1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

3 Những tác động cơ bản đến việc quản lý giáo dục đạo đức ở trường Trung học phổ thông

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.48 MB, 124 trang )


1.3 Những tác động cơ bản đến việc quản lý giáo dục đạo đức ở trường

Trung học phổ thông

1.3.1. Mục tiêu giáo dục THPT

Điều 7, Luật giáo dục đã viết:

1. Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện

về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá

nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người



iệt Nam



xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho

học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc.

. Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban

đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm

mỹ và các kỹ năng cơ bản nhất để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.

3. Giáo dục trung học cơ sở nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển

những kết quả của giáo dục tiểu học, có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và

những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung

học phổ thông, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.

4. Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát

triển những hiệu quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ

thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có

điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục

học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao

động.[18, tr.13 - 14].

1.3.2. Đặc điểm học sinh THPT

Lứa tuổi học sinh trung học phổ thông là thời kì quan trọng của sự phát

triển thể chất và nhân cách. Những kết quả nghiên cứu sự phát triển tâm sinh

l của học sinh cho thấy đó là sự thay đổi có gia tốc. Cụ thể: sự phát triển thể

chất đang đi vào giai đoạn hoàn chỉnh. Các tố chất thể lực như sức mạnh, sức



33



bền, sự dẻo dai được tăng cường; là thời kì trưởng thành về giới tính. Có sự

ổn định, cân bằng hơn so với lứa tuổi trước đó trong các hoạt động của hệ

thần kinh (hưng phấn, ức chế) cũng như các mặt phát triển khác của thể chất.

Do sự hoàn thiện về cấu tạo và chức năng của hệ thần kinh trung ương

và các giác quan, sự tích luỹ phong phú kiến thức và kinh nghiệm sống, do

yêu cầu ngày càng cao của hoạt động học tập, lao động, các hoạt động xã hội

mà sự phát triển về mặt tâm lí của học sinh trung học phổ thông có những nét

mới về chất.

Đặc điểm nổi bật nhất là sự phát triển tự ý thức. Học sinh trung học phổ

thông nhận thức được những đặc điểm và phẩm chất của mình trong xã hội,

trong cộng đồng.

Các em cũng có khả năng tự đánh giá bản thân theo những chuẩn mực

của xã hội, đánh giá những điều có



nghĩa, quan trọng đối với mình. Các em



khao khát muốn biết mình là người như thế nào? Có năng lực gì? Bên cạnh sự

phát triển của tự



thức và tự đánh giá, tính tự trọng của học sinh trung học



phổ thông cũng phát triển mạnh. Các em ở lứa tuổi có những khát vọng, hoài

bão, ước mơ về tương lai. Ý thức chọn nghề của học sinh THPT trở nên cấp

bách bởi việc chọn nghề có liên quan toàn bộ kế hoạch đường đời của các em.

Các mối quan hệ giao tiếp của học sinh trung học phổ thông ngày càng được

mở rộng về phạm vi và đặc biệt được phát triển về mặt chất lượng. Tuy nhiên,

kinh nghiệm và kỹ năng giao tiếp của các em còn hạn chế. Ở lứa tuổi này, đời

sống tình cảm, xúc cảm của học sinh rất phong phú, đa dạng, đồng thời áp lực

trong quan hệ giới tính, trong học tập để đạt được mục tiêu cùng với rất nhiều

yếu tố khác trong đời sống gia đình, các mối quan hệ trong nhà trường và

cộng đồng có thể gây căng thẳng cho các em.

Do thiếu kinh nghiệm và kĩ năng sống, do suy nghĩ còn nông cạn nên

các em có thể có những hành vi bạo lực với người khác khi có mâu thuẫn,

xung đột. Một thực tế đang tồn tại khá phổ biến các hiện tượng học sinh



34



THPT giải quyết mâu thuẫn với nhau bằng bạo lực, thậm chí các em nữ cũng

tham gia.



ì vậy cần giúp các em thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi giải



quyết mâu thuẫn một cách tích cực, mang tính xây dựng.[8, tr.104-105].

