1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

1 Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.48 MB, 124 trang )


Từ những phân tích trên cho thấy, việc nghiên cứu đề tài “ Biện pháp

quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Cộng Hiền trong giai

đoạn hiện nay” là cần thiết và thiết thực góp phần tháo gỡ những bất cập trong

quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh.

1. 1 Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài.

1.1.1. Đạo đức

1.1.1.1.Khái niệm về đạo đức

Dưới góc độ Triết học: “Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất

của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực, điều tiết

hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng…”

[ 19,Tr.45].

Dưới góc độ Đạo đức học: “ Đạo đức là một hình thái



thức xã hội đặc



biệt bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên

tắc, chuẩn mực xã hội [13, tr12]

Dưới góc độ Giáo dục học: “ đạo đức là một hình thái



thức xã hội đặc



biệt bao gồm một hệ thống các quan niệm về cái thực, cái có trong mối quan

hệ của con người với con người [14, tr 170-171].

Theo từ điển tiếng Việt: “Những tiêu chuẩn, những nguyên tắc quy định

hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội, là những phẩm

chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn đạo đức của một giai cấp

nhất định” [ 5, tr.311].

Một trong những người nghiên cứu xây dựng đạo đức mới là Chủ Tịch

Hồ Chí Minh, Người gọi là đạo đức cách mạng. Khi nói về vai trò của đạo

đức cách mạng, Người coi đạo đức là nền tảng “ Người cách mạng phải có

đạo đức cách mạng làm nền tảng”, đạo đức là thước đo lòng cao thượng “ lo

trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Những phẩm chất đạo đức trong thời đại

ngày nay theo Người là “ Trung với nước, hiếu với dân”, “ Cần, kiệm, liêm,

chính, chí công vô tư”, “ thương yêu con người, quần chúng lao khổ, là khiêm



7



tốn, cầu tiến bộ, chăm lo đến việc chung. Khi bàn về phương pháp rèn luyện

đạo đức cách mạng, Người luôn dạy phải lấy tự phê và phê bình, phải thành

khẩn, phải thường xuyên “ Ngọc càng mài càng sáng”, nói đi đôi với làm,

phải làm gương, xây phải đi đôi với chống, phải tạo được phong trào, dư luận

rộng rãi.

Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng luôn

luôn là thước đo, là chuẩn mực cho chúng ta rèn luyện, chính vì vậy mà Bộ

Chính trị đã phát động cuộc vận động “ Học tập và làm theo tấm gương đạo

đức Hồ Chí Minh”. Để toàn dân nghiên cứu, học tập và làm theo Người.

Từ những định nghĩa về đạo đức nêu trên, có thể khái quát chung về

đạo đức như sau: “Đạo đức là một hình thái



thức xã hội, nhờ đó con người



tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc và làm giàu tính

người trong các quan hệ xã hội, kể cả trong quan hệ lợi ích”.[14, Tr.248].

Đạo đức là một hình thái



thức xã hội phản ánh những quan hệ xã hội



được hình thành và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự

giác thực hiện.

Đạo đức được thể hiện ở hành vi, thói quen, tập quán sống nên nó thường

xuyên biến đổi theo tiến trình phát triển của nhân loại trên hai phương diện

lịch sử và đồng đại.Có những giá trị trước đây được coi là chuẩn mực đạo đức

xã hội nhưng đến nay là phản giá trị, hay phi đạo đức.Hoặc ở dân tộc này,giai

tầng này được coi là giá trị đạo đức chính thống, song ở dân tộc khác, giai

tầng khác lại quan niệm ngược lại. Do đó, đạo đức có tính giai cấp, tính dân

tộc và tính thời đại.

Các giá trị đạo đức truyền thống tồn tại và phát triển trong xã hội dưới

những phạm trù:

 Thiện và ác.

 Có lương tâm và bất lương tâm

 Có trách nhiệm và tắc trách nhiệm



8



 Hiếu nghĩa và bất nghĩa, bất hiếu.





inh và nhục.



 Hạnh phúc và bất hạnh.

 Tính ngay thẳng, lòng trung thực.

 Tính nguyên tắc, sự kiên tâm.

 Tính khiêm tốn, sự lễ độ.

 Tính hào hiệp, sự tế nhị.

 Tính tiết kiệm, sự giản dị.

 Lòng dũng cảm, phẩm chất anh hùng.

