1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.57 MB, 115 trang )


ngoài nƣớc, đặc biệt là những ngƣời đang hoạt động thực tế (kinh doanh, kỹ

thuật, quản lý...) tham gia giảng dạy. Các phòng thí nghiệm, trung tâm và

công ty thuộc trƣờng đại học cũng tham gia vào công tác nghiên cứu khoa

học. Nhiều giáo sƣ ở các trƣờng đại học cũng là những nhà kinh tế chủ chốt

của các ngân hàng, công ty lớn và là cố vấn chính phủ.Mô hình QLGD đại

học ở Nga: Mô hình này dựa vào nguyên tắc tập trung hóa và thống nhất về

chính trị chi phối toàn bộ hoạt động và quản lý, quy mô và nội dung chất

lƣợng đào tạo của các trƣờng đại học trong một hệ thống. Hoạt động của tất

cả các trƣờng đại học hầu nhƣ nhờ vào nguồn kinh phí của nhà nƣớc. Các

trƣờng đại học đƣợc tự soạn giáo trình và chọn phƣơng pháp giảng dạy, song

phải theo chƣơng trình và kế hoạch học tập của Bộ Đại học. Ƣu điểm của mô

hình này là Nhà nƣớc có thể quản lý chặt chẽ và toàn diện giáo dục bậc đại

học, tạo ra nền giáo dục đại học có tính đại chúng cao. Song, mặt hạn chế của

mô hình này là thiếu sự năng động và kém thích ứng trƣớc sự biến đổi của

môi trƣờng kinh tế-xã hội quốc gia và quốc tế.

Mô hình QLGD đại học Đức : Mô hình giáo dục đại học Đức do Uyn-hem

Vôn Hăm-bôn sáng lập từ thế kỷ XIX với mục đích xây dựng những trung

tâm nghiên cứu đại học hiện đại để “đẩy lùi những biên giới của kiến thức”.

Mô hình này không coi trọng sự can thiệp của chính trị và quyền lực nhà nƣớc

đối với giáo dục đại học. Nó đảm bảo tính độc lập, tự quyết của các trƣờng

đại học và quyền tự do của các thành viên đƣợc theo đuổi việc nghiên cứu mà

không có sự can thiệp của chính quyền. Chính phủ liên bang và các bang chỉ

có quyền hạn quản lý một phần công việc của các trƣờng đại học, thông qua

việc cấp phát tài chính và qua Hội đồng đại học để bàn bạc đánh giá công việc

của các trƣờng. Các trƣờng đại học ở Đức có toàn quyền tuyển dụng, trả

lƣơng và thƣởng - phạt nhân sự của mình.

Mô hình QLGD đại học Anh: Mô hình giáo dục đại học đƣợc nêu lên nhƣ một

tấm gƣơng sáng về một hệ thống giáo dục bậc cao đƣợc hƣởng sự tự trị về thể



13



chế rất rộng rãi. Nhà nƣớc chỉ quản lý các trƣờng đại học thông qua việc cấp

phát tài chính. Các trƣờng đại học ở đây hoàn toàn có quyền sử dụng kinh phí

đã đƣợc cấp mà không có sự can thiệp hay kiểm tra của nhà nƣớc. SV bắt

buộc phải ở trong ký túc xá, hợp thành một cộng đồng sinh hoạt và học tập

dƣới sự quản lý của nhà trƣờng. Tuy nhiên, hạn chế của giáo dục đại học ở

Anh so với các nƣớc khác chi phí trung bình 15000 USD một năm đối với

một SV là quá cao, chỉ có những gia đình khá giả mới có khả năng chi trả

khoản tiền khổng lồ này. Hiện nay, có thể thấy rằng, giáo dục đại học ở Anh

dƣờng nhƣ chỉ mở cửa đối với tầng lớp giàu có ở trong và ngoài nƣớc.

Mô hình QLGD đại học Pháp: Giáo dục đại học Pháp do Na-pô-lê-ông khởi

xƣớng, là một trong những ví dụ cổ xƣa nhất về việc Nhà nƣớc sử dụng đại

học nhƣ một công cụ hiện đại hóa xã hội. Các trƣờng đại học ở Pháp có quyền

chủ động xây dựng chƣơng trình, nội dung và phƣơng pháp giảng dạy cũng

nhƣ nghiên cứu khoa học. Năm 1968, Pháp tiến hành cải cách giáo dục, quyền

tự trị của các trƣờng đại học đƣợc mở rộng thêm về lĩnh vực tài chính, nhân

sự.... Mô hình giáo dục đại học Pháp đƣợc hình thành trong cơ chế thị trƣờng,

do đó có thể khuyến khích sự cạnh tranh về nhân lực và chất lƣợng giữa các

trƣờng đại học.

