1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THPT VÀ NHỮNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG AN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.47 MB, 126 trang )


Trong những năm gần đây, nhiều đề án, giải pháp nhằm xây dựng, quản

lý phát triển đội ngũ nhà giáo ở các cấp học, bậc học đã đƣợc nghiên cứu và

áp dụng rộng rãi:

- Đề án xây dựng và nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ

quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010 (QĐ số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11

tháng 1 năm 2005 của Thủ tướng chính phủ).

- Bồi dƣỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới (Đề

tài khoa học cấp nhà nước mã số KX07-14, năm 1996)...

Giáo viên là nhân tố quyết định chất lƣợng giáo dục. Đào tạo giáo viên

không những phải đủ về số lƣợng mà phải có cơ cấu loại hình thích hợp và

chất lƣợng để đáp ứng đƣợc yêu cầu đổi mới giảng dạy và giáo dục cả về mục

tiêu, nội dung và phƣơng pháp. Cùng với năng lực chuyên môn, đội ngũ giáo

viên cần có phẩm chất đạo đức, có tinh thần trách nhiệm, tận tâm, nhiệt huyết

với nghề nghiệp.

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng, quản lý phát triển đội

ngũ giáo viên THPT nhƣ: “Biện pháp quản lí đội ngũ giáo viên của hiệu

trưởng trường THPT Tân Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” của Phạm

Hồng Dƣơng; Tác giả Nguyễn Đức Cƣờng với nghiên cứu “Các biện pháp

quản lí đội ngũ giáo viên THPT thành phố Yên Bái trong giai đoạn hiện

nay”; Tác giả Trần Văn Thái với đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học của qui

hoạch phát triển đội ngũ giáo viên THPT tỉnh Yên Bái đến năm 2015”; Tác

giả Nguyễn Thị Lệ Chung với nghiên cứu “Phát triển đội ngũ giáo viên ở

trường THPT chuyên tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay”. Với bộ môn

tiếng Anh, các đề tài chủ yếu nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học tiếng

Anh nhƣ “Biện pháp quản lí dạy học môn tiếng Anh ở trường THPT huyện

Thủy Nguyên, Hải Phòng” của tác giả Trần Thị Lan Hƣơng; “Biện pháp quản

lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao trình độ tiếng Anh cho giảng viên Học viện

quốc phòng” của tác giả Võ Minh Thúy. Đề cập đến đội ngũ giáo viên tiếng

Anh có tác giả Vũ Thị Kim Tuyết với đề tài: “Quản lí phát triển đội ngũ giáo

viên tiếng Anh cấp trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”.

15



Các công trình nghiên cứu này thực sự là những tài sản kiến thức quý báu

góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhân lực nói chung và quản lý đội

ngũ giảng viên, giáo viên nói riêng. Các tác giả đã tiếp cận nghiên cứu về các

vấn đề nhƣ qui hoạch, xây dựng, quản lí, bồi dƣỡng và phát triển đội ngũ giáo

viên, từng bƣớc hoàn thiện dần cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ nhà giáo, đồng

thời đề xuất các biện pháp quản lí, phát triển đội ngũ nhà giáo phù hợp với điều

kiện hoàn cảnh cụ thể của địa phƣơng, của nhà trƣờng. Song cho đến nay, hầu

nhƣ rất ít công trình nghiên cứu riêng về công tác phát triển đội ngũ giáo viên

THPT môn tiếng Anh trong giai đoạn phát triển mới, đặc biệt ở Hà Nội. Còn

riêng với địa bàn thành phố Sơn Tây mà nay là thị xã SơnTây (sau khi đƣợc sát

nhập vào thủ đô Hà Nội) thì chƣa hề có một tác giả nào đề cập đến.

Bởi vậy chúng tôi chọn đề tài luận văn này cơ bản mới để nghiên cứu

cơ sở lý luận về phát triển ĐVGV THPT môn tiếng Anh kết hợp với tìm hiểu

thực trạng đội ngũ giáo viên THPT môn tiếng Anh và công tác phát triển đội

ngũ này trên địa bàn thị xã Sơn Tây. Trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp

phát triển đội ngũ giáo viên THPT môn tiếng Anh cho thị xã Sơn Tây nhằm

nâng cao chất lƣợng ĐNGV nói chung và nâng cao chất lƣợng đào tạo của các

trƣờng THPT trên địa bàn thị xã nói riêng, góp phần tạo nên sự đột phá cho

ngành giáo dục thủ đô trong giai đoạn phát triển mới.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài.

