộ GD & ĐT đã ban hành.

Tuyển sinh là khâu mở đầu của quá trình đào tạo. Chất lượng của

công tác tuyển chọn học sinh thể hiện ở ba khâu của yêu cầu:

- Đủ chỉ tiêu được tuyển theo kế hoạch

- Tuyển đúng cơ cấu ngành học

- Lựa chọn những học sinh có đủ tiêu chuẩn cần thiết như quy định

trong quy chế tuyển sinh với học lực càng cao càng tốt.

Kể từ khi thành lập, nhà trường về cơ bản đã thực hiện tuyển sinh

đảm bảo đúng những yêu cầu chung theo văn bản pháp quy đã quy định.

Tuy nhiên vẫn còn gặp phải một số khó khăn nhất định:

- Việc tuyển chọn đầu vào mới chỉ dừng ở mức tuyển đủ chỉ tiêu về

số lượng nên chất lượng còn thấp.

- Nhu cầu và cơ cấu ngành học không đều do việc sử dụng ở các

cụm, khu công nghiệp, xí nghiệp mang nặng tính cục bộ. Việc tập trung

một số nghề do thiếu thốn giả tạo ngoài xã hội dẫn đến phân tâm trong việc

lựa chọn ngành nghề của học sinh.

- Do sự hiểu biết về cơ cấu ngành nghề trong nhà trường của các em

học sinh (Đặc biệt là đối tượng tuyển sinh hệ THCS) còn thấp, nhà trường

trường lại chưa có kế hoạch, tổ chức tư vấn ngành nghề cho các em khi

đăng ký nguyện vọng, nên dẫn đến sự lựa chọn sai lệch và tỉ lệ học sinh bỏ

học tăng lên.



86



Để khắc phục, hạn chế những thiếu sót, trong quá trình tuyển chọn

của nhà trường cần phải có những biện pháp hiệu quả hơn nữa đối với công

tác tuyển sinh. Các biện pháp cụ thể là:

- Xây dựng kế hoạch chỉ tiêu tuyển sinh tiếp cận thị trường lao động

để nhà trường hoàn thành nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh nhà. Đồng thời tạo điều kiện thuận

lợi cho người học có cơ hội tìm kiếm việc làm dễ dàng hơn khi tốt nghiệp.

- Tăng cường công tác thông tin, quảng cáo trên các hệ thống thông

tin đại chúng, gửi các tờ rơi, giữ thông báo đến xã, phường, huyện, thành

phố thuộc tỉnh để nhân dân hiểu đầy đủ hơn về cơ cấu, ngành nghề nhà

trường đang đào tạo.

- Cải tiến công tác tiếp nhận hồ sơ tuyển sinh: Lựa chọn cán bộ giáo

viên am hiểu, nhiều kinh nghiệm, nhiệt tình, trách nhiệm làm công tác tiếp

nhận hồ sơ. Đây là một việc làm cần thiêt để giúp cho việc quản lý hướng

dẫn học sinh khi làm hồ sơ dự tuyển chính xác, đồng thời tư vấn trực tiếp

cho các em học sinh, phụ huynh học sinh hiểu rõ về cơ cấu ngành nghề đào

tạo của nhà trường, về chế độ ưu tiên, trợ cấp, đãi ngộ, về điều kiện học

tập, sinh hoạt và hình thức đào tạo của nhà trường.

-Tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiệm, học tập giữa các trường

nhằm đa dạng hoá các loại hình đào tạo: Tổ chức đào tạo liên thông, đào

tạo bằng thứ hai, đào tạo nghề ngắn hạn … nhằm giúp cho học sinh tăng

khả năng tìm việc làm khi tốt nghiệp, qua đó sẽ thu hút được học sinh, tạo

điều kiện cho công tác tuyển sinh được thuận lợi, chất lượng đầu vào được

nâng cao.