Giáo dục đại học Pháp đƣợc chia thành hai hệ: đào tạo tổng quát và đào

tạo nghề nghiệp. Hai hệ này không tách rời nhau: giữa hai hệ thƣờng có cầu

nối để SV có thể chuyển từ hệ này sang hệ kia.

1.1.2 Quản lý giáo dục Đại học ở Việt Nam

Từ khi giành đƣợc độc lập, Giáo dục và Đào tạo luôn đƣợc Đảng và Nhà

nƣớc đặc biệt quan tâm, luôn dành những ƣu tiên để phát triển – coi giáo dục

“là quốc sách hàng đầu” nhằm phát triển nguồn nhân lực tri thức cho xã hội,

tạo bƣớc đột phá trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Sự

nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá chỉ có thể thành công khi

chúng ta có một nguồn lực có chất lƣợng, vì vậy chiến lƣợc phát triển giáo



14



dục đào tạo ở nƣớc ta trong giai đoạn này là một vấn đề sống còn của dân tộc.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra định hƣớng “Phát triển và nâng

cao chất lƣợng đào tạo đại học….”, “Tiếp tục nâng cao chất lƣợng giáo dục

toàn diện, đổi mới nội dung, phƣơng pháp dạy học, hệ thống trƣờng lớp và hệ

thống quản lý giáo dục, thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hoá”.

Trong quản lý giáo dục, đã có một số công trình nghiên cứu về các biện

pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục đào tạo

nhƣ: Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Đức Ngọc... Ngoài ra cũng đã có một số luận

văn thạc sĩ nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học của các học viên trong

các cơ sở đào tạo khác nhau.

Hoạt động dạy học là một trong những hoạt đông trọng tâm, quyết định sự

thành công hay thất bại của quá trình giáo dục. Trong hoạt động dạy học, vấn

đề quản lý lại là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Mặc dù đã có nhiều công

trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học, nhƣng quản lý hoạt động dạy

học là một quá trình phức tạp, phụ thuộc vào thời gian, môi trƣờng, tính chất

quản lý của từng ngành, từng trƣờng khác nhau. Vì vậy, muốn cho việc quản

lý đƣợc thực hiện tốt, yêu cầu mỗi trƣờng nên có ít nhất một công trình

nghiên cứu khoa học vấn đề quản lý riêng của trƣờng mình, phù hợp với

ngành nghề, đặc thù riêng của từng trƣờng và nghiên cứu đó cũng phải

thƣờng xuyên chỉnh sửa để phù hợp với từng giai đoạn phát triển của trƣờng,

của xã hội.

Học viện Y Dƣợc học cổ truyền Việt Nam mới thành lập đƣợc 4 năm, là

trƣờng đại học duy nhất cho đến nay tại Việt Nam đào tạo chuyên sâu về y

học cổ truyền. Với kinh nghiệm đào tạo còn khiêm tốn, kinh nghiệm quản lý

quá trình dạy học cũng chƣa nhiều; Do đó, việc nghiên cứu “Biện pháp quản

lý quá trình dạy học hệ đại học tại học viện Y Dƣợc học cổ truyền Việt Nam”

nhằm mục đích nêu lên những vấn đề quản lý quá trình dạy học tại Học viện



15



hiện nay đồng thời đƣa ra một số biện pháp quản lý quá trình dạy học nhằm

nâng cao chất lƣợng dạy học hệ đại học của Học viện.

1.2. Những khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Khái niệm quản lý

Quản lý là một hoạt động phổ biến không thể thiếu đƣợc trong mọi lĩnh

vực, ở mọi cấp độ và có tác động liên quan đến con ngƣời.

Ngay từ khi con ngƣời bắt đầu hình thành nhóm, đã biết phối hợp các

nỗ lực cá nhân để thực hiện mục tiêu duy trì sự sống. Khi xuất hiện nền sản

xuất xã hôi, nhu cầu phối hợp các hoạt động riêng lẻ càng tăng lên; bất cứ một

tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, của một

doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp... đến một tập thể nhỏ nhƣ tổ

chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai phân hệ : Ngƣời quản lý và đối

tƣợng đƣợc quản lý. Sự cần thiết của quản lý trong một tập thể lao động đƣợc

K.Marx viết : "Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào đó, tiến

hành trên quy mô tƣơng đối lớn, ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để

điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát

sinh từ vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác; với sự vận động của

những cơ quan độc lập của nó. Một ngƣời độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình

điều khiển lấy mình; một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trƣởng " 14, tr34.