1.3.3. Đặc điểm của xã hội Việt Nam và của địa phương thời kỳ mở cửa,

hội nhập

Mở cửa hội nhập là mở rộng giao lưu, trao đổi về mọi mặt đối với các

quốc gia, dân tộc trên thế giới và khu vực để học tập, trao đổi kinh nghiệm,

trao đổi về mọi mặt nhằm góp phần giải quyết những mâu thuẫn, những thách

thức của thời đại để cùng phát triển với các dân tộc khác trên thế giới.

Trong quá trình mở cửa, hội nhập, mỗi quốc gia tiếp thu và chịu ảnh

hưởng rất nhiều mặt tích cực của các dân tộc, các quốc gia khác, nhưng đồng

thời cũng chịu ảnh hưởng tiêu cực, những mặt trái của quy luật kinh tế thị

trường và chịu ảnh hưởng cả những lối sống không phù hợp với sự tiến bộ xã

hội.

iệt Nam là một nước đang phát triển, mở cửa và hội nhập là một

đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, phù hợp với xu thế chung của

thời đại. Chính sách mở cửa hội nhập với khẩu hiệu “Muốn làm bạn với các

dân tộc, các quốc gia trên thế giới”, đó là chủ trương thể hiện truyền thống

nhân nghĩa của dân tộc. Đảng và Nhà nước ta chủ trương hội nhập nhưng

không hoà tan, phải tự khẳng định, phải giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn

vẹn lãnh thổ và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ gìn

bản sắc văn hoá của dân tộc. Trong quá trình mở cửa hội nhập, chúng ta

không thể tránh khỏi ảnh hưởng tiêu cực. Đó không chỉ là sự ngẫu nhiên mà

còn là âm mưu của các thế lực thù địch trong và ngoài nước.



ì vậy, trong



điều kiện mở cửa, hội nhập, việc định hướng cho sự lựa chọn chuẩn mực đạo

đức, lối sống của cá nhân là vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ.

Đáng tiếc hiện nay, có một bộ phận không chỉ là thanh thiếu niên mà cả

người lớn bị cám dỗ bởi lối sống ngoại lai không phù hợp với thuần phong



35



mỹ tục của dân tộc: ăn chơi sa đoạ, cờ bạc, nghiện hút, lười biếng, thiếu trách

nhiệm, sống gấp, thiếu lẽ sống, ích kỷ, phạm pháp, thiếu bản lĩnh, một số ít

người quay lưng lại với lịch sử, với dân tộc, chỉ quen đòi hỏi,… Có thể nói,

khi mở cửa, hội nhập có một số người đã lựa chọn cho mình một kiểu sống

ngược lại với xu thế tiến bộ, chống lại quyền lợi của cộng đồng dân tộc, đã

xác định những chuẩn mực đạo đức trái với yêu cầu của xã hội.

Theo tạp chí Báo cáo viên Ban Tuyên giáo Trung ương (số 5-2008) có

nhận xét khái quát: “Một bộ phận không nhỏ học sinh, sinh viên còn có thái

độ và động cơ học tập yếu, thiếu trung thực trong học tập, gian lận trong thi

cử. Một một bộ phận nhỏ học sinh chỉ đòi quyền hưởng thụ, không nghĩ đến

nghĩa vụ và trách nhiệm cống hiến, chưa tích cực học tập và rèn luyện,



thức



chuẩn bị cho ngày mai lập nghiệp chưa cao”. Đối với bộ phận này, việc giáo

dục, định hướng cho họ lựa chọn những giá trị cá nhân phù hợp với yêu cầu

của thời đại, của dân tộc không chỉ quan trọng mà còn rất cấp thiết trong giai

đoạn hiện nay.

Tiểu kết chương 1

Đạo đức là hệ thống những chuẩn mực, những quy tắc xã hội nhằm

điều chỉnh mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với xã hội.

Cấu trúc nhân cách gồm hai yếu tố là “tài” và “đức”; trong đó, “đức” là gốcnền tảng cho sự phát triển nhân cách con người.Do đó, GDĐĐ cho thế hệ trẻ

có nghĩa vô cùng quan trọng trong việc hình thành phát triển nhân cách toàn

diện cho học sinh. GDĐĐ cho HS là quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi toàn

xã hội phải quan tâm. Trong đó, nhà trường giữ vai trò chủ đạo.