Ngày nay trong nền kinh tế thị trường và sự hội nhập quốc tế, thì khái

niệm đạo đức cũng có thay đổi theo tư duy và nhận thức mới. Tuy nhiên,

không có nghĩa là các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các

giá trị đạo đức mới. Theo quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các giá trị đạo

đức hiện nay là sự kết hợp sâu sắc truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc

với xu hướng tiến bộ của thời đại, của nhân loại. Đó là tinh thần cần cù lao

động, sáng tạo, tình yêu quê hương đất nước gắn liền với chủ nghĩa xã hội,

sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có nếp sống văn minh lành

mạnh, có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả. Đạo đức là một hình

thái thức xã hội, chịu sự chi phối của điều kiện kinh tế vật chất xã hội, đồng

thời nó cũng có quan hệ tương tác với các hình thái thức xã hội khác như

pháp luật, văn hoá, nghệ thuật, giáo dục, khoa học, vv... ì vậy trong quá

trình hình thành và phát triển nhân cách có 3 thành tố:

Hành vi đạo đức

Hành vi pháp luật

Hành vi văn hoá

Phẩm đức của con người hoàn thiện gồm hai mặt đức và tài. Trong đó hành vi



9



đạo đức được đánh giá là thành tố quan trọng nhất, tốt đẹp nhất theo triết l :

“Pháp luật là đạo đức tối thiểu

Đạo đức là pháp luật tối đa”

Theo triết l trên thì pháp luật và đạo đức là hai bậc thang của một hành vi

liên quan chặt chẽ với nhau cùng một mục đích làm điều thiện, tránh điều ác.

Pháp luật là đạo đức tối thiểu, chung quy lại là không được làm điều ác. Đạo

đức là pháp luật tối đa, chung quy lại là không những không làm điều ác mà

cần tự nguyện làm điều thiện đem lại lợi ích vật chất hay tinh thần cho người

khác.

Xuất phát từ mối liên hệ biện chứng giữa các hình thái thức đã trình

bày ở trên thì việc giáo dục đạo đức trong nhà trường cần được hiểu theo một

khái niệm rộng là bao gồm hành vi đạo đức, hành vi pháp luật và hành vi văn

hoá.

1.1.1.2. Chức năng của đạo đức.

Đạo đức có ba chức năng: Nhận thức, giáo dục và điều chỉnh hành vi,

trong đó chức năng điều chỉnh hành vi là vô cùng quan trọng vì nó điều chỉnh

hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Chức năng nhận thức: Đạo đức là công cụ giúp con người nhận thức xã

hội về mặt đạo đức, các quan điểm đạo đức, nguyên tắc chuẩn mực đạo đức là

kết quả của phản ánh tồn tại xã hội, được con người đánh giá , thừa nhận và

khái quát thành những khuôn mẫu đạo đức, các giá trị đạo đức.

Chức năng giáo dục: Trên cở sở nhận thức đạo đức, chức năng giáo

dục giúp con người hình thành những phẩm chất nhân cách, hình thành hệ

thống định hướng giá trị và các chuẩn mực đạo đức, điều chỉnh



thức, hành



vi đạo đức.

Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức : Cùng với chức năng giáo dục,

chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức có tác dụng làm cho hành vi hoạt động

của con người phù hợp với lợi ích của xã hội, của cộng đồng. Chức năng nay



10



được thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu trước hết là bản thân chủ thể phải tự

giác điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở các chuẩn mực đạo đức, thứ

hai,tập thể cần tạo ra dư luận để khen ngợi khuyến khích , phê phán những

biểu hiện cụ thể của hành vi đạo đức.Đây là chức năng xã hội cơ bản , là bước

quan trọng trong hình thành nhân cách con người cho xã hội sau này.

1.1.2. Giáo dục đạo đức

1.1.2.1: Khái niệm về giáo dục đạo đức.

“Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới người học để hình thành cho

họ



thức, tình cảm, niềm tin đạo đức, đích cuối cùng và quan trọng nhất là tạo



lập được những thói quen hành vi đạo đức” [ 3, tr.16].

Giáo dục đạo đức về bản chất là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực

đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những

đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người

được GD. [23, tr.26].

Giáo dục đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với với GD chính trị - tư

tưởng, vì GD chính trị - tư tưởng có tác dụng xây dựng cơ sở thế giới quan

Mác - Lênin và định hướng chính trị - xã hội theo quan điểm và đường lối của

Đảng cộng sản, cho thức hành động đạo đức.