Nhƣ vậy K.Marx đã thấy đƣợc đƣợc bản chất quản lý: là một hoạt động

lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng

trong quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời. Quản lý đã trở thành một hoạt

động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan

đến mọi ngƣời. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng

đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một

mục tiêu chung.

Quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, các nhà kinh tế

thiên về quản lý nền sản xuất xã hội, các nhà điều khiển học thiên về quan



16



điểm hệ thống. Cho nên khi đƣa các định nghĩa về quản lý, các tác giả thƣờng

gắn với các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt

động hay nghiên cứu của mình.

F.W Taylor (1856 - 1915) cho rằng: “Mỗi loại công việc dù nhỏ nhất

đều phải chuyên môn hoá và phải quản lý chặt chẽ. Quản lý là nghệ thuật biết

rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó nhƣ thế nào bằng phƣơng pháp

tốt nhất và rẻ nhất” 22, Tr28

H. Koontz (Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự

phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt đƣợc mục đích của nhóm (tổ

chức). Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trƣờng mà trong đó

con ngƣời có thể đạt đƣợc các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật

chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” 26, Tr72.

Theo Hà Sĩ Hồ : "Quản lý là một quá trình tác động có định hƣớng có

chủ đích, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các

thông tin về tình trạng của đối tƣợng và môi trƣờng, nhằm giữ cho sự vận

hành của đối tƣợng đƣợc ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã

định".[15,Tr20]

Theo Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý là tác động có mục đích có kế

hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những ngƣời lao động (nói chung là

khách thể quản lý) nhằm thực hiện đƣợc những mục tiêu dự kiến."[26,Tr35]

Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể

quản lý về các mặt văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội bằng một hệ thống luật

lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và các biện pháp cụ thể

nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng.

Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình định

hƣớng, quá trình có mục tiêu; quản lý là một hệ thống là quá trình tác động

đến hệ thống nhằm đạt đƣợc mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc



17



trƣng cho trạng thái mới của hệ thống mà ngƣời quản lý mong muốn”

25,Tr28.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Bản chất của hoạt động quản lý nhằm

làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có

tính chất lƣợng mới”.

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt đông

quản lý là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời

quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm

làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức”

Từ các cách định nghĩa trên ta thấy: Quản lý dù nhìn ở góc độ nào thì nó

cũng là quá trình tác động gây ảnh hƣởng của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm

đạt mục tiêu chung. Quá trình tác động này đƣợc vận hành trong một môi trƣờng

xác định.

Quản lý thông qua quy trình kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.

1.2.2. Chức năng của quản lý

Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng

các hoạt động(chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm

tra.

Chức năng quản lý là hình thái biểu hiện sự tác động có mục đích của

chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý. Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau

về việc phân chia các chức năng của quản lý nhƣ quan điểm của Henri Fayol,

quan điểm của Afanaxiep v.v.

- Kế hoạch hóa: Đây là chức năng đầu tiên trong các chức năng quản lý.

Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu

tƣơng lai của tổ chức và các con đƣờng, biện pháp, cách thức để đạt đƣợc

mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá

đó là : (a)Xác định, hình thành mục tiêu (phƣơng hƣớng) đối với tổ chức; (b)

Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực



18



của tổ chức để đạt đƣợc các mục tiêu này; (c) quyết định xem những hoạt

động nào là cần thiết để đạt đƣợc mục tiêu đó.

Kế hoạch hóa bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chƣơng trình hành động

và quyết định cách thức, phƣơng tiện cần thiết trong một thời gian nhất định

của một hệ thống quản lý để đạt đƣợc mục tiêu, giúp nhà quản lý có cái nhìn

tổng thể, toàn diện từ đó thấy đƣợc hoạt động tƣơng tác giữa các bộ phận.

