1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH VĨNH PHÚC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.68 MB, 120 trang )


cùng với nền văn hoá phi vật thể cũng đa dạng, hấp dẫn như hệ thống các lễ hội,

các trò chơi dân gian, văn hoá nghệ thuật, thi ca, ẩm thực... đã tạo nên nền tảng cơ

sở vững chắc để phát triển nhanh, bền vững mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo của

tỉnh. Người dân Vĩnh Phúc hiếu học, cần cù, cầu thị, có ý thức tìm tòi, đổi mới và

sáng tạo là nguồn động lực cơ bản để phát triển nhanh, bền vững về kinh tế, xã hội

và giáo dục - đào tạo trên địa bàn tỉnh.

Vĩnh Phúc nằm trong vùng kinh tế trọng điểm khu vực Bắc bộ đã đạt được

những thành tựu lớn trong phát triển kinh tế - xã hội với đặc trưng là tốc độ tăng

trưởng kinh tế cao. Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần

thứ XIV (nhiệm kỳ 2005-2010), mặc dù gặp nhiều khó khăn thách thức, song

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Vĩnh Phúc đã không ngừng

phấn đấu đạt và vượt hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của Nghị quyết Đại hội. Kinh tế

tăng trưởng cao, GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt hơn 1.600 USD, gấp 3,4

lần so với năm 2005 và cao hơn bình quân của cả nước; cơ cấu kinh tế chuyển

dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ

chiếm hơn 86%. Mặc dù diện tích canh tác nông nghiệp giảm dần, nhưng sản xuất

nông - lâm nghiệp vẫn tăng khá, công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao và ngày

càng khẳng định rõ vai trò nền tảng của nền kinh tế; dịch vụ phát triển khá. Thu

ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng mạnh, với 80% là nguồn thu nội địa. Từ

năm 2009 Vĩnh Phúc đã tham gia câu lạc bộ trên 10 nghìn tỷ đồng. [34, tr112]

Theo kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2015, Quy

hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020, tỷ trọng khu vực công

nghiệp xây dựng trong tổng GDP của tỉnh ước thực hiện năm 2010 là 56,03%, dự

báo tăng lên 61,6% năm 2015 và trên 38,5% năm 2020; khu vực nông lâm ngư

nghiệp giảm từ 13,74% năm 2010 xuống 6,8% năm 2015 và khoảng 3,4% năm

2020. Như vậy cho đến năm 2020, khu vực công nghiệp - xây dựng vẫn chiếm vai

trò chủ đạo trong nền kinh tế của tỉnh. Mục tiêu đến năm 2015 Vĩnh Phúc cơ bản

trở thành tỉnh công nghiệp và đến năm 2020 trở thành một tỉnh công nghiệp theo



42



hướng hiện đại, là một trong những trung tâm công nghiệp, dịch vụ, du lịch của cả

nước; hướng trở thành thành phố Vĩnh Phúc trong những năm 20 của thế kỷ 21.

[27, tr4-8]

2.2. Khái quát về giáo dục Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc là một trong cái nôi hình thành nên cộng đồng người Việt

(di chỉ Đồng Đậu) với dân cư tập trung sinh sống lâu đời, kinh tế phát triển

nhanh trong hơn một thập kỷ qua, mạng lưới kết cấu hạ tầng khá phát triển và

liền kề với thủ đô Hà Nội nên có mạng lưới giáo dục, đào tạo tương đối toàn

diện và phát triển.

2.2.1. Quy mô mạng lưới trường lớp.

Hệ thống, mạng lưới trường lớp từ mầm non đến phổ thông được quy

hoạch hoàn chỉnh, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao và có chất lượng của

con em nhân dân. Đến nay, toàn tỉnh có 559 trường học và cơ sở giáo dục, đào

tạo với trên 248.454 học sinh, sinh viên (chiếm gần 25% dân số của tỉnh), trong

đó:

2.2.1.1. Mầm non (MN)

Tổng số trường: 171, (164 trường công lập, 7 trường tư thục), tăng 1

trường so với năm học trước. Nhà trẻ: có 3476 nhóm trẻ với 21.417 cháu, đạt

tỷ lệ huy động 50 % (tăng 1.118 cháu so với cùng kỳ năm học trước). Mẫu

giáo: có 1717 lớp mẫu giáo, với 51.911 cháu, đạt tỷ lệ huy động 97% (tăng 256

cháu so với cùng kỳ năm học trước). Riêng trẻ mẫu giáo 5 tuổi ra lớp đạt 99,9%.

