1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.68 MB, 120 trang )


phát triển đội ngũ CBQL giáo dục tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng luôn được các cấp

chính quyền quan tâm chỉ đạo xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển đội ngũ

bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đạt các tiêu chuẩn chất lượng

về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Quy hoạch phát triển giáo dục, đào tạo tỉnh Vĩnh Phúc đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc khẳng

định “Tiếp tục triển khai thực hiện chỉ thị 40/CT-TW của Ban bí thư Trung

ương Đảng và Kế hoạch số 87/KH-TU của Tỉnh uỷ tỉnh Vĩnh Phúc về việc

xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục” là

khâu then chốt để thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển giáo dục của tỉnh

Vĩnh Phúc. [27] vì đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục quyết định

việc hiện thực hoá mọi chủ trương đường lối giáo của của Đảng và Nhà nước,

quyết định sự phát triển quy mô cũng như chất lượng của giáo dục. Đội ngũ

nhà giáo yếu, kém, bất cập không có động lực dạy học và phấn đấu nâng cao

trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức thì dù có chương trình, sách giáo

khoa hay, cơ sở vật chất - thiết bị dạy học đầy đủ, hiện đại vẫn không thể đảm

bảo được chất lượng giáo dục. Có đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo

dục tốt thì mới phát huy tác dụng tích cực của các điều kiện khác đảm bảo

chất lượng giáo dục.

Trong những năm gần đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu lý luận về

quản lý giáo dục , các giải pháp phát triển giáo dục và phát triể n đô ̣i ngũ cán

bô ̣ quản lý giáo dục.

- Tác giả Đặng Quốc Bảo đề cập đến “Những vấn đề cơ bản về lãnh đạo quản lý và sự vận dụng vào điều hành nhà trường” [3] đã giới thiệu và tổng

hợp các yếu tố, phẩm chất, năng lực mỗi CBQL giáo dục cần có và cần đạt

được; các vấn đề cốt lõi của lãnh đạo và quản lý cũng như việc thực hiện vai

trò lãnh đạo, quản lý trong các nhà trường.

- Cuốn sách “Giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI - Chiến



11



lược phát triển” của Đặng Bá Lãm đã có những phân tích khá sâu sắc về giải

pháp quản lý giáo dục [24, tr.283].

- Tác giả Trần Khánh Đức trong cuốn "Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực

trong thế kỷ XXI” đã trình bày quan điểm, mục tiêu và biện pháp phát triển

giáo dục và hệ thống giáo dục, làm rõ thêm nhận thức về chiến lược phát triển

giáo dục cũng như phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI [20] .

- Vấn đề bồi dưỡng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

trong thời kỳ hội nhập cúng được tác giả Thân Văn Quân đề cập đến và coi đó

là vấn đề then chốt trong sự nghiệp phát triển giáo dục nước nhà [25,tr.1011].

- Tác giả Nguyễn Tiến Đạt đã nghiên cứu những kinh nghiệm và thành tựu

phát triển giáo dục và đào tạo trên thế giới, thông qua đó người đọc có thể so

sánh, đối chiếu và nhận thấy được vai trò của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản

lý giáo dục ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, hiện đại [19], ngoài ra còn

nhiều tài liệu khác đề cập đến vấn đề này.

Về nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội

ngũ CBQL giáo dục có một số l uận văn thạc sĩ khoa học giáo dục về đề tài

quản lý giáo dục như

:

- "Thực trạng, phương hướng và những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng

đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh” của Nguyễn

Công Duật (2000).

- “Phát triển đội ngũ CBQL trường tiểu học huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định

trong giai đoạn hiện nay” của Trần Hải Bằng (2010).

- “Phát triển đội ngũ CBQL trường THPT trên địa bàn tỉnh Nam Định trong giai

đoạn hiện nay” của Nguyễn Quý Cao (2010).

- “Các giải pháp xây dựng, phát triển giáo viên và đội ngũ CBQL

trường THPT tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2006-2010” của tác giả Phạm Đình Ly

- “Biện pháp phát triển đội ngũ nữ CBQL trường THCS ở huyện Sơn Động, tỉnh



12



Bắc Giang” của Nguyễn Đức Dụng (2010).

Các tác giả đã dựa trên thực trạng kinh tế xã hội của từng địa phương đã

đi sâu nghiên cứu, phân tích vai trò, vị trí của CBQL trường THPT và đề xuất

các giải pháp phù hợp, đóng góp đáng kể về lý luận và thực tiễn cho công tác

quản lý trong nhà trường.

