1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIN HỌC Ở CÁC TRƢỜNG CAO ĐẲNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.47 MB, 115 trang )


- Một là: Tất cả học sinh tốt nghiệp phổ thông đều ứng dụng được CNTT và ý

thức được tác động của CNTT&TT đối với xã hội.

- Hai là: Ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lý ứng dụng CNTT trong

dạy học tạo môi trường học tập cho học sinh.

Tổng quan nghiên cứu vấn đề, chúng tôi chưa thấy có tác giả nào đi sâu

vào nghiên cứu các biện pháp để quản lý dạy học Tin học, đặc biệt là chưa

đưa ra được biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tin học ở một trường Cao

đẳng cụ thể.

1.1.2. Trong nước

Trong xu thế khoa học và kỹ thuật tiên tiến như hiện nay, Tin học gắn

bó hết sức chặt chẽ với tự động hoá, điều khiển và truyền thông. Khả năng

ứng dụng của Tin học trong đời sống và thực tiễn là vô cùng to lớn và tốc độ

phát triển của Tin học nhanh. Vai trò và ý nghĩa của Tin học mang lại lợi ích

cho con người, ở nước ta các nhà nghiên cứu về lĩnh vực Tin học cũng đã

dành nhiều công trình để viết về Tin học và có thể tóm lược theo hướng sau:

Ngày 17/10/2000 Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 58-CT/TW về

“Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Chỉ thị đã nêu: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT

trong công tác GD-ĐT ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình

thức đào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt tập trung

phát triển mạng máy tính phục vụ cho GD-ĐT, kết nối Internet tới tất cả các

cơ sở GD-ĐT" [2].

Đặc biệt, thực hiện chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị và Quyết định

81/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 30/07/2001, Bộ trưởng Bộ

GD-ĐT đã ra Chỉ thị số 29/CT-Bộ GD&ĐT về “ Tăng cường giảng dạy, đào

tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong nghành GD&ĐT giai đoạn 20012005” và Chỉ thị 55/2008/CT-BG&ĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc

tăng cường giảng dạy, đào tạo ứng dụng CNTT trong giáo dục giai đoạn



7



2008-2012 và chọn năm học 2008-2009 là “ Năm học đẩy mạnh ứng dụng

CNTT”, tạo bước đột phá về ứng dụng CNTT trong giáo dục và tạo tiền đề

ứng dụng và phát triển CNTT trong những năm tiếp theo.

Trong những năm qua quản lý hoạt động dạy học Tin học đã được

nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Gần đây các hội nghị, hội thảo hay

trong các đề tài khoa học nghiên cứu về Tin học đã đề cập nhiều đến vấn đề

quản lý ứng dụng Tin học trong giáo dục và nâng cao chất lượng dạy học:

- “Dạy học Tin học trong hoạt động và bằng hoạt động” của tác giả Lê Khắc

Thành (Dự án đào tạo giảng viên Trung học cơ sở) nêu lên cách dạy một nội

dung Tin học cho sinh viên. Đó là khi dạy nội dung Tin học, người giảng viên

phải biết phân tích nội dung đó thành những hoạt động rồi căn cứ vào mục

đích tiết học, trình độ sinh viên, trang thiết bị hiện có mà sinh viên luyện tập

và thực hiện một trong những hoạt động tiềm tàng trong nội dung cần dạy.

- “ Phương pháp trợ giúp giảng viên đưa tài liệu giảng dạy lên mạng” của

Bùi Ngọc Sơn - Trường ĐHBK Hà Nội trang bị cho giảng viên (không phải là

chuyên gia Tin học) một số kiến thức về việc đưa tài liệu giảng dạy lên mạng

bằng công nghệ CAI và ứng dụng của Web.

Có một số luận văn thạc sỹ khoa học nghiên cứu về quản lý việc dạy

học Tin học trong dạy học như:

- Tác giả Trương Văn Ân, Trường Cao đẳng sư phạm Bình Dương nghiên cứu

“Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy Tin học ở các khoa không

chuyên Trường CĐSP Bình Dương và một số giải pháp”. Tác giả nghiên cứu

rất kỹ về thực trạng của việc dạy học bộ môn Tin học và đưa ra các giải pháp

quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học Tin học ở các khoa không chuyên.

- Tác giả Nguyễn Hồng Ngọc, Trường Cao đẳng sư phạm Cần Thơ nghiên

cứu “Một số vấn đề về đổi mới phương pháp giảng dạy trong bộ môn Tin học

ở Trường CĐSP Cần Thơ”. Tác giả nêu một số định hướng về phương pháp

giảng dạy Tin học ở trường Cao đẳng sư phạm Cần Thơ.