1.2.1. Khái niệm quản lý

Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung

nào tiến hành trên quy mô tƣơng đối lớn, thì ít nhiều đều cần đến một sự chỉ

đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng

chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của

những khí quan độc lập của nó. Một ngƣời đọc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển

lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng”.[25, 180]. Nhƣ vậy,

quản lý đƣợc xem nhƣ một quá trình liên kết thống nhất giữa chủ quan và

khách quan để đạt đƣợc mục tiêu nào đó.

16



Theo các cách tiếp cận khác nhau ta có: Quản lý là: cai quản, chỉ huy,

lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra - theo góc độ tổ chức; theo góc độ điều khiển thì

quản lý là lái, là điều khiển, điều chỉnh; theo cách tiếp cận hệ thống thì quản

lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối tƣợng

quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con ngƣời trong quá trình sản

xuất, lao động để đạt đƣợc mục đích đề ra.

Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đã có nhiều quan niệm

đƣợc đƣa ra :

“Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể

(ngƣời quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tƣợng quản lý) về các mặt

chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính

sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra

môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng”.[17, 7].

“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý

lên đối tƣợng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ

hội của hệ thống để đạt đƣợc mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi

trƣờng” [33, 43].

“Quản lý” là từ Việt gốc Hán đã coi quản lý gồm hai quá trình tích

hợp: quá trình “quản” là sự coi sóc, gìn giữ, duy trì ở trạng thái ổn định, quá

trình ; “lý” là sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới nhằm phát triển [36,14].

Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ các góc độ khác nhau

cũng đã đƣa ra những khái niệm quản lý:

Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí

và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của

tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ

chức, chỉ đạo và kiểm tra” [5, tr.1].

* Bản chất của hoạt động quản lý: quản lý là sự tác động có mục đích

đến tập thể ngƣời bị quản lí nhằm đạt mục tiêu quản lí. Trong giáo dục đó là

sự tác động của nhà quản lí giáo dục đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực

lƣợng khác trong xã hội nhằm đạt đƣợc các mục tiêu giáo dục. Trong việc

17



phát triển đội ngũ giáo viên THPT đó là sự tác động của nhà quản lí giáo dục

đến tập thể giáo viên và các lực lƣợng khác nhằm thực hiện mục tiêu tăng tiến

cả về số lƣợng và chất lƣợng đội ngũ giáo viên.

Vậy bản chất của hoạt động quản lí là sự phối hợp các nỗ lực của con

ngƣời thông qua các chức năng quản lí.

* Chức năng quản lý: là biểu hiện cụ thể của hoạt động quản lý. Đó là

hoạt động cơ bản mà thông qua đó chủ thể quản lý tác động đến khách thể

quản lý nhằm thực hiện mục tiêu đề ra.

Chức năng quản lý đƣợc quy định một cách khái quát bởi các hoạt động

của khách thể quản lý. Tổ hợp tất cả các chức năng quản lý tạo nên nội dung

của quá trình quản lý. Có nhiều quan điểm để xác định chức năng quản lý:

Theo quan điểm của các tác giả Liên Xô (cũ) cho rằng quản lý có 6

chức năng: soạn thảo mục tiêu; kế hoạch hoá; tổ chức; phối hợp; động viên;

khuyến khích và kiểm tra.Theo Henry Fayol thì quản lý có 5 chức năng: kế

hoạch hoá; tổ chức; chỉ huy; phối hợp; kiểm tra.

1.2.2. Khái niệm phát triển

Phát triển là thuật ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nhƣ

phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội

ngũ. Theo từ điển tiếng Việt “phát triển có nghĩa là biến đổi hoặc làm cho

biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”.

Phát triển có nghĩa là “Làm cho ai, cái gì cũng tăng trƣởng dần dần; trở nên

hoặc làm cho trƣởng thành hơn, tiến triển hoặc có tổ chức hơn” [44, 476].

Tác giả Đặng Bá Lãm cho rằng “Phát triển là một quá trình vận động từ

thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp theo đó cái cũ biến mất và cái mới ra

đời…Phát triển là một quá trình nội tại: bƣớc chuyển từ thấp đến cao, xảy ra

bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dƣới dạng tiềm tàng những khuynh hƣớng

dẫn đến cái cao, còn cái cao là cái thấp đã phát triển”[46, 142]. Theo quan

điểm triết học thì phát triển đƣợc hiểu là khái niệm biểu hiện sự thay đổi tăng

tiến cả về chất, cả về lƣợng, là sự tăng trƣởng, chuyển biến theo chiều hƣớng

đi lên, tích cực. Nhƣ vậy tất cả mọi sự tăng tiến, sự thay đổi về lƣợng dẫn đến

18



sự thay đổi về chất hoặc do sự vận động nội tại trong chính bản thân sự vật,

hoặc dƣới tác động của tác nhân bên ngoài làm cho sự vật, hiện tƣợng biến

đổi tăng tiến về số lƣợng và chất lƣợng đều đƣợc coi là phát triển.