Tuy nhiên, việc áp dụng các kết quả nghiên cứu trên để phát triển đội

ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Vĩnh Phúc thì chưa thật

sự phù hợp. Cho đến thời điểm này, tại Vĩnh Phúc chưa có công trình nào

nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học phổ

thông của tỉnh. Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển đội

ngũ quản lý giáo dục trường trung học phổ thông của tỉnh Vĩnh Phúc là cần

thiết.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Quản lý

Ngay từ những buổi đầu sơ khai, khi con người bắt đầu sinh sống theo bầy

đàn, họ đã biết hợp tác với nhau, phân công nhau trong lao động để có được hiệu

quả và năng suất lao động cao hơn. Sự phân công và hợp tác đó đòi hỏi phải có sự

chỉ huy, phối hợp, điều hành... đó chính là chức năng quản lý. Quản lý là một hiện

tượng xã hội, là một dạng hoạt động đặc thù của con người. Từ những góc độ

khác nhau các nhà khoa học đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về quản lý.

Theo W.Taylor (1856-1915) thì “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính

xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành

công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [21, tr327].

Mary Parker Follett định nghĩa “Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công

việc thông qua con người” [2, tr11].

Quản lý còn được định nghĩa là tác động có định hướng, có chủ đích của

chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong

một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.



13



hay Quản lý là quá trình đạt được đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng

các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.

[15, tr1]

Tác giả Phạm Viết Vượng trong cuốn Quản lí hành chính nhà nước và

quản lí ngành giáo dục đào tạo coi “Quản lí là sự tác động có ý thức của chủ thể

quản lí lên đối tượng quản lí nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình

xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp

với quy luật khách quan” [36, tr40].

Tác giả Trần Khánh Đức đưa ra một khái niệm khái quát về quản lý: Quản

lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các

nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người

để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất [21, tr328].

1.2.2. Quản lý giáo dục

Quản lý Giáo dục (QLGD) được hiểu ở nhiều cấp độ vĩ mô hay vi mô

nên khái niệm quản lý giáo dục cũng được hiểu theo nhiều cấp độ rộng, hẹp khác

nhau.

Theo Từ điển giáo dục học “QLGD gồm hai mặt lớn là quản lý nhà

nước về giáo dục và quản lý nhà trường và các cơ sở giáo dục khác. QLGD là

việc thực hiện và giám sát những chính sách giáo dục, đào tạo trên cấp độ

quốc gia, vùng, địa phương và cơ sở”.

Quản lý giáo dục được hiểu là quản lý được thực hiện trong các tổ chức

giáo dục. Theo Nguyễn Ngọc Quang thì “QLGD là hệ thống tác động có mục

đích có kế hoạch của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành

theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất

của nhà trường Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình

dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên

trạng thái mới về chất” [21, tr341].

Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “QLGD được hiểu là những tác động



14



tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của

chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các

cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục

tiêu phát triển GD và ĐT thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD”. [21,

tr.341]

Theo nghĩa rộng, QLGD là hoạt động điều hành phối hợp các lực

lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác GD-ĐT thế hệ trẻ theo yêu cầu phát

triển của xã hội.

Theo nghĩa hẹp, QLGD thực chất là những tác động của chủ thể quản

lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh với sự

hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện

nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.

Có thể thấy các khái niệm về QLGD đều thống nhất với nhau về nội

dung và bản chất của quản lý là tác động của nhà quản lý giáo dục đến tập thể

giáo viên, học sinh và các lực lượng khác trong xã hội nhằm thực hiện có hệ

thống các mục tiêu giáo dục. Nói cách khác, bản chất của QLGD là sự phối

hợp, nỗ lực của các chủ thể giáo dục thông qua các chức năng quản lý.

Các tác giả nghiên cứu về QLGD đưa ra các ý kiến khác nhau về chức

năng của QLGD, nhưng hầu hết đều đề cập đến bốn chức năng sau:

- Kế hoạch hóa trong QLGD;

- Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục và phát triển giáo dục;

- Điều khiển (chỉ đạo) các lực lượng tham gia quản lý và thực hiện công tác

giáo dục;

- Kiểm tra, đánh giá kết quả các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao chất lượng

và hiệu quả giáo dục.

Mỗi chức năng QLGD được thể hiện trong nhà trường dưới hình thức

là một loại hoạt động bao gồm một hệ thống các công việc khác nhau và có tính

chuyên môn hóa.