8



Qua các đề tài đã nêu trên, hầu hết mới chỉ tập trung vào nghiên cứu

ứng dụng của Tin học trong giảng dạy, trong đổi mới phương pháp dạy học và

quản lý việc giảng dạy Tin học ở các khoa không chuyên, chưa có công trình

nghiên cứu để đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tin học ở

Hưng yên nói chung và trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị kinh doanh nói

riêng. Việc nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học Tin học

để nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị kinh

doanh là cần thiết.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý

1.2.1.1. Khái niệm

Khái niệm “Quản lý” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau dựa

trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau, vừa là khoa học vừa là nghệ thuật

đang là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm. Sau đây là một số định nghĩa về

“Quản lý”:

Theo H.Fayol(1841-1925), kỹ sư người Pháp – Ông quan niệm: “Quản

lý hành chính là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Trong

học thuyết quản lý của mình H.Fayol đưa ra 5 chức năng cần thiết của một

nhà quản lý là: Dự báo và lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp;

Kiểm tra.

Theo Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có

mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt

được mục tiêu nhất định”. [25,tr.8]

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động chủ thể quản lý

trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các

nguồn nhân lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là

nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất

và quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người –



9



thành viên của hệ nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự

kiến”. [22,tr.8]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là

khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. [37, tr.24]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là

hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến

khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức

vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. [8,tr.9]

Còn theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lý là

nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng

thái có tính chất lượng mới.

Quản lý = Quản + Lý

Trong đó: - Quản là coi giữ, cầm nắm tạo sự ổn định.

- Lý là chỉnh sửa, sắp xếp, đổi mới để phát triển.

Tuy nhiên có tính ổn định mà không phát triển thì dẫn đến trì trệ, lạc

hậu, còn có phát triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren. Trong ổn

định tạo mầm mống phát triển; phát triển giữ được hạt nhân cho ổn định. Vì

vậy quản lý là vừa chống lạc hậu và chống sự lạc điệu làm cho tổ chức luôn

giữ được sự ổn định và phát triển”. [6,tr.15]

Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua

sự nỗ lực của người khác. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích

của con người. Quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa:

Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể

quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý,

nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.



10



1.2.1.2. Chức năng quản lý

Chức năng quản lý là những hình thức thực hiện những tác động của

chủ thể đến đối tượng quản lý thông qua những nhiệm vụ mà chủ thể cần thực

hiện trong quá trình quản lý. Nhìn chung các tác giả khác nhau đều thống nhất

nêu lên các chức năng quản lý như sau:

- Chức năng kế hoạch

Chức năng kế hoạch hoá là xác định mục tiêu cho bộ máy, xác định các

bước đi để đạt được mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ

chức và các con đường, các biện pháp cách thức để đạt tới mục tiêu. Để vạch

ra được mục tiêu và xác định được các bước đi cần có khả năng dự báo, tức là

đòi hỏi nhà quản lý phải có khả năng lường trước sự phát triển của các sự vật

(của bộ máy). Những nội dung chủ yếu của kế hoạch là:

+ Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức.

+ Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực

của tổ chức để đạt được mục tiêu.

Quyết định xem những hoạt động nào cần thiết để đạt được mục tiêu đó.

Như vậy, có thể hiểu chức năng kế hoạch hoá là việc đưa toàn bộ hoạt

động quản lý vào công tác kế hoạch hoá, trong đó chỉ rõ các bước đi, biện

pháp thực hiện và bảo đảm các nguồn lực để đạt tới mục tiêu của tổ chức.

- Chức năng tổ chức

Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hoá

những ý tưởng ấy thành những hoạt động thực hiện. Tổ chức là quá trình hình

thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong

một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được

mục tiêu tổng thể của tổ chức. Người quản lý phải phối hợp, điều phối tốt các

nguồn nhân lực của tổ chức.

- Chức năng chỉ đạo

Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã

được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Đó là

quá trình liên kết, liên hệ với người khác, hướng dẫn và động viên họ hoàn



11



thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Tất nhiên

việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy

đã hoàn tất, mà nó xuyên suốt trong hoạt động quản lý.

- Chức năng kiểm tra

Chức năng kiểm tra diễn ra ở giai đoạn cuối cuối cùng của chu trình

quản lý, là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động

đạt tới các mục tiêu của tổ chức, chức năng kiểm tra bao gồm những nhiệm

vụ chính sau đây:

+ Người quản lý đặt ra các chuẩn mực thành đạt của hoạt động.

+ Đánh giá, đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đã đặt ra.

+ Điều chỉnh những sai lệch.

+ Hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần.

Trong những chức năng trên, mỗi chức năng đảm nhận vị trí, vai trò nhất định,

song các chức năng này có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau.