Nhìn chung số trường, lớp, học sinh tăng đều ở tất cả các huyện, thành, thị

đặc biệt là trẻ mẫu giáo.

2.2.1.2. Tiểu học(TH)

Tổng số trường 175 với 2937 lớp, 77.980 học sinh (tăng 2.436 học sinh

so với cùng kỳ năm học trước), bình quân 26,5hs/lớp. Huy động 16.801 lệ trẻ 6

tuổi vào lớp 1 đạt tỷ lệ 99,8%; huy động học sinh khuyết tật ra lớp học hoà

nhập đạt 92,2 %.



43



2.2.1.3. Trung học cơ sở (THCS)

Tổng số 147 trường (tăng 01 trường so với năm học trước) với 1.823

lớp, 55.788 học sinh (31 hs/lớp). Tỷ lệ trẻ hoàn thành chương trình TH được

tuyển vào THCS đạt 99%.

2.2.1.4. Trung học phổ thông(THPT)

Tổng số có 37 trường với 846 lớp, 35.536 học sinh (42 hs/lớp). Tỷ lệ

tuyển vào lớp 10 so với số tốt nghiệp THCS là 82,96%.

Có 8 Trung tâm giáo dục thường xuyên (TTGDTX) (01 TT GDTX cấp

tỉnh, 07 TT GDTX cấp huyện), 10 trường chuyên nghiệp có hệ Bổ túc (BT

THPT). Tổng số có 161 lớp với 5.764 học viên BT THPT, trong đó có 5.494

học trung cấp nghề chiếm tỷ lệ 95,3%. Riêng số mới tuyển vào lớp 10 BT

THPT tuyển được 43 lớp với 1.634 học viên đạt gần 11,3 % học sinh tốt

nghiệp THCS . Toàn tỉnh có 10 trường CĐ, TCCN, cơ sở dạy nghề có tham

gia dạy Bổ túc THPT, có 137 Trung tâm học tập cộng đồng (100% xã,

phường).

2.2.2. Cơ sở vật chất – phòng lớp học

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 15/2007/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về

một số cơ chế chính sách phát triển GD&ĐT giai đoạn 2007-2010 và việc đẩy

nhanh tiến độ thực Đề án kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ giáo viên giai

đoạn 2008-2012 theo quyết định số 20/2008/QĐ-TTg ngày 01/02/2008 của Thủ

tướng Chính phủ theo đúng mục tiêu và tiến độ đến năm 2011 Vĩnh Phúc đã đạt

trên 90% kế hoạch của Đề án với tỷ lệ giải ngân đạt 100% vốn trái phiếu Chính

Phủ. Kết quả thực hiện kiên cố hóa như sau:

- Tình hình giải ngân năm 2011 được Chính phủ hỗ trợ 6,735 tỷ đồng đến nay

đã giải ngân được 6,735 tỷ đồng đạt 100%.

- Năm 2008, 2009, 2010 tỉnh đã đầu tư 513 tỷ đồng và năm 2011 tiếp tục đầu tư

200 tỷ đồng cho đề án kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ giáo viên.



44



- Năm học 2010-2011, toàn tỉnh đã phê duyệt chủ trương mở rộng thêm được

50 ha đất cho trường học.

- Năm 2011 có 298 phòng học đang triển khai thi công và 176 phòng đã xong

thủ tục xây dựng. Toàn ngành đã xây dựng mới được 364 phòng học kiên cố đưa

vào sử dụng (trong đó Mầm non: 94 phòng, Tiểu học: 179 phòng, THCS: 63

phòng, THPT: 28 phòng, nâng tỉ lệ phòng học kiên cố ở Mầm Non là 50 %, Tiểu

học là 88%, THCS là 93%, THPT và TTGDTX là 99%. Tỷ lệ phòng học/lớp ở

TH là 0,88; THCS là 0,87%, THPT là 0,96%. Số phòng học tăng tạo điều kiện

thuận lợi cho việc tổ chức học 2 buổi/ngày, học bán trú và giảm sĩ số học

sinh/lớp - được xác định là một giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục, rất cần

được các trường học tận dụng.