15



1.2.2.1. Chức năng lập kế hoạch

Lập kế hoạch có nghĩa là suy nghĩ trước của một cái gì đó phải thực hiện,

và chuẩn bị cách để thực hiện những hoạt động đã mong muốn... đó là việc quyết

định:

- Những hoạt động gì mà một người hay một tổ chức muốn làm

- Những hoạt động đó được thực hiện như thế nào

- Khi nào những hoạt động đó được thức hiện

- Ai là người thực hiện những hoạt động đó

- Nguồn lực gì là cần thiết để thực hiện những hoạt động đó

- Những hoạt động đó được diễn ra ở đâu

Lập kế hoạch là cầu nối khoảng cách giữa vị trí của tổ chức và nơi mà tổ

chức muốn tới. Nó được gọi là cơ bản nhất của tất cả các chức năng quản lý.

Trong nhà trường, người CBQL trường học cần xác định được các mục

tiêu phát triển của nhà trường và chương trình hành động phải được cụ thể hóa

trước khi tiến hành thực hiện. Kế hoạch GD trong nhà trường bao gồm:

- Kế hoạch chiến lược dài hạn thực hiện trong một nhiệm kỳ 5 năm (những

định hướng lớn, thể hiện hình ảnh hiện thực trong tương lai mà nhà trường

mong muốn đạt tới và các giải pháp chiến lược để đạt được trên cơ sở khả năng

hiện tại);

- Kế hoạch năm học (định ra cho toàn bộ các mặt công tác, các hoạt động của

nhà trường trong một năm học);

- Kế hoạch tác nghiệp cho một thời kỳ ngắn (kế hoạch ngày, tuần, tháng, quý).

Tập trung vào những hoạt động nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục, xây

dựng cơ sở vật chất nhà trường, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và

học; quản lý tài chính, thanh tra, kiểm tra nội bộ; tổ chức các hoạt động đoàn

thể trong nhà trường và tạo mối quan hệ gắn bó nhà trường với chính quyền

địa phương và cha mẹ học sinh, xác định các công việc chi tiết để thực hiện,

thời gian bắt đầu và thời gian hoàn thành, các nguồn lực, người thực hiện và kết



16



quả cụ thể.

Yêu cầu lập kế hoạch

- Kế hoạch lập ra phải đáp ứng mục tiêu giáo dục, phù hợp với tình hình của cơ

sở giáo dục, có nội dung, định mức, hạn mức và nguồn lực, vật thực thực hiện

để kế hoạch mang tính khả thi, tính hiệu quả.

- Nghiên cứu kỹ mục tiêu giáo dục, chỉ thị, nghị quyết về giáo dục của cấp

trên, khảo sát, nắm vững thực tế của nhà trường từ đó các nội dung quan trọng,

cấp bách được đưa vào kế hoạch để kế hoạch vừa mang tính lý thuyết vừa

mang tính thực tiễn.

1.2.2.2. Chức năng tổ chức

Nói một cách ngắn gọn, tổ chức có nghĩa đảm bảo rằng tất cả các

hoạt động và quá trình được sắp xếp để tổ chức có thể đạt được những mục

tiêu. Những khía cạnh quan trọng nhất của tổ chức là việc nhận đúng người,

xác định trách nhiệm của họ, và phác thảo một tổ chức và cấu trúc mà đảm

bảo rằng những người lao động biết họ làm việc ở đâu, họ làm việc và báo

cáo với ai. Tổ chức còn có nghĩa là sắp xếp mọi thứ để các cá nhân có khả

năng cùng làm việc và liên hệ một cách tích cực với nhau, như vậy, đảm

bảo một môi trường lành mạnh khuyến khích làm việc có hiệu quả. Quá

trình của việc tổ chức bao gồm các bước sau đây:

- Xem xét những kế hoạch và mục tiêu: Điều này giúp nhà quản lý tổ chức

con người và nhiệm vụ để đạt được những mục tiêu đã định.

- Xác định các hoạt động cần thiết để thực hiện các mục tiêu.

- Phân loại và nhóm các mục tiêu vào các đơn vị quản lý công việc mà luôn

được tiến hành bằng cách kết hợp những kỹ năng với hoạt động cụ thể.

- Phân công công việc và nguồn lực: Đây là bước quan trọng trong quá

trình của việc tổ chức, bởi vì người nào phải kết hợp với công việc đó và

phải cung cấp được các nguồn lực để thực hiện những nhiệm vụ đã được

phân công.