Việc lập kế hoạch cho phép lựa chọn những phƣơng án tối ƣu, tiết kiệm

nguồn lực, tạo hiệu quả họat động cho toàn bộ tổ chức và có khả năng ứng

phó với sự thay đổi. Mặt khác, nó còn tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm

tra. Nhà quản lý thông qua kế hoạch có thể nhìn thấy tƣơng lai, có thể điều

chỉnh các quyết định trƣớc đó để bảo đảm phƣơng hƣớng mục tiêu. Chức

năng kế hoạch hóa có ba nội dung cơ bản là:

+ Xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức

+ Xác định và đảm bảo (có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức

để đạt đƣợc mục tiêu này.

+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt đƣợc các mục

tiêu, xác định các hoạt động ƣu tiên.

- Tổ chức : Khi ngƣời quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải

chuyển hoá những ý tƣởng ấy thành hiện thực. Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý

nghĩa quyết định đối với sự chuyển hoá nhƣ thế. Xét về mặt chức năng quản

lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành

viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành

công kế hoạch và đạt đƣợc mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ thực hiện chức

năng tổ chức có hiệu quả, ngƣời quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn

các nguồn lực và nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều

vào năng lực của ngƣời quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu

quả. Quá trình tổ chức lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các



19



phòng ban cùng các công việc của chúng. Và sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ

sẽ tiếp nối ngay sau các chức năng kế hoạch hoá và tổ chức.

Theo Ernest Dale, chức năng tổ chức gồm năm bƣớc:

+ Bƣớc một: Lập danh sách các công việc cần phải hoàn thành để đạt

đƣợc mục tiêu của tổ chức.

+ Bƣớc hai: Phân chia toàn bộ công việc thành những nhiệm vụ để các

thành viên hay các bộ phận (nhóm) trong tổ chức thực hiện một cách thuận lợi

và hợp lô gích. Đây gọi là bƣớc phân công lao động.

+ Bƣớc ba: Kết hợp các nhiệm vụ một cách lô gích và hiệu quả. Đây là

bƣớc phân chia bộ phận.

+ Bƣớc bốn: Thiết lập một cơ chế điều phối. Sự liên kết hoạt động của

các các nhân, các nhóm, các bộ phận một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện để đạt

đƣợc các mục tiêu của tổ chức một cách dễ dàng và hiệu quả hơn.

+ Bƣớc năm: Theo dõi đánh giá tính hiệu nghiệm của cấu trúc tổ chức

và tiến hành những điều chỉnh cần thiết.

- Chỉ đạo là quá trình sử dụng các quyền lực quản lý để tác động đến

đối tƣợng quản lý một cách có chủ đích nhằm phát huy tiềm năng của họ và

động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt đƣợc các mục tiêu

của tổ chức. Chỉ đạo tập trung vào các ƣu tiên sau:

+ Xây dựng tầm nhìn, lý tƣởng, sứ mệnh của hệ thống.

+ Làm sáng tỏ đƣợc thực trạng vận động của hệ thống, phân tích các

mâu thuẫn trong quá trình phát triển, phát hiện ra nhân tố mới.

+ Tổng kết đƣợc quy luật, xu thế phát triển của hệ thống.



20



+ Đề xuất các phƣơng án chiến lƣợc phát triển hệ thống.

- Kiểm tra là chức năng cuối cùng trong bốn chức năng cơ bản của

quản lý. Kiểm tra đề cập đến các phƣơng pháp và cơ chế đƣợc sử dụng để

đảm bảo rằng các hành vi, hoạt động và thành tựu phải tuân thủ, phù hợp với

mục tiêu, kế hoạch và chuẩn mực của tổ chức. Cố thủ tƣớng Phạm Văn Đồng

đã nói: “Quản lý mà không kiểm tra thì coi nhƣ không quản lý”.

Theo Rorbert J. Mockler, kiểm tra có bốn bƣớc:

+ Bƣớc một: Xác định tiêu chuẩn (chuẩn mực) và phƣơng pháp đo

lƣờng thành tựu. Các tiêu chuẩn thành tựu phải đủ tƣờng minh để các thành

viên liên quan lĩnh hội đƣợc một cách dễ dàng, thống nhất. Phƣơng pháp đo

lƣờng chuẩn mực phải đảm bảo so sánh chính xác và công bằng giữa thành

tựu với chuẩn mực đặt ra.

+ Bƣớc hai: Đối chiếu, đo lƣờng thành tựu, là một quá trình lặp đi lặp

lại và diễn biến liên tục, với tần suất thực hiện phụ thuộc vào các dạng hoạt

động và các cấp độ quản lý khác nhau.