Theo tác giả David Korten:”Phát triển là một tiến trình qua đó các thành

viên của xã hội tăng đƣợc những khả năng của cá nhân và định chế của mình

để huy động và quản lí các nguồn lực nhằm tạo ra những thành quả bền

vững…nhằm cải thiện chất lƣợng cuộc sống phù hợp với nguyện vọng của họ”.

Nói một cách khái quát, phát triển là sự vận động đi lên của mọi sự vật

và hiện tƣợng tuân theo những quy luật nội tại khách quan của chúng. Mọi sự

vật hiện tƣợng, con ngƣời, xã hội hoặc là biến đổi để tăng tiến về số lƣợng,

thay đổi về chất lƣợng hoặc dƣới tác động bên ngoài làm cho biến đổi tăng

tiến đều đƣợc coi là sự phát triển.

1.2.3. Khái niệm đội ngũ, đội ngũ giáo viên và đội ngũ giáo viên THPT

a/ Đội ngũ :

Ngƣời ta thƣờng dùng khái niệm đội ngũ để chỉ các tổ chức xã hội một

cách rộng rãi nhƣ: đội ngũ công nhân viên ngành xây dựng, đội ngũ trí thức

trẻ... đó là một tổ chức gồm nhiều ngƣời, tập hợp thành một lực lƣợng, cùng

một nghề nghiệp.

Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông

ngƣời có cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lƣợng hoạt

động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định” (24)

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo:” Đội ngũ là một tập hợp gắn kết với nhau

cùng chung lí tƣởng, mục đích, nhiệm vụ đó là “tạo ra sản phẩm giáo dục”, thực

hiện mục tiêu mà nhà nƣớc, xã hội đề ra cho lực lƣợng, tổ chức mình. Họ phải làm

theo một kế hoạch thống nhất và gắn bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và

tinh thần trong khuôn khổ qui định của luật giáo dục và điều lệ nhà trƣờng.

b/ Đội ngũ giáo viên:

Theo một tác giả nƣớc ngoài, “Đội ngũ giáo viên là tập thể chuyên gia

trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm vững tri thức, hiểu biết sâu về nghề dạy học

19



cũng nhƣ các phƣơng pháp giáo dục. Họ có khả năng cống hiến toàn bộ tài

năng và sức lực cho giáo dục”

Ở Việt Nam, đội ngũ giáo viên là tập hợp những ngƣời lao động trí óc,

có trình độ chuyên môn vững, có nghiệp vụ sƣ phạm, đƣợc xã hội phân công

làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục thế hệ trẻ trong các nhà trƣờng. Đội ngũ

giáo viên là nhân tố quyết định chất lƣợng và hiệu quả giáo dục .

c/ Đội ngũ giáo viên THPT:

Đội ngũ giáo viên THPT là những ngƣời đã tốt nghiệp đại học hoặc có

trình độ sau đại học, là những ngƣời lao động có nghiệp vụ sƣ phạm, đƣợc xã

hội phân công làm nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ đang lớn lên. Họ là những

ngƣời đang giảng dạy trong các truờng THPT, là nguồn nhân lực quan trọng

của nhà trƣờng. Đội ngũ giáo viên THPT là đội ngũ trí thức, là tập hợp những

ngƣời lao động trí óc, sáng tạo theo thiên hƣớng cá nhân. Họ là những ngƣời

làm việc trong lĩnh vực sản xuất tinh thần mà sản xuất trí tuệ không phải lúc

nào cũng có thể trở thành hàng hoá, không phải lúc nào cũng hạch toán kinh

tế đƣợc. Họ là những ngƣời hiểu biết, có tinh thần trách nhiệm với cộng đồng,

với xã hội, có lòng yêu trẻ, có nhiệt huyết với nghề. Họ là những nhà nhân

văn số 1 rất cần có niềm tin, uy tín và đƣợc xã hội tôn vinh, bởi họ đang thực

thi một nghề cao quí và đầy sáng tạo đó là nghề “dạy học”.