Để GDĐĐ cho HS THCS đạt hiệu quả cao, nhà quản l giáo dục trước

hết phải nhận thức sâu sắc rằng trong các mặt giáo dục thì GDĐĐ giữ vị trí

hết sức quan trọng. Từ đó Hiệu trưởng QL công tác này một cách toàn diện,

khoa học. Cụ thể, hiệu trưởng quản l mục tiêu, nội dung, phương pháp,



36



phương tiện GDĐĐ. Ngoài ra, hiệu trưởng phải nắm được những yếu tố tác

động đến công tác GDĐĐ cho HS, công tác GDĐĐ cho HS phải được hiệu

trưởng kế hoạch hóa, đưa vào nề nếp, thực hiện một cách thường xuyên, bằng

nhiều con đường, nhiều hình thức, biện pháp phù hợp với tâm sinh l lứa tuổi

và điều kiện kinh tế- xã hội của địa phương.Các biện pháp GDĐĐ muốn khả

thi phải dựa trên hai yếu tố là cơ sở l luận và thực tiễn. Do đó, ngoài việc xác

lập cơ sở l luận, hiệu trưởng tất yếu phải điều tra, khảo sát, phân tích thực

trạng đạo đức của HS, thực trạng GDĐĐ cho HS và thực trạng quản l công

tác GDĐĐ cho HS.

Trên đây là các cơ sở l luận, pháp l , từ góc độ l luận quản l giáo dục

và góc độ l luận giáo dục đạo đức học sinh trong nhà trường phổ thông. Các

khái niệm và các khái quát hóa l luận đã cố gắng hình thành một khung l

thuyết đảm bảo cho việc khảo sát và phân tích thực trạng quản l công tác

GDĐĐ ở một trường THPT và đảm bảo một cơ sở l luận khoa học cho việc đề

xuất các biện pháp quản l công tác GDĐĐ HS ở trường THPT Cộng Hiền- Hải

Phòng trong giai đoạn hiện nay



37



CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH

TRƯỜNG THPT CỘNG HIỀN-HẢI PHÒNG

2.1. Vài nét về kinh tế - xã hội - giáo dục của huyện Vĩnh Bảo-Hải Phòng

Huyện ĩnh Bảo nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam thành phố Hải Phòng, có

diện tích đất tự nhiên trên 180 km2, dân số trên 19 vạn; nằm trên vùng hạ lưu

sông Thái Bình, ở phía Đông bắc đồng bằng sông Hồng; phía Đông bắc giáp

huyện Tiên Lãng (Hải Phòng), phía Tây bắc giáp huyện Ninh Giang, Tứ Kỳ

(tỉnh Hải Dương); phía Đông nam, Tây nam giáp huyện Quỳnh Phụ, Thái

Thụy (tỉnh Thái Bình), có quốc lộ 10 và quốc lộ 37 đi qua; cách trung tâm

thành phố Hải Phòng 40 km, là huyện đất liền xa nhất của thành phố; huyện

có 9 xã và 01 thị trấn; là địa phương giàu truyền thống lịch sử cách mạng,

văn hoá, truyền thống hiếu học, là quê hương của danh nhân văn hoá Trạng

Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

ới những thành tích xuất sắc trong hai cuộc kháng chiến chống thực

dân Pháp, đế quốc Mỹ và công cuộc đổi mới đất nước, Đảng bộ, chính quyền

và nhân dân ĩnh Bảo đã được tặng thưởng nhiều phần thưởng cao qu :

Trong 6 đơn vị, trong đó Đảng bộ và nhân dân ĩnh Bảo, Trung đội du

kích tập trung của huyện và 4 xã: Cổ Am, Đồng Minh, Cao Minh, Tam Đa

được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; 175 bà mẹ được

phong tặng danh hiệu Bà mẹ iệt Nam anh hùng. Nhân dân và Đảng bộ

huyện được tặng Huân chương Lao động hạng Nhì và Huân chương Lao động

hạng Nhất.

