1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở KHOA TẠI CHỨC - ĐẠI HỌC HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.48 MB, 110 trang )


Trường Đại học Hà Nội đã triển khai đào tạo cử nhân các ngành khác

nhau bằng ngoại ngữ từ năm 2002 như: Quản trị kinh doanh, Du lịch,

Quốc tế học, Khoa học máy tính, Tài chính - ngân hàng, Kế toán giảng

dạy bằng Tiếng Anh, ngành Khoa học máy tính giảng dạy bằng Tiếng

Nhật. Ngoài ra, trường còn đào tạo cử nhân ngành Việt Nam học cho

người nước ngoài. Trong tương lai sẽ mở thêm những ngành đào tạo khác

bằng ngoại ngữ mà thị trường lao động trong và ngoài nước đang có nhu

cầu. Nhà trường còn đạo tạo cử nhân văn bằng 2 hệ chính quy, đào tạo tại

chức ngành Tiếng Anh.

Thực hiện phương châm mở rộng quy mô, đa dạng hoá các loại hình

đào tạo đi đôi với nâng cao chất lượng đào tạo. Mục tiêu đào tạo của

trường không chỉ cung cấp kiến thức mà còn coi trọng định hướng phát

triển năng lực làm việc cho sinh viên. Trường Đại học Hà Nội từng bước

hội nhập quốc tế, tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến, cải tiến nội

dung và phương pháp đào tạo nhằm trang bị cho người học kỹ năng làm

việc, kỹ năng vận dụng sáng tạo kiến thức chuyên môn và khả năng thích

ứng với môi trường hoạt động nghề nghiệp tương lai.

Nhà trường là cơ quan chủ quản của "Tạp chí khoa học ngoại ngữ",

tạp chí chuyên ngành lớn nhất của Việt Nam nghiên cứu về khoa học

ngoại ngữ. Nhà trường có các trung tâm đào tạo, viện nghiên cứu đáp ứng

nhu cầu xã hội như Trung tâm Ngôn ngữ và văn hoá Việt Nam, Trung tâm

tư liệu Tiếng Anh chuyên ngành, Trung tâm đào tạo từ xa, Trung tâm dịch

thuật, Trung tâm công nghệ thông tin, Viện nghiên cứu xã hội và phát triển.

Trường là một cơ sở đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu... với

thế mạnh về ngoại ngữ, trường tập chung nhiều chuyên gia đầu ngành về

ngoại ngữ và một số chuyên ngành thuộc khối xã hội - nhân văn. Có đội

ngũ cán bộ, giảng viên trẻ được đào tạo cơ bản, tiếp cận với trình độ khu

vực và thế giới. Đây là mô hình đào tạo mới, hấp dẫn (dùng ngoại ngữ để

-38-



học chuyên ngành) sinh viên ra trường vừa có trình độ ngoại ngữ vừa có

chuyên ngành tốt, đáp ứng bổi cảnh hội nhập quốc tế. Có quan hệ quốc tế

rộng rãi, với nhiều chương trình liên kết đào tạo sau đại học đã được triển

khai, khẳng định được thương hiệu của trường về mô hình đào tạo có chất

lượng.

2.1.2. Sự phát triển của khoa Tại chức Tiếng Anh - Đại học Hà Nội

Khoa tại chức - Đại học Hà Nội được thành lập từ năm 1960. Khoa

được tách ra từ Khoa Tiếng Anh hệ chính quy do những yêu cầu cấp bách

đào tạo chuyên ngữ ngành Tiếng Anh do các đối tượng vừa học vừa làm.

Chức năng và nhiệm vụ của Khoa là đào tạo cử nhân chuyên ngành

Tiếng Anh hệ tại chức vừa học vừa làm. Bồi dưỡng Tiếng Anh chuyên

ngành cho các cơ quan và tổ chức xã hội. Dạy bồi dưỡng, nâng cao trình độ

Tiếng Anh cho các giáo viên trung học cơ sở và trung học phổ thông. Bồi

dưỡng nâng cao Tiếng Anh cho học sinh trung học phổ thông, đặc biệt là các

học sinh chuyên ngữ. Ngoài ra, Khoa còn tham gia các dự án về giáo dục,

môi trường và các vấn đề xã hội khác. Khoa đã có chương trình riêng dạy

qua mạng internet (E do).

Khi mới thành lập Khoa có đội ngũ giảng viên rất mỏng, số lượng sinh

viên ít, việc dạy và học không xuyên suốt, chương trình từ Khoa Anh chính

quy chuyển sang chưa biên soạn lại nên việc dạy và học gặp rất nhiều khó

khăn. Năm 1996, được sự quan tâm của Đảng uỷ, Ban giám hiệu và các ban

ngành khoa tại chứ Tiếng Anh đã khởi sắc về cả số lượng và chất lượng đào

tạo. Mỗi năm Khoa tuyển sinh và đào tạo tại Hà Nội 600 sinh viên và trên

1000 sinh viên học tại một số tỉnh trên toàn quốc. Số lượng đăng ký dự tuyển

hàng năm trên 2000 học sinh. Hình ảnh về một cơ sở đào tạo có chất lượng

cho dù là hệ tại chức đã trở nên quen thuộc khắp mọi miền tổ quốc.