Toàn ngành đã và đang xây dựng 1.156 phòng nhà công vụ cho giáo

viên, trong đó 805 phòng đã hoàn thành đưa vào sử dụng (MN: 17; TH: 347;

THCS: 323; THPT: 118). Chương trình chiếu sáng ở tiểu học và THCS, sân

chơi ở mầm non và tiểu học; phòng học bộ môn và thư viện trường học ở các

trường phổ thông được ngành cùng các địa phương tích cực đầu tư xây dựng.

100 % các trường THPT đã có phòng học bộ môn và đã được khai thác tốt;

hầu hết các trường đều có thư viện, nhiều trường đã có phòng học bộ môn và

thư viện đạt chuẩn.

2.2.3. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia.

Công tác xây dựng hệ thống trường chuẩn quốc gia được Ngành xác

định là trục xuyên suốt nhằm chuyển đổi cơ cấu chất lượng các mặt giáo dục.

Việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được gắn với yêu cầu thực hiện

chuẩn chất lượng và từng bước chất lượng cao. Đến nay toàn tỉnh đã xây

dựng được 308 trường CQG (MN: 102; TH: 136; THCS: 71; THPT: 9) nâng tỉ

lệ trường đạt chuẩn quốc gia ở các bậc học tương ứng là: MN: 60%; TH:

77,7% (trong đó có 10 trường đạt chuẩn mức độ 2 chiếm tỷ lệ 5,7%); THCS:

48,3%; THPT: 29,7%.



45



2.2.4. Tình hình đội ngũ giáo viên và CBQL

Nhận thức rõ đội ngũ CBQL, GV là nhân tố quyết định chất lượng

giáo dục, công tác chăm lo và đầu tư phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQLGD

được Ngành thường xuyên quan tâm chăm lo xây dựng theo đúng tinh thần

Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư và Kế hoạch số 87-KH/TU của Tỉnh ủy

Vĩnh Phúc và được gắn chặt với việc triển khai Chuẩn hiệu trưởng và giáo

viên các cấp. Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL vững vàng về chính trị,

giữ vững phẩm chất đạo đức, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn,

nghiệp vụ.

Công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, phân công lao động cơ bản thực hiện

đúng quy trình công khai, dân chủ, quan tâm đến giải pháp nâng cao chất

lượng.

100% giáo viên và cán bộ quản lý được tập huấn đổi mới nội dung,

phương pháp dạy học, phương pháp sử dụng và quản lý đồ dùng dạy học. Các

đơn vị giáo dục trong tỉnh đã triển khai chỉ đạo của Sở, tổ chức cho giáo viên tự

học, nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng; trao đổi thảo luận trong tổ chuyên môn; hầu

hết giáo viên đã tiếp cận và áp dụng có hiệu quả nội dung bồi dưỡng vào việc

giảng dạy ở nhà trường.

Theo thống kê của Sở GD&ĐT Vĩnh Phúc, tổng số cán bộ quản lý và

giáo viên trong toàn ngành hiện nay là trên 14.000 người. Cụ thể: Mầm non:

2.822 giáo viên; Tiểu học: 3.734 giáo viên; THCS: 4.070 giáo viên; THPT,

TTGDTX: 2.107 giáo viên. Tỷ lệ giáo viên hiện đang đứng lớp ở các cấp học

(Tiểu học: học 2 buổi trên ngày đạt tỷ lệ 1,50 GV/lớp, học một buổi đạt 1,2

GV/lớp; THCS: 1,95 GV/lớp; THPT: 2,43 GV/lớp).

Giáo viên có trình độ đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn tăng nhanh ở tất cả

các ngành học, bậc học: MN 98% (trên chuẩn là 45%); TH 100% (trên chuẩn là

87%); THCS 100% (trên chuẩn là 60%); THPT 100% (trên chuẩn là 24%). Đặc

biệt, số giáo viên đã và đang học sau đại học ngày càng tăng, đảm bảo chất



46



lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn của ngành trong những năm tiếp theo. Đội

ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục các cấp có phẩm chất, năng lực, trách nhiệm

đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục.

Nhìn chung đội ngũ giáo viên cơ bản đủ về số lượng, có chất lượng và

được phân bố cân đối cả về tỉ lệ và cơ cấu bộ môn đến các trường học trên địa

bàn tỉnh, đáp ứng yêu cầu giảng dạy, giáo dục của địa phương.