1.2.4. Phát triển đội ngũ

Phát triển đội ngũ chính là việc tạo ra các giá trị mới cho đội ngũ, để

đội ngũ đó thay đổi, ngày càng hoàn thiện theo một chiều hƣớng tích cực.

Phát triển đội ngũ giáo viên THPT môn tiếng Anh tức là nhằm vào hoàn thiện

kết quả lao động tổng thể của ngƣời thầy trong việc đảm bảo và nâng cao chất

lƣợng dạy - học môn tiếng Anh trong các nhà trƣờng THPT

Phát triển đội ngũ giáo viên THPT là một bộ phận của hệ thống phát

triển nhân lực. Là một khái niệm tổng hợp bao gồm cả đào tạo, bồi dƣỡng,

phát triển nghề nghiệp nhằm tăng tiến cả về mặt số lƣợng, chất lƣợng và sử

dụng hiệu quả đội ngũ này.

20



1.2.5. Biện pháp phát triển

Theo từ điển của tiếng Việt của trung tâm Ngôn ngữ và văn hoá Việt

Nam thì biện pháp là “Cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề

cụ thể”.

Trong khái niệm về quản lí nói chung và quản lí giáo dục nói riêng thì

biện pháp phát triển là tổ hợp các cách thức, hành động của chủ thể quản lí tác

động lên đối tƣợng quản lí để giải quyết những vấn đề cụ thể nhằm làm cho hệ

vận hành, phát triển đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức tức mục tiêu của quản lí.

Nhƣ vậy biện phát phát triển tức là các cách thức tác động vào đội ngũ

để đội ngũ này không ngừng phát triển toàn diện cả về số lƣợng, chất lƣợng

và luôn tạo ra những giá trị mới đáp ứng điều kiện hoàn cảnh mới của tổ

chức. Đội ngũ đƣợc phát triển sẽ phát huy tối đa sự nhiệt tình, trách nhiệm và

đầy sáng tạo. Mục tiêu cuối cùng là gia tăng hiệu quả lao động cho tổ chức

Nhƣ vậy, biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên có thể hiểu là cách

thức mà các nhà quản lí tác động vào đội ngũ giáo viên của tổ chức mình

nhằm không ngừng phát triển về số lƣợng, chất lƣợng để tạo ra các giá trị mới

giúp ngày càng hoàn thiện chất lƣợng lao động của đội ngũ, đáp ứng với điều

kiện hoàn cảnh mới của tổ chức; phát huy tối đa sự nhiệt tình, sáng tạo, năng

lực hoàn thành chức trách, nhiệm vụ đƣợc giao, để đạt đƣợc mục tiêu cuối

cùng là chất lƣợng dạy – học bộ môn nói riêng và chất lƣợng giáo dục- đào

tạo của mỗi nhà trƣờng nói chung.

1.3.Cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông và

giáo viên tiếng Anh

1.3.1. Lí luận về phát triển đội ngũ giáo viên THPT

Phát triển giáo viên THPT chính là phát triển nguồn nhân lực cho

ngành giáo dục – đào tạo. Nguồn nhân lực, theo lí thuyết phát triển (nghĩa

rộng) đƣợc hiểu nhƣ nguồn lực con ngƣời của một quốc gia, một vùng lãnh

thổ, là một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động, tổ chức, quản lí

để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội nhƣ nguồn lực vật chất,

21



nguồn lực tài chính. Nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp và có thể lƣợng hoá đƣợc

là một bộ phận dân số bao gồm những ngƣời trong độ tuổi qui định, đủ 15

tuổi trở lên, có khả năng lao động hay còn gọi là lực lƣợng lao động.

Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự biến đổi về cơ cấu, số

lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế

xã hội ở các cấp độ khác nhau, đáp ứng nhu cầu nhân lực cần thiết cho các

lĩnh vực hoạt động lao động và đời sống xã hội, nhờ đó mà phát triển đƣợc

năng lực, tạo đƣợc công ăn việc làm, nâng cao mức sống và chất lƣợng cuộc

sống cho các tầng lớp dân cƣ và cuối cùng là đóng góp chung cho sự nghiệp

phát triển của xã hội.