-39-



Hiện nay Khoa đã có một lực lượng giảng viên có năng lực chuyên

môn cao, có kinh nghiệm trong giảng dạy và tâm huyết với nghề nghiệp.

Khoa đang đặt nhiều mục tiêu cao về chất lượng dạy học không những

xứng với thương hiệu của trường Đại học đào tạo đa ngành, chất lượng cao

mà còn đào tạo ra một lực lượng sinh viên có trí thức cao, đáp ứng nhu cầu

mà xã hội đang cần.

2.2. Thực trạng hoạt động dạy học Tiếng Anh tại khoa Tại chức

2.2.1. Chương trình đào tạo Tiếng Anh của khoa Tại chức, Đại học Hà Nội

2.2.1.1. Các loại chương trình:

Chương trình đào tạo của khoa tại chức Tiếng Anh - Đại học Hà Nội

nằm trong chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Đào tạo

cử nhân Tiếng Anh hệ tại chức với thời gian là 36 tháng (học liên tục 5

buổi/tuần). Chương trình, học liệu cơ bản là giống Khoa Anh hệ chính quy,

chỉ khác là khối lượng kiến thức được giảm tải 30% so với ngành Tiếng Anh

hệ chính quy.

Chương trình đào tạo của Khoa Anh tại chức chia thành 8 học phần.

Mỗi học phần sẽ tương đương với những nội dung, giáo trình, thời lượng bài

học cụ thể. Mỗi một học phần đều có kiểm tra giữa kỳ và kiểm tra hết môn

của môn Tiếng Anh và các môn cơ sở. Từ năm 2006 Khoa đã ứng dụng công

nghệ thông tin vào dạy và học Tiếng Anh qua chương trình "English

Discovery online" viết tắt là "Edo".

Chƣơng trình môn Anh khoa Tại chức Tiếng Anh

Năm học 2008-2009

Học phần

Số tiết (đvht)

1

300 tiết (20 đvht)



Thời gian học

15 tuần



-40-



Giáo trình

- Edo Basic 2

- Let's listen

- Cause and effect writing 1



2



300 tiết (20 đvht)



15 tuần



3



300 tiết (20 đvht)



20 tuần



4



375 tiết (25 đvht)



20 tuần



5



300 tiết (20 đvht)



15 tuần



6



360 tiết (24 đvht)



19 tuần



7



300 tiết (20 đvht)



15 tuần



8



300 tiết (20 đvht)



15 tuần



-41-



- Speaking 1

- Edo inter 1

- Listening skill 1

- Faster reading

- Writing 2

- Speaking 2

- Edo inter 3

- Listening skill 2

- Faster reading

- Writing 3

- Speaking 3

- Edo Advanced

- Listening foundation

- Extensive reading on

Vietnam

- Lý thuyết dịch (theory of

translation)

- Writing essays

- Panorama (chuyên ngành

Tiếng Anh về khoa học kỹ

thuật)

- Exlensive reading on

Vietnam

Commercial

Correspondece

- Vocabulary

- Grammer in functions

- English litarature

- English civilization

- Reading on Vietnam

- Nhập môn + giới thiệu

chung phương pháp dịch

- Dịch nghe

- Dịch viết các chủ đề xã

hội cập nhật

- English history (Lịch sử

văn học Anh)

- Phonetics (ngữ âm)

- Dịch nghe (translation in

listening)

- Dịch viết (translation in

writing)

- Ôn tập tổng kết cho thi tốt



nghiệp

Nguồn: Phòng Đào tạo - Quản lý Khoa Tại chức Tiếng Anh, Đại học Hà Nội

Chương trình đào tạo của các môn cơ sở được bố trí như sau:

TT



Số đơn vị học trình



Môn học



1.



Triết học



5



2.



Kinh tế chính trị



5



3.



Chủ nghĩa XHKH



4



4.



Tư tưởng Hồ Chí Minh



5



5.



Dẫn luận ngôn ngữ



4



6.



Tiếng Việt



4



7.



Cơ sở văn hoá Việt Nam



5



Nguồn: Phòng Đào tạo - Quản lý Khoa Tại chức Tiếng Anh, Đại học Hà Nội

2.2.1.2. Cơ cấu các môn học

Do đặc thù là đào tạo cử nhân Tiếng Anh nên thời lượng bài giảng chủ

yếu là chuyên ngành Tiếng Anh về giao tiếp và các vấn đề xã hội cập nhật.

Ngoài ra còn dạy các môn chung khác như Triết học, Lịch sử Đảng, Kinh tế

chính trị. Sinh viên phải học và thi tất cả các môn chung và môn chuyên ngành.

Mỗi học phần khi kết thúc được ôn tập 1 tuần và 1 tuần cho sinh viên tự

ôn tập. Điểm thi của từng môn cụ thể sẽ được thông báo công khai lên trang

Web của Khoa sau khi thi 2 tuần. Thi lại và trả nợ sẽ được tổ chức sau khi

thông báo điểm 3 tuần.