Như vậy, chức năng quản lý là những vấn đề hết sức cơ bản của lý luận về

quản lý, nó giữ một vai trò quan trọng trong thực tiễn quản lý. Chức năng quản lý

và chu trình quản lý thể hiện đầy đủ nội dung hoạt động của chủ thể quản lý đối

với khách thể quản lý. Vì vậy, việc thực hiện đầy đủ các giai đoạn quản lý trong

một chu trình là cơ sở đảm bảo cho hiệu quả của toàn bộ hệ thống được quản lý.

Việc thực hiện chu trình quản lý có hiệu quả hay không là nhờ có thông tin. Thông

tin vừa là điều kiện, vừa là phương tiện tổng hợp các chức năng trên.

Kế hoạch



Kiểm tra



Thông tin



Chỉ đạo



Sơ đồ 1.1. Các chức năng quản lý



12



Tổ chức



Nhìn về hình thức, quá trình quản lý được diễn ra tuần tự từ chức năng

kế hoạch đến các chức năng tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Song, trong thực tế

các chức năng đan xen, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện. Sự liên kết

giữa chức năng cơ bản này là thông tin quản lý và các quyết định quản lý.

1.2.2. Quản lý giáo dục

Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người và quản lý giáo dục là

một loại hình của quản lý xã hội. Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý

giáo dục:

Nghị quyết Hội nghị lần 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII

cũng đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý tới khách

thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết

quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất”. [27,tr.119]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục nói chung là thực hiện

đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa

nhà trường vận hành tiến tới mục tiêu đào tạo theo nguyên lý giáo dục”. [6,tr.25]

Theo quan điểm giáo dục hiện đại của các tác giả Nguyễn Quốc Chí Nguyễn Thị Mỹ Lộc, chỉ rõ: “Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống,

có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác

nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự

hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những

quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát

triển thể lực, trí lực và tâm lý của con người. Chất lượng của giáo dục chủ yếu

do nhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục phải nói đến quản

lý nhà trường cùng với hệ thống quản lý giáo dục”. [8,tr.71]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác

động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm

cho hệ vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính

chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy



13



học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên

trạng thái mới về chất”. [37,tr.24]

Theo tác giả Nguyễn Trọng Hậu “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng

quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh

công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ

mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn

ở thế hệ trẻ mà là cho mọi người; Tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ

trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục

quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân”. [17,tr.65]

Như vậy, quản lý giáo dục về thực chất là quản lý nhà trường và quản

lý các hoạt động diễn ra trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác…

Từ những định nghĩa trên cho thấy: QLGD là hệ thống những tác động

có mục đích, có kế hoạch, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý

mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục ở các cơ sở giáo dục.

1.2.3. Quản lý nhà trường

Trường học là hình thức thể hiện của hệ thống giáo dục trên quy mô

toàn xã hội, là nơi diễn ra hầu hết các hoạt động giáo dục của hệ thống giáo

dục quốc dân.

Nhà trường là một thiết chế xã hội, là đơn vị cấu trúc cơ bản của hệ

thống giáo dục quốc dân. Do đó, quản lý nhà trường là quản lý thiết chế của

hệ thống giáo dục , đó chính là quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô, cấp độ một

đơn vị cấu trúc cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân.

Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp

và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục

khác huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục,

đào tạo trong nhà trường.

Theo điều 48 luật giáo dục 2005 “Nhà trường trong hệ thống giáo dục

quốc dân thuộc mọi loại hình được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của

nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục”. [29,tr.42]



14



Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của các

cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và

các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để

nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”. [36,tr.205]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp

những tác động tối ưu của chủ thể quản lý của chủ thể quản lý đến tập thể

giáo viên, học sinh và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà

nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có.

Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là

quá trình đào tạo thế hệ trẻ”. [37,tr.43]

Vậy bản chất của hoạt động quản lý nhà trường là quản lý hoạt động

dạy học để đưa hoạt động này phát triển đi lên theo xu hướng tất yếu của thời

đại và đạt tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo.

Tóm lại: Quản lý nhà trường là QLGD được thực hiện trong phạm vi

xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo

dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội.

1.2.4. Quản lý hoạt động dạy học

1.2.4.1. Hoạt động dạy học

Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là con đường

để thực hiện mục đích giáo dục. Quá trình dạy học được tổ chức trong nhà

trường bằng phương pháp sư phạm đặc biệt nhằm trang bị cho học sinh hệ

thống kiến thức khoa học và kỹ năng vận dụng vào thực tiễn. Dạy học bao

hàm trong đó sự học và sự gắn bó với nhau, dạy không chỉ truyền thụ, giảng

dạy kiến thức kỹ năng cho học sinh mà còn là sự tổ chức, chỉ đạo và điều

khiển hoạt động học (nghĩa hẹp). Dạy học là con đường giáo dục tích cực, chủ

động ngắn nhất và có hiệu quả nhất giúp thế hệ trẻ tránh được những mò mẫm,

vấp váp trong cuộc đời.