Tƣ tƣởng chỉ đạo về phát triển nguồn nhân lực là lấy phát triển bền

vững làm trung tâm. Mỗi con ngƣời là một cá nhân độc lập, làm chủ qui trình

lao động của mình. Mỗi con ngƣời là một chủ thể tâm lí khác nhau; Phải lấy

lợi ích của ngƣời lao động làm nguyên tắc cơ bản của phát triển; Đảm bảo

môi trƣờng dân chủ, thuận lợi cho tiến hành giao lƣu đồng thuận; Phải có

chính sách phát triển nguồn nhân lực nhƣ: sử dụng, phân công lao động, đào

tạo bồi dƣỡng, thi đua khen thƣởng… tạo động lực kích thích tính tích cực,

năng động, chủ động, sáng tạo của ngƣời lao động để họ thiện chí tự nguyện,

tự giác, cầu tiến trong công việc cống hiến cho tổ chức. Cần phải tạo cân bằng

tâm lí cho ngƣời lao động; Phải gắn chặt nhu cầu và lợi ích kinh tế thì kết quả

lao động của con ngƣời mới có chất lƣợng và bền vững. Ngƣời nào làm việc

tích cực, có trách nhiệm, sáng tạo và trung thực thì phải đƣợc hƣởng hạnh

phúc. Để khai thác tối đa tiềm năng của con ngƣời, tạo ra lợi thế cạnh tranh

đòi hỏi phải tập trung vào 3 khía cạnh: Thiết kế cơ cấu, sắp xếp và tổ chức

công việc, quản lí văn hoá tổ chức, quản lí chính sách và nhân sự. Việc đầu

tiên để khai thác tối đa tiềm năng của con ngƣời đó là sắp xếp công việc phù

hợp với khả năng để tạo ra động cơ tích cực. Quản lí văn hoá tổ chức là phải

tạo ra môi trƣờng dân chủ và có sự chia sẻ đồng thuận; Phải đảm bảo sự thích

nghi và thích ứng của con ngƣời cả về thể chất, sinh lí thần kinh và tâm lí có ý

22



thức với yêu cầu cao của kĩ thuật tiên tiến và công nghệ hiện đại. Con ngƣời

chỉ tiếp thu, sử dụng và thích ứng đƣợc những gì vừa sức, vừa trình độ, và

đảm bảo đƣợc sự cân bằng tâm lí; Phải khắc phục và vƣợt qua đƣợc truyền

thống, thói quen lạc hậu, những sức ỳ tâm lí xã hội, xây dựng và thực hiện

nếp sống mới, thói quen mới, luật lệ mới. Công nghệ hiện đại và lối sống văn

minh không chấp nhận lối làm ăn, sinh hoạt tự do tuỳ tiện, thiếu ý thức pháp

luật, thiếu trách nhiệm và tính cảm con ngƣời. Đó là cả một khối lƣợng công

việc rất lớn, phức tạp và tỉ mỉ nhƣng phải làm ngay từ đầu, làm kiên trì, đồng

bộ với quyết tâm cao để hình thành tâm lí và tác phong công nghiệp, nếp sống

và làm việc văn minh hiện đại.

1.3.2. Phát triển nguồn nhân lực ở các trường THPT

Phát triển nguồn nhân lực ở các trƣờng THPT là chăm lo xây dựng đội

ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và nhân viên đủ về số lƣợng, vững về chất

lƣợng, đồng bộ về cơ cấu và loại hình, vững vàng về chính trị, chuyên môn

và nghiệp vụ, đủ sức thực hiện có kết quả mục tiêu và kế hoạch đào tạo của

nhà trƣờng.

PTNNL cần đƣợc hiểu đầy đủ hơn trong ý tƣởng quản lý nguồn nhân

lực và cần phải đặt trong nhiệm vụ quản lý NNL.

PTNNL ở các trƣờng THPT là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cơ

bản có vai trò quan trọng và cấp thiết trong các trƣờng THPT nói riêng và

ngành giáo dục nói chung, nó gắn bó mật thiết với nội dung, nguyên tắc,

phƣơng pháp PTNNL. Chất lƣợng nguồn nhân lực càng tốt thì chất lƣợng

giáo dục đào tạo càng cao.

1.3.3. Phát triển đội ngũ giáo viên THPT

a/ Mục tiêu giáo dục THPT:

Mục tiêu của giáo dục THPT là giúp học sinh phát triển toàn diện về

đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để phát triển năng lực

cá nhân, phát triển tính năng động, sáng tạo, hình thành nhân cách con ngƣời

Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tƣ cách và trách nhiệm công dân chuẩn

23



bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây

dựng và bảo vệ tổ quốc.

Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết

quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những

hiểu biết thông thƣờng về kĩ thuật và hƣớng nghiệp, có điều kiện phát huy

năng lực cá nhân để lựa chọn phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung

cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.

b/ Vị trí, vai trò và đặc điểm lao động của đội ngũ giáo viên THPT:

- Vị trí, vai trò: Trƣớc sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ,

khối lƣợng tri thức ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Tri thức trở thành yếu tố

quyết định sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia. Khi mà toàn xã hội

là một xã hội học tập thì khái niệm về học tập cũng có nhiều thay đổi, nhƣ

báo cáo của hội đồng quốc tế về “giáo dục cho thế kỉ XXI” của UNESCO đã

khẳng định: Học để biết , học để làm việc, học để chung sống và học để làm

ngƣời”. Cùng với sự thay đổi đó, vị trí, vai trò của của nhà trƣờng nói chung

và của đội ngũ giáo viên THPT nói riêng có sự thay đổi lớn. Ngƣời thầy

không chỉ làm nhiệm vụ truyền đạt tri thức đơn thuần mà còn có nhiệm vụ

hƣớng dẫn cho trò cách học, cách đi tìm tri thức, cách xử lí tình huống và tự

học, tự rèn luyện. Do vậy, đội ngũ giáo viên THPT sẽ có thêm nhiều vai trò:

ngƣời phát triển cộng đồng, ngƣời điều tra nghiên cứu, ngƣời thúc đẩy học

tập, ngƣời triển khai các chƣơng trình giảng dạy, ngƣời thực hiện đổi mới

phƣơng pháp dạy-học, là ngƣời học, là ngƣời đánh giá và là ngƣời giới thiệu

công nghệ thông tin. Họ là những ngƣời vừa trực tiếp tham gia lao động, vừa

góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội; Là nhân tố quyết định chất

lƣợng, hiệu quả giáo dục, làm cho các mục tiêu giáo dục trở thành hiện thực.

Điều 7 luật giáo dục 2005 đã xác định: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong

việc đảm bảo chất lƣợng giáo dục.” (14, 28)

- Đặc điểm lao động của ngƣời giáo viên THPT: có tính khoa học, nghệ

thuật và sáng tạo cao.

24



+ Tính khoa học thể hiện ở chỗ: Để dạy học có kết quả, ngƣời giáo viên

phải nắm vững tri thức khoa học của bộ môn đồng thời cả tri thức về giáo dục

học, tâm lí học, lí luận dạy học cũng nhƣ các khoa học khác cần thiết cho hoạt

động giáo dục học sinh.

+ Tính nghệ thuật thể hiện ở chỗ: Trong hoạt động dạy học dạy học nói

riêng và hoạt động giáo dục nói chung, ngƣời giáo viên phải luôn khéo léo xử

lí các tình huống sƣ phạm, biết vận dụng linh hoạt, phù hợp các phƣơng pháp

dạy học, phƣơng pháp giáo dục nhằm tác động tích cực đến hứng thú học tập,

ý thức rèn luyện đạo đức, đến tình cảm của học sinh từ đó góp phần phát triển

trí tuệ, giáo dục đạo đức và hình thành nhân cách cho các em.

+ Tính sáng tạo thể hiện ở chỗ: Đối tƣợng giáo dục của ngƣời giáo viên

là học sinh với sự đa dạng về nhân cách và về đặc điểm tâm sinh lí. Do vậy,

tác động của họ đến đối tƣợng này cũng khác nhau, không thể dập khuôn,

máy móc; Nội dung và cách thức tác động cũng rất phong phú, linh hoạt, sáng

tạo. Có nhƣ vậy các tác động mới đạt hiệu quả giáo dục cao. Xuất phát từ

những thay đổi ấy đòi hỏi phải phát triển toàn diện đội ngũ giáo viên, tạo cơ

hội để họ không ngừng học tập, học tập suốt đời, thƣờng xuyên rèn luyện

nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn và đạo đức của bản thân để làm

gƣơng cho học sinh noi theo.

c/ Nhiệm vụ và tiêu chuẩn của người giáo viên THPT

Luật giáo dục 2005 định nghĩa về nhà giáo nhƣ sau: “Nhà giáo là ngƣời làm

nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trƣờng, các cơ sở giáo dục khác” (14,52)

Luật giáo dục 2005 cũng đã qui định cụ thể và rõ ràng nhiệm vụ và tiêu

chuản của nhà giáo nhƣ sau:

* Nhiệm vụ:

1. Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lí giáo dục, thực hiện đầy

đủ và có chất lƣợng chƣơng trình giáo dục

2. Gƣơng mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các qui định của pháp luật

và điều lệ nhà trƣờng

25



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (126 trang)

×