- Tổ chức đào tạo nghiêm túc, đúng quy chế, đúng hướng dẫn công

tác tuyển sinh trong khâu xét tuyển, cần kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong

từng khâu, từng công đoạn, để chỉ đạo, khắc phục kịp thời các thiếu sót xảy



87



ra nhằm đảm bảo tính công bằng cho học sinh dự tuyển và góp phần cho

công tác tuyển sinh đạt chất lượng tôt.

Để thực hiện tốt các biện pháp trên, nhà trường cần có đầy đủ kinh

phí, phương tiện phục vụ công tác tuyển sinh, cần tập trung cao độ cho

công tác tuyển sinh. Đồng thời, có chế độ thích đáng cho người làm công

tác tuyển sinh, có tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm và khen thưởng kịp

thời các cá nhân, đơn vị làm tôt công tác này.



3.2.2. Quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo.

Mục tiêu, nội dung trương chình dạy nghề phải gắn liền với yêu cầu

hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Nội dung chương trình phải

cung cấp cho người học kiến thức chuyên môn, kỹ năng hành nghề và ý

thức trách nhiệm công dân đối với gia đình, cộng đồng và xã hội. Vì vậy,

việc quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo là việc hết sức quan

trọng và cần thiết đối với nhà trường.

Qua khảo sát, điều tra nhu cầu của thị trường mà nhà trường phải xây

dựng chương trình đào tạo một cách hợp lý, vừa đảm bảo hàm lượng kiến

thức chuyên môn, vừa đảm bảo kỹ năng nghề nghiệp được đào tạo. Mặt

khác trên cơ sở đầu vào của học sinh để phân bố các môn học trong chương

trình một cách khoa học, hợp logic. Ngoài ra, để quản lý việc xây dựng và

thực hiện chương trình đào tạo có hiệu quả, thì phải đáp ứng được điều

kiện thực tiễn của nhà trường và thực hiện các biện pháp sau:

- Quán triệt sâu sắc chức năng, nhiệm vụ và vai trò trách nhiệm của

các phòng, khoa, tổ chuyên môn trong việc quản lý mục tiêu, nội dung

chương trình đào tạo.

- Tổ chức triển khai việc xây dựng chương trình đào tạo và kế hoạch

đào tạo dựa trên những nguyên tắc xây dựng chương trình của Bộ.



88



- Mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo phải được hoàn tất trước

khi năm học mới bắt đầu, sau khi được sự góp ý của các thành viên và các

tổ chức trong đơn vị.

- Nội dung chương trình đào tạo được tổ chức khảo sát, có sự tham

gia của các Ban, Ngành liên quan và được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

- Mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo luôn được quán triệt một

cách đầy đủ, sâu rộng đến từng cán bộ, giáo viên và các phòng, khoa, tổ

chuyên môn.

- Trên cơ sở quán triệt mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, mỗi

cán bộ giáo viên lập kế hoạch giảng dạy khi được khoa tổ phân công.

- Trên cơ sở quán triệt mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, các

phòng chức năng lập kế hoạch công tác, các khoa, tổ chuyên môn lập kế

hoạch giáo viên, phối hợp với phòng đào tạo lên thời khoá biểu và tiến độ

đào tạo.

- Lãnh đạo nhà trường tổ chức họp phê duyệt kế hoạch giáo viên của

các phòng, khoa, tổ chuyên môn.

- Tổ chức giao ban chuyên môn để theo dõi việc thực hiện nội dung,

chương trình, tiến độ cũng như đánh giá chất lượng của quá trình đào tạo.

- Căn cứ vào điều kiện thực tiễn phát triển của khoa học kỹ thuật

ngày nay, sự phù hợp với điều kiện thực tế sản xuất của địa phương, nhà

trường tiến hành chỉnh sửa, bổ sung về mục tiêu, nội dung chương trình

đào tạo cho hợp lý.