Giáo dục đạo đức còn gắn bó chặt chẽ với GD pháp luật. Giáo dục pháp

luật có nhiệm vụ giới thiệu cho người học các chuẩn mực về pháp luật của

Nhà nước, các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân



iệt Nam. Do đó, GD pháp



luật có tác dụng củng cố phương thức luận cứ các chuẩn mực đạo đức thúc

đẩy việc thực hiện các yêu cầu đạo đức.

Giáo dục đạo đức là quá trình hình thành những quan điểm cơ bản,

những nguyên tắc chuẩn mực của xã hội, nhờ vậy mà con người có khả năng

lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức trong cộng đồng cũng

như tự đánh giá các hành vi của bản thân mình. Công tác GDĐĐ góp phần

vào việc hình thành và phát triển nhân cách con người phù hợp với đối tượng

GD trong môi trường kinh tế - xã hội nhất định.



11



“Giáo dục đạo đức là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức, từ những

đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bên trong

của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục”.

Trong bài nói chuyện tại lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I.

Ngày 1 tháng 6 năm 1956, Bác Hồ đã dạy: “… Trong giáo dục không những

phải có tri thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng. Có tài phải có đức.

Có tài mà không có đức, tham ô hủ hoá có hại cho nước. Có đức mà không có

tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp ích gì được ai…”

Giáo dục đạo đức trong trường phổ thông là một bộ phận của của quá

trình giáo dục tổng thể có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục khác

như giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động

và giáo dục hướng nghiệp nhằm hình thành cho học sinh niềm tin, thói quen,

hành vi, chuẩn mực về đạo đức.

Giáo dục đạo đức là quá trình tác động tới học sinh của nhà trường, gia

đình và xã hội, nhằm hình thành cho học sinh



thức, tình cảm, niềm tin đạo



đức và xây dựng thể hiện được những thói quen, hành vi đạo đức trong đời

sống xã hội. Song giáo dục trong nhà trường giữ vai trò chủ đạo định hướng.

“giáo dục đạo đức cho học sinh là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng

của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ nghĩa”.

ì vây, giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục đạo đức xã hội chủ

nghĩa, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho học

sinh có tinh thần yêu nước, thấm nhuần l tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say

mê học tập, có



thức tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành



mạnh, biết tôn trọng pháp luật.



12



1.1.3. Quản lý.

1.1.3.1 Khái niệm về quản lý

Định nghĩa quản l có thể xét từ nhiều góc độ và các quan điểm tiếp cận

khác nhau.

Nghiên cứu về mặt quản l có rất nhiều quan niệm khác nhau. Các quan

niệm này phản ánh những mặt, những chức năng cơ bản của quá trình quản

l , song về cơ bản các quan niệm đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng quản

l , nội dung phương thức và mục đích của quá trình quản l . Từ điển tiếng

iệt “Quản l là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”.

Thuật ngữ quản l (từ Hán



iệt) nêu bản chất của hoạt động này trong



thực tiễn. Nó gồm hai mặt tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự trông

coi , giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “l ” gồm sửa sang, sắp

xếp, đưa vào thế hệ “phát triển”.

Theo C.Marx: “Quản l là lao động điều khiển lao động”. C.Mác đã coi

việc xuất hiện quản l như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình

lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được

phối hợp lại. C.Mác đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến

hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều

hoà những hoạt động cá nhân… Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình,

nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”. [1 , tr .326].

Theo W.Taylor: “Quản l là biết được chính xác điều bạn muốn người

khác làm ,và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt

nhất và rẻ nhất”. Theo ông có bốn nguyên tắc quản l khoa học. Theo ông có

bốn nguyên tắc quản l khoa học: [12, tr .332].

1. Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác

định phương pháp tốt nhất để hoàn thành;

. Tuyển chọn người và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng

phương pháp khoa học;



13



3. Người quản l phải hợp tác đầy đủ, toàn diện với người bị quản l để

đảm bảo chắc chắn rằng họ làm theo phương pháp đúng đắn;

4. Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa người quản l và người bị

quản l . [1 , tr. 327]