17



Như vậy công tác tổ chức trong nhà trường là sắp xếp những yếu tố,

những con người và những hoạt động trong nhà trường một cách khoa học,

hợp tình, hợp lý. Trên cơ sở phân tích để hình dung toàn bộ khối lượng công

việc, lựa chọn những việc cần thiết và quan trọng nhất, ví dụ công tác bố trí,

sử dụng cán bộ, giáo viên, và việc kiểm tra là giao trách nhiệm, ủy quyền cho

cấp phó quản lý các mặt công tác còn lại. Đồng thời phân công, giao trách

nhiệm cụ thể, rõ ràng trong toàn bộ hệ thống quản lý theo nguyên tắc mỗi người

được giao một công việc cụ thể, với trách nhiệm cá nhân rõ ràng và quyền hạn

cụ thể. Việc quản lý phải xác định ai làm gì và làm khi nào. Công việc của

giáo viên ở trường học chủ yếu là dạy học, tuy nhiên, họ chỉ có thể được

phân công dạy môn học mà họ có đủ trình độ thì công việc mới có hiệu quả

và đạt được mục tiêu của việc dạy học.

1.2.2.3. Chức năng điều khiển (lãnh đạo/chỉ đạo)

Người quản lý phải học các kỹ năng lãnh đạo để làm việc có hiệu quả hay

nói cách khác người quản lý cũng phải là những nhà lãnh đạo hiệu quả. Chức

năng lãnh đạo của người quản lý bao gồm: Định hướng; Tạo ảnh hưởng; Giám

sát; Hướng dẫn;

Người CBQL nhà trường thực hiện chức năng điều khiển với vai trò là

người thủ lĩnh của tập thể sư phạm và của hoạt động giáo dục trong nhà trường

thông qua các hình thức:

- Các chỉ thị, quyết định thông qua hệ thống pháp quy được xây dựng trên cơ

sở kế hoạch. Trước khi ra quyết định cần tạo điều kiện cho tập thể cán bộ, giáo

viên thảo luận, góp ý và tìm ra giải pháp thực hiện tốt nhất nhiệm vụ được giao,

động viên mọi thành viên cùng tham gia thực hiện kế hoạch.

- Giám sát các hoạt động sao cho các trạng thái vận hành thực hiện theo đúng

kế hoạch và không làm thay đổi mục tiêu chiến lược đã được đề ra. Ví dụ, chỉ

đạo xây dựng nền nếp dạy và học, chỉ đạo tổ chức sinh hoạt tổ (nhóm) chuyên

môn, thực hiện nghiêm túc kế hoạch giảng dạy, về thực hiện chương trình, kế



18



hoạch dạy học các bộ môn, về hồ sơ chuyên môn, hồ sơ cá nhân để đạt mục tiêu

đề ra tốt nhất.

Khi thực hiện chức năng điều khiển cần bám sát quá trình thực hiện kế

hoạch, thu thập thông tin chính xác, biết phân tích, xử lý các nguồn thông tin

và đưa ra kết luận đúng đắn để kịp thời điều chỉnh, sửa chữa kế hoạch để đạt

hiệu quả tối ưu cho hoạt động giáo dục từ đó nâng cao uy tín của người lãnh

đạo nhà trường. Chú ý đảm bảo nguyên tắc phù hợp với pháp luật của Nhà

nước, thực hiện nghiêm túc các văn bản pháp quy, quy chế của ngành giáo dục

và đào tạo.

Người CBQL trường THPT không nên ôm đồm, không quá tập trung

những việc có thể chuyển giao trách nhiệm giải quyết cho cấp dưới, đồng thời

kiên quyết khắc phục tình trạng chung chung, đại khái, không đi sâu vào

nghiên cứu giải quyết những vấn đề then chốt, khoán trắng, buông trôi, không

tự xác định cho mình trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện các quyết định đã đề

ra. Sự phối hợp tốt nhất tìm thấy khi các cá nhân nhìn ra công việc của họ đóng

góp như thế nào vào những mục tiêu quan trọng của tổ chức.

1.2.2.4. Chức năng kiểm tra

Trong tất cả các tổ chức đều phải có một mức độ kiểm tra nhất định đối

với con người, tài chính, thời gian và các hoạt động.

- Kiểm tra là một chức năng rất quan trọng, không thể thiếu của người quản lý.

Kiểm tra là xem xét, đánh giá các hoạt động cá nhân và các tổ chức thuộc quyền

quản lý so với kế hoạch và mục tiêu đã đề. Từ đó, điều chỉnh, uốn nắn những sai

lệch kịp thời trong quá trình thực hiện.