+ Bƣớc ba: Điều chỉnh những sai lệch - xác định mức độ đáp ứng phù

hợp của thành tựu so với tiêu chuẩn (chuẩn mực).

+ Bƣớc bốn: Tiến hành những hoạt động uốn nắn, sửa chữa khi phát

hiện thấy những sai lệch của thành tựu so với chuẩn mực (tiêu chuẩn) đề ra.

Các nhà quản lý có thể điều chỉnh các sai lệch bằng cách thay đổi các hoạt

động của các cá nhân thành viên hay các nhiệm vụ hoạt động của một bộ phận

trong tổ chức, hoặc là sửa đổi lại các chuẩn mực thành tựu nếu thấy chúng

không thể thực hiện đƣợc.

Tóm lại bốn chức năng quản lý này có quan hệ hữu cơ, biện chứng với

nhau. Cả bốn chức năng trên đều đƣợc triển khai khi tiến hành hoạt động quản



21



lý. Bất cứ ngƣời quản lý nào cũng phải làm công việc lập kế hoạch, tổ chức,

chỉ đạo và kiểm tra.

1.2.3. Khái niệm về quản lý giáo dục

- Khái niệm về giáo dục

Để tồn tại và phát triển, con ngƣời phải trải qua quá trình lao động, học

tập và cuộc sống hàng ngày, con ngƣời nhận thức thế giới xung quanh, dần

dần tích luỹ đƣợc kinh nghiệm, từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu

biết ấy cho nhau. Đó chính là nguồn gốc phát sinh của hiện tƣợng giáo dục.

Lúc đầu giáo dục xuất hiện nhƣ một hiện tƣợng tự phát, sau đó trở

thành một hoạt động có ý thức. Ngày nay giáo dục đã trở thành một hoạt động

đƣợc tổ chức đặc biệt, đạt tới trình độ cao, có chƣơng trình, kế hoạch, có nội

dung, phƣơng pháp hiện đại và trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển

nhanh chóng của xã hội loài ngƣời.

Nhƣ vậy, giáo dục là một hiện tƣợng xã hội loài ngƣời, bản chất của nó

là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài

ngƣời. Nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn

hoá dân tộc, nhân loại đƣợc thừa kế, bổ sung và trên có sở đó, xã hội loài

ngƣời không ngừng tiến lên.

- Khái niệm về quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách

thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết

quả mong muốn. Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều

hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ

trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.

Theo M.M Mechti-Zade, nhà lý luận Xô Viết: Quản lý giáo dục là tập

hợp những biện pháp (tổ chức, phƣơng pháp, cán bộ, giáo dục, kế hoạch hoá,

tài chính...) nhằm bảo đảm sự vận hành bình thƣờng của các cơ quan trong hệ



22



thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số

lƣợng và chất lƣợng”16, Tr118

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt

động dạy - học. Có tổ chức đƣợc các hoạt động dạy - học, thực hiện đƣợc các

tính chất của nhà trƣờng phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý

đƣợc giáo dục, tức là cụ thể hoá đƣờng lối giáo dục của Đảng và biến đƣờng

lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nƣớc.” [11,

Tr63]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống các

tác động cho mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm

làm cho hệ thống vận hành theo đƣờng lối và nguyên lý giáo dục của Đảng,

thực hiện đƣợc các tính chất của nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà

tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đƣa giáo dục tới

mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [26,Tr24]

Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lý giáo dục chứa đựng

những nhân tố đặc trƣng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lý giáo dục; ở tầm

vĩ mô là quản lý của Nhà nƣớc mà cơ quan trực tiếp quản lý là Bộ, Sở, Phòng

GD-ĐT; ở tầm vi mô là quản lý của hiệu trƣởng, phó hiệu trƣởng các trƣờng.

Việc quản lý phải có hệ thống tác động quản lý theo một nội dung, chƣơng

trình kế hoạch thống nhất từ Trung ƣơng đến địa phƣơng nhằm thực hiện mục

đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội. Phải có một lực lƣợng

đông đảo những ngƣời làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật chất

- kỹ thuật tƣơng ứng. Quản lý giáo dục có tính xã hội cao. Bởi vậy cần tập

trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh quốc

phòng phục vụ công tác giáo dục.

Nhà truờng là đối tƣợng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục,

trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tƣợng quản lý quan trọng nhất,

đồng thời lại là chủ thể trực tiếp quản lý quá trình giáo dục.



23



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (115 trang)

×