Quản lý công tác đào tạo, trong đó quản lý, chỉ đạo thực hiện đúng

và đủ chương trình đào tạo là một khâu trọng yếu của chủ thể quản lý,

nhằm giúp cho giáo viên hoàn thành nhiêm vụ chính trị của mình theo đúng

quy chế, quy định và đảm bảo chất lượng, hiệu quả đào tạo, góp phần tích

cực trong việc thực hiện và hoàn thành mục tiêu đào tạo đã đề ra.



89



3.2.3 Quản lý quá trình tổ chức đào tạo

3.2.3.1. Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên trường THKT- DN Bắc

Giang.

Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên thực chất là quản lý việc

thực hiện các nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên và của từng giáo viên. Giáo

viên trong các trường dạy nghề có nhiệm vụ: thực hiện nhiệm vụ giảng dạy,

giáo dục, thực nghiệm khoa học theo đúng chương trình, kế hoạch được

giao; gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, chấp hành các chế độ chính

sách pháp luật của nhà nước; chấp hành điều lệ, nội quy, quy chế của nhà

trường; thường xuyên học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn,

nghiệp vụ, rèn luyện phẩm chất đạo đức, giữ gìn uy tín danh dự của nhà

giáo; tôn trọng nhân cách và đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ quyền

và lợi ích chính đáng của học sinh. Giáo viên vừa là khách thể quản lý vừa

là chủ thể quản lý.

Công tác giảng dạy chính là tổ chức quá trình nhận thức của học

sinh, chất lượng giảng dạy là yếu tố quyết định đến chất lượng nhận thức

của học sinh. Vì vậy, hoạt động giảng dạy là một trong hai hoạt động trọng

tâm của nhà trường, nó là hoạt động chuyên môn quan trọng nhất, đòi hỏi

đầu tư phần lớn công sức, thời gian, trí tuệ do đội ngũ giáo viên thực hiện,

đây là hoạt động mang hàm lượng chất xám cao. Quản lý hoạt động giảng

dạy là nhằm đảo bảo cho giáo viên thực hiện đúng và đầy đủ nội dung,

chương trình, kế hoạch cũng như tiến độ đào tạo, đảm bảo chất lượng giảng

dạy của giáo viên.

Để công tác quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên góp phần

nâng cao chất lượng đào tạo, nhà trường phải cần phải có những biện pháp

cụ thể như sau:

- Tổ chức quản lý, phê duyệt kế hoạch giảng dạy của từng giáo viên.



90



- Quản lý việc thực hiện nội dung, chương trình đào tạo của giáo

viên.

- Quản lý việc thực hiện kế hoạch và tiến độ giảng dạy của từng giáo

viện.

- Quản lý việc soạn giảng và qúa trình chuẩn bị lên lớp của giáo viên.

- Quản lý việc vận dụng và cải tiến các phương pháp giảng dạy lý

thuyết và thực hành.

- Quản lý quá trình tổ chức lớp học, công tác chủ nhiệm của giáo

viên.

- Quản lý việc thực hiện các quy định về hồ sơ sổ sách chuyên môn

của giáo viên.

- Quản lý việc tự học, tự rèn của giáo viên thông qua các nghiên cứu

khoa học, sáng kiến kinh nghiệm, cải tiến kỹ thuật, thao giảng, dự giờ của

giáo viên.

- Xây dựng các tiêu chí đánh giá, xếp loại giáo án, tiết giảng sáng

kiến kinh nghiệm, đồ dùng dạy học tự làm.

- Quản lý công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của học sinh

mà giáo viên thực hiện theo quy định của Bộ GD&ĐT và Bộ LĐTB &XH.

Tóm lại, việc quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên trường

THKTDN Bắc Giang cần được Ban giám hiệu nhà trường đặc biệt quan

tâm và chỉ đạo thực hiện các biện pháp quản lý để nâng cao chất lượng đào

tạo của nhà trường.

3.2.3.2 Quản lý hoạt động học tập của học sinh trường THKT- DN Bắc

Giang.

Quản lý hoạt động học tập của học sinh là quản lý việc thực hiện các

nhiệm vụ học tập, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp của học sinh trong quá



91



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (124 trang)

×