Kinh tế của huyện chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, theo phương thức

thuần nông, độc canh cây lúa, chăn nuôi lợn, bò, gia cầm và trồng một số loại

rau màu. Sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp rất nhỏ bé, chiếm tỷ trọng rất

thấp trong cơ cấu kinh tế (nông nghiệp 67%, công nghiệp dịch vụ 35%), có ít

nhà máy, xí nghiệp sản xuất công nghiệp.Thu nhập bình quân đầu người thấp

nhất thành phố: 350.000đ/ tháng.



38



ĩnh Bảo là một trong những vùng đất văn hiến của xứ Đông xưa và của

thành phố Hải Phòng ngày nay. Mảnh đất đã sinh ra Trạng Trình Nguyễn Bỉnh

Khiêm là một danh nhân văn hoá tiêu biểu của nước ta. Ông đã có những cống

hiến lớn trên các lĩnh vực:



ăn học, triết học, tư tưởng, đào tạo và dự báo. Có



thể coi đây là tập đại thành tri thức của dân tộc iệt Nam thế kỉ X I.

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng với 5 vị đỗ đại khoa, học vấn uyên

thâm, có nhiều cống hiến cho đất nước trên các lĩnh vực, đã góp phần tạo nên

truyền thống văn hoá quê hương.

Hiện nay toàn huyện có 31 trường mầm non, 31 trường tiểu học, 31 trường

THCS, 5 trường THPT, 1 trung tâm GDTX với tổng số học sinh gần 50 ngàn

em. Huyện đã xây dựng được một mạng lưới trường lớp khá hợp lí, đa dạng,

đồng bộ và hoàn chỉnh từ mầm non, tiểu học, THCS, THPT, GDTX, trung tâm

dạy nghề và trung tâm học tập cộng đồng, đáp ứng mục tiêu: Nâng cao dân trí,

đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; xây dựng xã hội học tập và học tập suốt

đời.



Các cơ quan trường học và các xã được tặng thưởng 10 Huân chương

Lao động hạng Nhì, 13 Huân chương Lao động hạng Ba, 4 trường được

thưởng huân chương lao động (mầm non Tam Cường, tiểu học Hoà Bình, Trung

học cơ sở Nguyễn Bỉnh Khiêm, THPT



ĩnh Bảo); 18 trường tiểu học và



trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; toàn huyện đạt chuẩn quốc gia về xoá mù

chữ - phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi (1995) và chuẩn quốc gia phổ cập

giáo dục THCS ( 000), phổ cập bậc trung học và nghề vào năm học 007.

Tuy nhiên, cũng như tình trạng chung của cả nước, vấn đề nâng cao chất

lượng giáo dục của



ĩnh Bảo chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH,



HĐH và còn nhiều khó khăn, bất cập thể hiện ở: chất lượng giáo dục đại trà còn

thấp, phương pháp giáo dục còn lạc hậu và chậm đổi mới. Lối học khoa cử còn

nặng nề, chưa chú trọng việc xây dựng tư duy sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu.

Chưa chú trọng đúng mức về việc giáo dục đạo đức, lối sống, động cơ học tập

cho học sinh. Các điều kiện đảm bảo phát triển giáo dục còn nhiều bất cập. Chất

lượng đội ngũ quản lí giáo dục và giáo viên còn hạn chế. Năng lực của đội ngũ

cán bộ quản lí giáo dục chưa ngang tầm với yêu cầu phát triển của sự nghiệp



39



giáo dục. Cơ sở vật chất các trường học còn thiếu thốn, lạc hậu. Quy hoạch

trường lớp còn chắp vá, quy mô nhỏ bé, hầu hết các trường học chưa đủ phòng

học 1ca/ lớp, phòng thí nghiệm, phòng thực hành. Đời sống của ĐNG



còn gặp



nhiều khó khăn, thiếu thốn. Chính quyền địa phương chưa có chính sách ưu tiên,

đãi ngộ thoả đáng đối với ĐNG , nhất là các giáo viên giỏi.