Công tác bồi dưỡng CBQL, GV được thực hiện thường xuyên với nhiều

nội dung và hình thức phong phú: Đối với GV tập trung vào bồi dưỡng về

chuyên môn nghiệp vụ mà trọng tâm là bồi dưỡng về đổi mới PPDH, đổi mới

kiểm tra đánh giá theo chuẩn KT, KN; bồi dưỡng nâng cao khả năng khai thác sử

dụng TBDH, ứng dụng CNTT... Đối với cán bộ QLGD tập trung bồi dưỡng nâng

cao năng lực quản lí mà trọng tâm là quản lí chất lượng giáo dục theo hướng tiếp

cận theo tiêu chuẩn ISO... .

Năm học 2010-2011, Sở GD&ĐT đã mở các lớp bồi dưỡng cho cán bộ

quản lý về nâng cao năng lực quản lý CNTT trong nhà trường, về quản trị mạng

cơ bản và nâng cao, về xây dựng website. Cử trên 50 giáo viên tiếng Anh THCS,

THPT đi bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy tại Philipines. Các nhân viên làm

công tác y tế, thư viện, phụ trách thiết bị đồ dùng dạy học được hàng năm đều

được tập huấn.

Chủ trương xây dựng “Mỗi nhà trường là một trung tâm bồi dưỡng

giáo viên” được cụ thể thêm về nội dung của ngành đã đem lại hiệu quả rõ

rệt: Cán bộ quản lý, giáo viên đã được quản lý, tổ chức động viên thường

xuyên tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề nghiệp, phẩm chất nhà

giáo.

Ngành quan tâm tạo điều kiện cho GV đi đào tạo chuẩn hóa và trên

chuẩn, nhiều cán bộ, giáo viên đã tích cực tham gia học tập nâng chuẩn đào tạo.

Toàn ngành hiện có hơn 600 CBQL, GV đã và đang được đào tạo trình độ

Thạc sĩ, Tiến sĩ, góp phần tăng cường đội ngũ giáo viên cốt cán của ngành,



47



trong đó có nhiều giáo viên tham gia tích cực vào công tác bồi dưỡng học sinh

giỏi.

Công tác sử dụng và đãi ngộ đội ngũ được quan tâm đúng mức và kịp

thời: các giáo viên được phân công giảng dạy đúng chuyên ngành, đúng bộ môn,

không có tình trạng dạy chéo ban, làm việc trái nghề nghiệp, các giáo viên có

trình độ cao có năng lực ở mỗi cấp học được sử dụng tham gia công tác quản lý

từ nhóm, tổ đến cấp trường, cấp phòng và Sở Giáo dục và Đào tạo.

Ngành đã tổ chức tập huấn để triển khai đánh giá chuẩn hiệu trưởng trường

trung học, chuẩn giám đốc trung tâm GDTX và chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung

học.

Các chế độ chính sách đối với cán bộ giáo viên và nhân viên trong

ngành được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Đặc biệt đối với giáo viên Mầm non.

2.2.5. Chất lượng giáo dục các cấp học, ngành học

Kể từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay, giáo dục mầm non và giáo dục

phổ thông trên toàn tỉnh tiếp tục được củng cố, hoàn thiện về mạng lưới, hệ

thống tổ chức, cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên, đặc biệt chất lượng giáo

dục không ngừng được nâng cao và luôn đứng trong top đầu các tỉnh thành có

chất lượng giáo dục cao nhất cả nước cụ thể:

2.2.5.1. Đối với giáo dục mầm non:

Phát triển Quy mô giáo dục MN tăng nhanh và đều khắp ở tất cả các

vùng trong tỉnh; chú trọng phát triển đa dạng hoá các loại hình.Chất lượng chăm

sóc, giáo dục trẻ được nâng lên rõ rệt; Tỷ lệ trẻ ăn bán trú tăng 5,6%; Tỷ lệ trẻ

suy dinh dưỡng giảm còn 8,6 % ( giảm 2,1% so với đầu năm học). Triển khai

chương trình đổi mới đến 100% trường và 90% số lớp MN. Triển khai đồng bộ

các chuyên đề; chú trọng các chuyên đề về an toàn giao thông, bảo vệ môi

trường, tiết kiệm năng lượng. Tổ chức tốt Hội thi GV giỏi, hội thi gia đình & sức

khỏe trẻ thơ các cấp. Đặc biệt là việc ứng dụng CNTT đựợc triển khai có chiều



48



sâu có 163/171 trường ứng dụng CNTT (đạt 95%); 100% trường mầm non nối

mạng Internet; có 82,6% GV ứng dụng CNTT vào giảng dạy.