15



Quá trình dạy học là một quá trình hoạt động thống nhất giữa giáo viên

và học sinh trong đó dưới tác động chủ đạo (tổ chức, điều khiển) của giáo

viên học sinh tự giác, tích cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhằm thực

hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đã đặt ra.

Hoạt động dạy học có chức năng tổ chức các dạng hoạt động học cho

học sinh tham gia, qua tham gia các dạng hoạt động học khác nhau, người học

tiếp cận với đối tượng học và lĩnh hội được nội dung học tập theo mục tiêu

đặt ra. Hoạt động dạy có chức năng thực hiện cơ chế di sản xã hội ở người.

Chức năng này thể hiện vai trò quan trọng của hoạt động dạy đối với sự tồn

tại và phát triển của xã hội loài người vì cơ chế di truyền và cơ chế di sản xã

hội là hai giá đỡ đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.

Hoạt động học có chức năng tái tạo các giá trị của xã hội loài người

trong mỗi cá nhân. Nó thực hiện chức năng di sản xã hội ở người. Trong khi

hoạt động, người học tiếp thu những kinh nghiệm xã hội - lịch sử của loài

người, tạo ra năng lực hoạt động để có thể tiếp tục duy trì sự tồn tại và phát

triển. Chính vì vậy, để hoạt động học có hiệu quả, người học phải tích cực

tham gia các phương thức hoạt động (như nhận thức, xã hội, văn hoá, liên

nhân cách), tiếp cận đối tượng học (nội dung tài liệu học) và chuyển hoá

chúng từ cái khách quan thành các giá trị chủ quan trong bản thân người học.

Hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm trong bất cứ loại hình nhà

trường nào, dưới góc độ của giáo dục học. Dạy học là một quá trình toàn vẹn có

sự thống nhất giữa hai mặt của các chức năng hoạt động dạy và hoạt động học.

Hoạt động dạy và hoạt động học luôn gắn bó, không tách rời nhau

thống nhất và biện chứng cho nhau tạo thành hoạt động chung. Dạy điều

khiển học, học tuân thủ dạy. Tuy nhiên, việc học phải chủ động, cách học

phải thông minh, có phương pháp sáng tạo.

1.2.4.2. Quản lý hoạt động dạy học

Quản lý hoạt động dạy học chính là quản lý cách thức làm việc của

thầy và trò trong việc chuyển tải nội dung dạy học. Việc quản lý ở đây không



16



chỉ là quản lý việc sử dụng hợp lý các phương pháp giảng dạy - học tập, để

nâng cao hiệu quả quá trình đào tạo mà phải thường xuyên tổng kết, đánh giá

và cập nhật các cách thức làm việc giữa thầy và trò sao cho tối ưu nhất. Bằng

việc cập nhật các cách thức làm việc mới, hiệu quả, người thầy đóng vai trò tổ

chức, thiết kế, kiến tạo, trò là người chủ động tiếp nhận, tìm tòi và thử nghiệm

để rút ra kết luận và kết quả nghiên cứu.

Quản lý quá trình dạy học thực chất là những tác động của chủ thể quản

lý đối với các hoạt động dạy học nhằm đạt mục tiêu quản lý.

Tóm lại: Quản lý hoạt động dạy học là sự tác động có kế hoạch, có mục

đích của chủ thể quản lý (hiệu trưởng nhà trường) đến khách thể quản lý (học

sinh, đội ngũ giáo viên công nhân viên nhà trường và các lực lượng giáo dục

khác) nhằm huy động tối đa các nguồn lực giáo dục trong và ngoài nhà trường

để xây dựng và phát triển nhân cách của người học.

1.2.4.3. Quản lý hoạt động học

Học tập là hoạt động nhận thức chỉ khi có nhu cầu nhận thức, nhu cầu

hiểu biết mới tích cực học tập. Nhu cầu hiểu biết đó chính là động cơ nhận

thức của học sinh trong học tập, học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể

trong hoạt động dạy học. Vì vậy quản lý hoạt động học chính là quản lý tổ

chức, điều khiển cách tiếp cận những tri thức mới, những hoạt động chiếm

lĩnh khoa học của học sinh.

Quản lý hoạt động học của học sinh đặt ra với người quản lý không

phải chỉ trên bình diện khoa học giáo dục mà còn có ý nghĩa tinh thần trách

nhiệm của nhà quản lý giáo dục đối với sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ. Thể hiện

qua một số việc sau:

- Tổ chức xây và thực hiện nội quy học tập

- Phát động phong trào thi đua học tập

- Phối hợp giữa các nhà sư phạm với các lực lượng giáo dục khác



17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (115 trang)

×