2.2. Thực trạng công tác giáo dục đạo đức học sinh của trường THPT

Cộng Hiền

2.2.1. Khái quát về trường THPT Cộng Hiền-Hải Phòng.

Trường THPT Cộng Hiền được thành lập từ tháng 10 năm 1974 .Vào

những năm đầu của thập kỷ 70 của thế kỷ XX ,do nhu cầu học tập của con em

các xã như: Cộng Hiền, Tiền Phong,

Hưng Nhân huyện



ĩnh Phong, Thanh Lương, Đồng Minh,



inh Bảo - Hải Phòng trước đây các em phải đi học xa tại



trường cấp III L Học, cấp III



ĩnh Bảo. Do vậy Sở giáo dục và đào tạo,



UBND thành phố Hải Phòng và bộ giáo dục đã cho phép mở phân hiệu cấp III

Lý Học trên địa bàn xã Cộng Hiền để thu hút học sinh trong khu vực về học

tập.

Tháng 9 năm 197 phân hiệu của trường cấp III L Học được đặt tại

khu đất xã Cộng Hiền - Huyện ĩnh Bảo - Thành phố Hải Phòng và đến tháng

10 năm1974 trường THPT Cộng Hiền chính thức được thành lập.

Trường THPT Cộng Hiền nằm trên địa bàn xã Cộng Hiền - Huyện

ĩnh Bảo - Thành phố Hải Phòng, cạnh trục đường 17B, phía Tây Bắc giáp

xã Đồng Minh, phía Đông Nam giáp xã Cộng Hiền, phía Tây giáp xã Tiền

Phong và phía Đông Bắc giáp xã Thanh Lương. Diện tích nhà trường sử dụng

năm 1974 được nhà nước cấp là 16.000 m2.

Cơ sở vật chất ban đầu: nhà trường có 8 phòng học với 1 lớp, đội ngũ

giáo viên cán bộ , nhân viên chỉ có gần 30 người.

Trong suốt gần 40 năm xây dựng và phát triển trường THPT Cộng Hiền

đã vượt qua nhiều khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước



40



giao cho, đã có hàng ngàn học sinh ra trường đang công tác tại mọi miền của

Tổ quốc, có nhiều người đã trưởng thành đang giữ các trọng trách quan trọng

trong quân đội, công an và các cương vị chủ chốt của địa phương cũng như cơ

quan lãnh đạo của Đảng và nhà nước, Nhiều tiến sĩ, kỹ sư, bác sĩ cũng như

nhiều chủ doanh nghiệp lớn nhỏ.Trường đã làm tốt sứ mệnh nâng cao dân trí

đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho khu vực, cho thành phố và cho đất

nước.

Nhà trường đã nhiều lần được UBND thành phố, Sở GD và ĐT tặng

bằng khen và giấy khen. Tuy là một trường THPT nằm ở vùng sâu vùng xa

nhưng luôn có học sinh giỏi cấp thành phố thứ hạng cao trong khối các trường

THPT toàn thành phố. Hiện nay nhà trường có 5% số giáo viên được công

nhận là giáo viên giỏi, chiến sĩ thi đua cấp thành phố.

Hàng năm số học sinh chuyển lớp và thi tốt nghiệp thường đạt 98100%. Chất lượng học sinh đại trà luôn được nâng lên, học sinh đỗ vào các

trường cao đẳng, đại học trung bình từ 35-40 %

Cơ sở vật chất nhà trường trong những năm gần đây từng bước được bổ

sung từ 8 phòng học ban đầu với số giáo viên, cán bộ nhân viên là 7 người

đến nay có 6 phòng học kiên cố với giáo viên, cán bộ nhân viên lên tới 106

người. Từ gần 500 học sinh ban đầu, đến nay số học sinh đã lên 1665 học sinh

Chi bộ đảng có 9 đảng viên, 5 đồng chí trong ban chi ủy, Chi bô nhà

trường là chi bộ trực thuộc huyện ủy



ĩnh Bảo. Ban giám hiệu nhà trường



hiện nay gồm 4 đồng chí. 100% các thầy cô giáo đạt trình độ đại học, trong đó

có 7 thầy cô là thạc sĩ. Công đoàn và Đoàn thanh niên liên tục được các cấp

công nhận là vững mạnh xuất sắc. Chi bộ đảng luôn đạt danh hiệu trong sạch

vững mạnh.