Theo Henry Fayol : “Quản l là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức

bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo)

và kiểm tra”. Ông còn khẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều

tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và

các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mặt lưới dệt nên mục tiêu của tổ

chức”[4,tr. 10]. Ông đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản

l và phân biệt thành năm chức năng cơ bản: “Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy,

phối hợp, kiểm tra” và sau này được kết hợp thành bốn chức năng cơ bản của

quản l : Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Ông đã đưa ra mười bốn

nguyên tắc trong quản l là: Phân công lao động, quyền hạn, kỷ luật, thống

nhất chỉ huy, thống nhất chỉ đạo, quyền lợi cá nhân phải phục tùng quyền lợi

chung, tiền lương xứng đáng, tập trung hoá, sợi dây quyền hạn, trật tự, bình

đẳng, ổn định đội ngũ, sáng kiến và tinh thần đồng đội… Những cống hiến

cảu ông về quản l đã mang tính phổ quát cao và nhiều luận điểm đến nay vẫn

còn giá trị khoa học và thực tiễn [1 , tr .327]

Định nghĩa kinh điển nhất về quản l là: các tác động có chủ hướng, có

chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị

quản lý) – trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đuợc

mục đích của tổ chức. [5,tr .9]

Hiện nay, hoạt động quản l thường được định nghĩa rõ hơn: quản l là

quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động

(chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, (lãnh đạo) và kiểm tra. [5,tr .9]



14



1.1.3.2. Chức năng của quản lý

Quản lí có 4 chức năng

Kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích

đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách

thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội dung chủ yếu của chức

năng kế hoạch hoá: (a) xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với

tổ chức; (b) xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các

nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này và; (c) quyết định xem

những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó. [6,tr .12]

Tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành

viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành

công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. [6,tr .13]

Lãnh đạo (chỉ đạo): Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người

khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục

tiêu của tổ chức. [6,tr .13]

Kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng của quản l , thông qua đó một cá

nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động

và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. [6,tr .13]

Các chức năng quản l tạo thành một chu trình quản l . Trong đó, từng

chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có quan hệ biện chứng với

nhau. Trong quá trình quản l thì yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các

giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện để tạo điều kiện cho

chủ thể quản l thực hiện các chức năng quản l và đưa ra được các quyết

định quản l .



15



Mối quan hệ giữa các chức năng của quản l được thể hiện qua sơ đồ

sau:

Kế hoạch



Kiểm tra,

đánh giá



Thông

tin



Tổ chức



Chỉ đạo



1.1.4. Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục

1.1.4.1.Nhà trường :

“Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo

giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố Thầy – Trò. Trường học

là một bộ phận cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc

dân, nó là đơn vị cơ sở.” [1, tr 63]

1.1.4.2: Quản lý nhà trường

Vai trò của quản lý nhà trường:

“Quản lý kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá lấy tiêu điểm là quản lý giáo dục

thì quản lý giáo dục phải lấy nhà trường làm căn bản”. [1, Tr.95].

Nội dung khái quát về khái niệm quản l nhà trường:

“Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm

vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo

dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục,

với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.[14,tr. 373]



16



Quản l trực tiếp nhà trường bao gồm quản l quá trình dạy học, giáo

dục, tài chính, nhân lực, hành chính và quản l môi trường giáo dục. Trong đó

quản l dạy học – giáo dục là trọng tâm. [1 ,tr .373]

Trong quản l và thực tiễn quản l nhà trường gồm hai loại quản l :

Một là: Quản l của chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường nhằm

định hướng cho nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát

triển (các cấp quản l nhà trường và sự hợp tác, giám sát của xã hội/cộng

đồng).

Hai là: Quản l của chính chủ thể bên trong nhà trường, hoạt động tổ

chức các chủ trương, chính sách giáo dục thành các kế hoạch hoạt động, tổ

chức chỉ đạo và kiểm tra để đưa nhà trường đạt tới những mục tiêu đã đề ra

(thực hiện các chức năng quản l của một tổ chức).

Từ các ý kiến trên cho thấy : Quản lý nhà trường thực chất là tác động

có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm

đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục tiến tới mục tiêu

giáo dục mà trọng tâm của nó là đưa hoạt động dạy và học tiến lên trạng thái

mới về chất .

1.1.4.3. Quản lý giáo dục

“Quản l giáo dục là hoạt động có



thức bằng cách vận dụng các quy



luật khách quan của các cấp quản l giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống

giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của nó”. [5, tr.12]

Quản l giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp

quy luật của chủ thể quản l , nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối

giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ

nghĩa iệt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy - học, giáo dục thế hệ trẻ,

đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.

[12, tr .341].



17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (124 trang)

×