2.2.5.2. Đối với giáo dục phổ thông

Về giáo dục Tiểu học

- Chất lượng giáo dục toàn diện, đại trà ổn định ở mức cao: 100% HS được

xếp loại thực hiện đầy đủ về hạnh kiểm; 99,2% được xếp loại từ TB trở lên bộ

môn Tiếng Việt; 99% được xếp loại TB trở lên về môn Toán.

- Chất lượng GD mũi nhọn tiếp tục được khẳng định thuộc top đầu trong toàn

quốc thông qua các sân chơi trí tuệ cấp quốc gia: Năm học 2010-2011: Trong

kỳ thi Toán tuổi thơ toàn quốc Vĩnh Phúc đạt 01 HCV, 05 HCB; thi Trạng

nguyên nhỏ tuổi và viết chữ đẹp toàn quốc Vĩnh Phúc đạt 01 Trạng nguyên,

06 Bảng nhãn, 03 Thám hoa; 06 HCV thi Giao lưu tài năng Tiếng Anh tiểu

học toàn quốc; 03 HCB, 07 HCĐ, thi Tiếng Anh cấp Quốc gia trên Internet

(Vĩnh Phúc đứng thứ 8/32 tỉnh tham dự ở bảng B)

Về giáo dục trung học

Chất lượng giáo dục toàn diện, chất lượng đại trà ngày một nâng lên và

đạt thứ hạng cao trong toàn quốc.

- Cấp THCS: 96,69% học sinh được xếp loại Khá và Tốt về hạnh kiểm;

96,02% học sinh đạt trung bình trở lên về học lực, trong đó xếp loại Giỏi là

12,55%, Khá: 43,12%.

- Cấp THPT: 98,74% số học sinh được xếp loại hạnh kiểm Khá và Tốt; 94,56%

được xếp loại học lực từ trung bình trở lên, trong đó loại Giỏi: 5,23%, Khá: 45,1%.

- Chất lượng đại trà được khẳng định rõ nhất qua kết quả thi tuyển sinh

vào ĐH-CĐ theo đề chung của Bộ GD&ĐT. Số học sinh trúng tuyển vào các

trường ĐH, CĐ tăng nhanh. Kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ năm 2011, Vĩnh Phúc

đứng thứ 2 trên tổng số 63 tỉnh, thành cả nước (tăng 4 bậc so với năm 2010); có

6 trường THPT của tỉnh được xếp hạng trong tốp 200 trường THPT có chất

lượng tuyển sinh tốt nhất cả nước. Kết quả này cũng phản ánh trình độ quản lí,



49



năng lực giáo viên của ngành đã được nâng lên và người học đã ngày càng

được hưởng thụ nhiều hơn những thành quả tốt đẹp do giáo dục đem lại.

- Số lượng và chất lượng HSG quốc gia và quốc tế của tỉnh tiếp tục ổn định ở

mức cao. Hàng năm, trong kỳ thi chọn HSG Quốc gia lớp 12 THPT, Vĩnh Phúc

có trên 90% số học sinh dự thi đạt giải. Năm học 2010-2011, 58/60 học sinh

dự thi đạt giải, tỷ lệ 96,7%, xếp thứ nhất cả nước về tỷ lệ học sinh dự thi đạt

giải trong đó 18 giải nhì, 28 giải ba và 12 giải khuyến khích. có 07 học sinh

được dự vòng thi chọn đội tuyển dự thi Olympic Quốc tế.

- Cùng với sự quan tâm đầu tư về công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi

các môn văn hoá; công tác phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu thể thao, văn nghệ

được ngành giáo dục quan tâm và đã thu được nhiều kết quả; Trong năm học

2010-2011 ngành đã tổ chức nhiều giải thi đấu thể thao, văn nghệ; đã lựa chọn

được những học sinh có năng khiếu, có thành tích và thành lập các đội tuyển

dự thi HKPĐ toàn quốc năm 2012 và thi Giai điệu tuổi hồng toàn quốc tháng

6/2011. Đặc biệt trong tháng 4 năm 2011 tại giải bóng đá Cúp MiLô Khu vực I

gồm 15 tỉnh phía Bắc, đội Bóng đá học sinh TH Vĩnh phúc đạt giải Nhất, đội

Bóng đá học sinh THCS đạt giải nhì và được dự thi vòng chung kết toàn quốc

tháng 6/2011.