41



Bảng 2.2.1: Quy mô trường, lớp, học sinh trung học phổ thông Cộng Hiền

Năm học



Số lớp



Cán bộ, giáo viên



Số học

sinh



SL



Trình độ

Đạt chuẩn (%)



Trên chuẩn (%)



2008 - 2009



41



1864



97



96,7



1,9



2009 - 2010



39



1727



98



98,1



3,8



2010 - 2011



39



1665



102



98,1



5,7



2.2.2 Thực trạng công tác giáo dục đạo đức của học sinh trường THPT

Cộng Hiền.

2.2.2.1 Thực trạng về nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên, phụ huynh và

học sinh về mục tiêu của công tác giáo dục đạo đức học sinh

Để tìm hiểu thực trạng về nhận thức của cán bộ quản lí, giáo viên, phụ

huynh và học sinh về mục tiêu của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở

trường THPT Cộng Hiền, chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi đối với

100 cán bộ quản l , giáo viên, phụ huynh học sinh của nhà trường với nội

dung câu hỏi: “Đồng chi cho biết mục tiêu giáo dục đạo đức nào sau đây là

quan trọng ?”

Bảng 2.2.2. Đánh giá nhận thức về mục tiêu giáo dục đạo đức.

TT



Kết quả



Ba mục tiêu giáo dục đạo đức

SL



tỉ lệ %



1



Cung cấp kiến thức nâng cao nhận thức



95



95



2



Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức



97



97



3



Rèn luyện hành vi đạo đức.



98



98



(Nguồn: Điều tra ở trường THPT Cộng Hiền-Hải Phòng tháng 11/2011)



42



Kết quả khảo sát cho ta thấy các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh : Phần

lớn đều có nhận thức đầy đủ về mục tiêu của giáo dục đạo đức học sinh là

cung cấp kiến thức về các chuẩn mực đạo đức xã hội; giáo dục phát triển xúc

cảm, tình cảm, niềm tin đạo đức, giúp học sinh hướng tới chân, thiện, mỹ; rèn

luyện hành vi ứng xử, giao tiếp phù hợp với các chuẩn đạo đức.

Tuy nhiên việc cung cấp các kiến thức, các chuẩn mực xã hội, các giá

trị đạo đức, cũng như rèn luyện thói quen, hành vi đạo đức chưa được dành

nhiều thời gian và thực hiện chưa được thường xuyên.

2.2.2.2 Thực trạng về thực hiện các nội dung của công tác giáo dục đạo đức

học sinh ở trường THPT Cộng Hiền trong 3 năm học gần đây .

Để tìm hiểu thực trạng về việc thực hiện các nội dung của công tác giáo

dục đạo đức học sinh ở trường THPT Cộng Hiền trong 3 năm học gần đây ở

trường THPT Cộng Hiền, chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi đối với

100 cán bộ quản l , giáo viên, phụ huynh học sinh của nhà trường với nội

dung câu hỏi: “ Đồng chí cho biết mức độ quan tâm của nhà trường, gia đình

đối với các nhóm giá trị đạo đức dưới đây khi giáo dục học sinh ?”

Bảng 2.2.3: Đánh giá của cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh về

việc thực hiện giáo dục đạo đức học sinh theo các nhóm giá trị đạo đức



TT



Năm nhóm giá trị đạo đức



Đã quan

tâm giáo

dục nhiều

Số ý

kiến



tỉ lệ

%



quan tâm

mức bình

thường



Ít quan

tâm



Số ý

kiến



tỉ

lệ

%



Số ý

kiến



tỉ

lệ

%



1



Quan hệ với bản thân (tự trọng,

tự tin, tự lập, sống giản dị, tiết

kiệm,trung thực,nhân ái,…)



90



90



8



8



2



2



2



Quan hệ với mọi người và dân

tộc khác; (nhân nghĩa, biết ơn,

yêu thương, khoan dung, vị



90



90



7



7



3



3



43



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (124 trang)

×