- Kiểm tra còn là một trong những điều kiện cơ bản để nâng cao hiệu quả quản

lý quá trình giáo dục trong nhà trường. Việc kiểm tra, đánh giá phải dựa trên các

tiêu chuẩn được xây dựng từ mục tiêu. Nhờ vậy, việc kiểm tra, đánh giá mới

chính xác, khách quan. Kết quả của việc kiểm tra là khẳng định điều làm

được hoặc chưa làm được theo kế hoạch. Từ đó, CBQL có các quyết định chỉ



19



đạo tiếp để đạt được mục tiêu.

Khi tiến hành kiểm tra, người CBQL cần phối hợp nhiều cách thức

khác nhau như thông qua hồ sơ, sổ sách, trao đổi với giáo viên, cha mẹ học

sinh, bản thân học sinh, với các tổ chức trong nhà trường để thu được thông

tin khách quan, đáng tin cậy, toàn diện, đầy đủ và kịp thời. Việc kiểm tra phải

hướng vào mục tiêu là nâng cao chất lượng giáo dục học sinh; Không nên quá

chú trọng vào kết quả thu được của sự việc mà cần chú ý phân tích nguyên

nhân sinh ra nó. Hình thức kiểm tra cần đa dạng như kiểm tra đột xuất, kiểm

tra định kỳ và kiểm tra thường xuyên, kiểm tra theo chuyên đề…

1.2.3. Cán bộ quản lý giáo dục

- Cán bộ quản lý là các cá nhân thực hiện chức năng và nhiệm vụ quản lý nhất

định của bộ máy quản lý. CBQL được hiểu là người điều hành hay điều khiển tổ

chức thực hiện công việc. Mỗi CBQL đảm nhận trách nhiệm trong bộ máy quản

lý bằng một trong hai hình thức: tuyển cử hoặc bổ nhiệm.

- CBQLGD là người làm công việc lãnh đạo, quản lý, điều hành các hoạt động

giáo dục từ: bộ, cục, vụ, viện ở trung ương đến các sở, phòng, ban, cơ sở giáo dục

thuộc ngành giáo dục.

Theo từ điển Tiếng Việt thì đội ngũ là tập hợp số đông người cùng chức

năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp, hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống

(tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định.

Chúng ta có thể hiểu đội ngũ là một tập thể người gắn kết với nhau, cùng

chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo

một nguyên tắc.

- Như vậy đội ngũ CBQLGD được hiểu là tập hợp những người làm công tác

quản lý giáo dục, là những người thực hiện điều hành quá trình giáo dục diễn ra

trong các cơ sở giáo dục.

1.2.4. Quản lý trường học

Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính chất Nhà nước - xã



20



hội, trực tiếp làm công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ, trực tiếp tham gia vào

quá trình thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng

nhân tài cho đất nước. Nhà trường được thành lập theo qui hoạch, kế hoạch

của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục. Trường học là cơ quan hành

chính Nhà nước đồng thời là một tổ chức mang tính xã hội. Do đó quản lý

trường học vừa có tính Nhà nước vừa có tính chất xã hội. Nhà nước và xã hội

cùng chăm lo xây dựng và quản lý nhà trường. Quản lý Nhà nước các cấp phải

nhằm mục đích tạo mọi điều kiện tối ưu cho sự phát triển của trường học, nâng

cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo học sinh.

Quản lý trường học chính là quản lý giáo dục ở cấp vi mô, là những tác

động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật)

của chủ thể quản lý đến tập thể cán bộ, giáo viên, tập thể học sinh, cha mẹ học

sinh, các tổ chức, các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực

hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.

Nội dung quản lý trường học:

- Quản lý hoạt động dạy và học: Cụ thể là quản lý nội dung chương trình, quản

lý hoạt động chuẩn bị lên lớp và hoạt động lên lớp của giáo viên, quản lý hoạt

động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh,…

- Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp;

- Quản lý thông tin trong nhà trường;

- Quản lý nhân sự: Đội ngũ giáo viên, CBQL, cán bộ các phòng ban, công

nhân viên chức trong nhà trường. Trong đó, đội ngũ giáo viên là lực lượng nòng

cốt qui định trực tiếp chất lượng giáo dục, đào tạo của nhà trường;

- Quản lý đoàn thể và xây dựng các mối quan hệ trong nhà trường;

- Quản lý hành chính;

- Quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật;

- Quản lý tài chính;

- Quản lý công tác huy động cộng đồng tham gia xây dựng và phát triển nhà



21



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

×