2.2.5.3. Về giáo dục thường xuyên (GDTX)

- Quy mô Bổ túc THPT phát triển ổn định. Năm học 2010-2011, toàn tỉnh có

189 lớp với 6.603 học viên trong đó có học nghề là 6.136 học viên chiếm tỷ lệ

93%. Tỷ lệ phổ cập THCS được nâng cao; số thanh thiếu niên từ 15 đến 18

tuổi có bằng THCS đạt tỷ lệ trên 94 %. 100% xã (phường thị trấn) trong tỉnh

đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS.

2.3. Thực trạng về giáo dục cấp THPT tỉnh Vĩnh Phúc

2.3.1. Quy mô trường, lớp, học sinh

Toàn tỉnh có 37 trường THPT với 846 lớp, 35.536 HS phân bố trên

khắp các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Trong số các trường THPT có



50



01 trường THCS + THPT, 01 trường Dân tộc nội trú, 01 trường Chuyên.

Bảng 2.1: Quy mô trường, lớp, học sinh trong 5 năm gần đây

Năm học

2007-2008

2008-2009

2009-2010

2010-2011

2011-2012



STT

1

2

3

4

5



Số trƣờng

44

38

38

37

37



Số lớp

1.043

918

906

877

846



Số HS

48.355

40.799

38.595

37.007

35.536



Nguồn: Phòng GDTrH - Sở GD&ĐT Vĩnh Phúc

Từ 01/08/2008 do huyện Mê Linh sát nhập về Hà Nội nên số trường,

lớp, HS đều có sự giảm đột ngột về số lượng (Giảm 06 trường, 125 lớp,

7.556 HS). Trong 4 năm tiếp theo cấp THPT tỉnh Vĩnh Phúc tiếp tục giảm về

số lượng: Số trường học giảm 01 (Trường THPT Dân lập), số lớp giảm 72,

số HS giảm 5.263. Số lớp giảm, số HS giảm nhưng số trường hầu như không

đổi. Ta có thể mô hình hóa các số liệu trên bằng các biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.1: Số lượng lớp học giảm dần từ năm 2007-2008 đến năm 20112012



1200

1000



1043

918



906



877



Số lớp



800

600

400

200

0

Năm học



51



846



2007-2008

2008-2009

2009-2010

2010-2011

2011-2012



Biểu đồ 2.2: Số lượng HS giảm dần từ năm 2007-2008 đến năm 2011-2012

60000



Số lượng học sinh



50000



48355

40799



40000



38595



37007



2007-2008



35536



2008-2009

30000



2009-2010

2010-2011

2011-2012



20000

10000

0

Năm học



Số học sinh giảm dần là do tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện tốt các chính

sách về dân số, tỷ lệ sinh con hằng năm giảm, do đó, số lượng HS giảm dần

dẫn đến số lớp học cũng giảm dần. Các trường THPT trên địa bàn tỉnh Vĩnh

Phúc đều được đặt ở vị trí thuận tiện giao thông, đảm bảo cảnh quan, môi

trường sư phạm. Diện tích bình quân đạt 20,2m2/1 HS. Trong tổng số 37

trường THPT có 01 trường THPT chuyên, 01 trường THPT DTNT, 01

trường THPT có nhiều cấp học (THCS + THPT); có 11 trường hạng 1, 18

trường hạng 2, 08 trường hạng 3. Số lượng HS, GV, ở các trường THPT đầu

năm học 2011-2012 được thể hiện như sau:

Bảng 2.2: Quy mô lớp học, HS, GV trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc đầu năm

2011-2012

TT



1

2

3

4

5



Tên trƣờng THPT



THPT Chuyên

THPT Trần Phú

THPT Vĩnh Yên

THPT Nguyễn Thái Học

THPT Tam Đảo



Số lớp



Số HS



Tỷ lệ

HS/lớp



30

35

21

20

27



903

1.502

934

790

1.073



30,10

30,06

44,48

39,50

39,74



52



Số

GV



82

77

52

50

67



Tỷ lệ

GV/lớp



2,73

2,20

2,48

2,50

2,48



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

×