Chương trình đào tạo của Khoa từ học p hần 6 (phần dịch nghe và viết)

giảng viên có thể tự biên soạn cập nhật qua các phương tiện thông tin nghe

nhìn hiện đại, mang tính cập nhật cao. Nhưng trước khi đưa vào chính thức

giảng dạy vẫn phải thông qua trưởng khoa và phòng đào tạo.

-42-



Thời gian đào tạo của khoa cho một khoá học tại chức là 36 tháng (học

tập trung) được chia thành 8 học phần.

Đối với các môn chuyên ngành Tiếng Anh một học phần khối lượng

kiến thức cơ bản khoảng 300 tiết (20 đvht) đến 375 tiết (25 đvht). Ví dụ như

học phần 1 là 300 tiết được phân bố 20 tiết trong 1 tuần của tất cả 4 kỹ năng:

+ Edo Basic 2 (chương trình ngữ pháp cơ bản): 5 tiết

+ Let's Listen (nghe): 5 tiết

+ Cause and effect (đọc): 3 tiết

+ Writing (viết): 5 tiết

+ Speaking (nói): 2 tiết

- Đối với các môn khoa học xã hội - nhân văn thuộc giai đoạn nào bố trí

dạy ở giai đoạn đó.

- Các môn cơ sở, văn hoá được dạy từ năm thứ hai trở đi thường học vào

Thứ Bảy, Chủ Nhật. Giảng viên dạy học ở các môn này thường phải mới từ

trường, khoa khác vì khoa chưa có giảng viên dạy môn cơ sở, văn hoá.

2.2.2. Đội ngũ giảng viên của khoa Tại chức Tiếng Anh, Đại học Hà Nội

2.2.2.1. Số lượng:

Hiện tại khoa tại chức Tiếng Anh, Đại học Hà Nội có 63 cán bộ giảng viên

bao gồm cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên nghiệp vụ các phòng chức năng.

Trong đó có 48 giảng viên đang giảng dạy tại 4 tổ bộ môn của khoa (tổ ngữ

âm, ngữ pháp, thực hành tiếng và dịch). Số còn lại là cán bộ quản lý và nhân viên

nghiệp vụ.

Bảng thống kê số lƣợng giảng viên, cán bộ công nhân viên từ 2003-2008

Năm học



2003-2004



2004-2005



2005-2006



2006-2007



2007-2008



Giảng viên



32



38



41



44



48



-43-



CBQL, CNV



9



12



12



14



15



Tổng số



41



50



53



48



63



Nguồn: Phòng Hành chính - Tổ chức, Đại học Hà Nội



-44-



Bảng thống kê giảng viên theo tổ bộ môn

Năm học

2003-2004



2004-2005



2005-2006



2006-2007



2007-2008



Ngữ âm



4



5



6



6



8



Ngữ pháp



6



8



9



9



10



Thực hành tiếng



15



18



18



20



20



Dịch



7



7



8



9



10



32



38



41



44



48



Tổ bộ môn



Tổng cộng:



Nguồn: Phòng Đào tạo - Quản lý Khoa Tại chức Tiếng Anh, Đại học Hà Nội

Đội ngũ giảng viên của Khoa được phân bổ đều phù hợp với chức năng của

từng tổ bộ môn. Đội ngũ giảng viên đều có từ 2 ngoại ngữ trở lên, nhiệt tình trong

công việc, đáp ứng được yêu cầu công tác giảng dạy theo mục tiêu đào tạo của

trường, của khoa.

Ngoài ra, khoa còn có đội ngũ giảng viên thỉnh giảng đông đảo, có kinh

nghiệm và trình độ chuyên môn. Từ năm học 2006-2008 đội ngũ giảng viên thỉnh

giảng lên tới gần 100 người. Qua bảng trên chúng ta thấy số lượng giảng viên cơ

hữu chiếm ít hơn rất nhiều so với số lượng giảng viên thỉnh giảng cho nên việc

quản lý chất lượng đào tạo gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là việc quản lý chất lượng

đào tạo ở ngoại tỉnh. Hàng năm Khoa có tuyển dụng bổ sung đội ngũ giảng viên,

tăng cường về số lượng cho khoa theo sự phát triển quy mô theo ngành nghề đào

tạo mà xã hội đang cần.

2.2.2.2. Về cơ cấu

* Cơ cấu về độ tuổi: Cơ cấu về độ tuổi cũng có liên quan đến chất lượng

hoạt động chuyên môn và chiến lược phát triển đào tạo của Khoa, của Trường.

-45-



Thực trạng cơ cấu độ tuổi của đội ngũ giảng viên của Khoa được thống kê qua

bảng dưới đây:

Bảng thống kê tuổi đời giảng viên của Khoa theo tổ bộ môn (2007-2008)

Đổ tuổi

Tổ bộ môn



Tổng số

giảng viên



Tuổi ≤ 30



Tuổi 31-40 Tuổi 41-50 Tuổi 51-60



Ngữ âm



8



0



1



3



4



Ngữ pháp



10



2



3



3



2



Thực hành tiếng



20



8



6



4



2



Dịch



10



0



2



5



3



48



10



12



15



11



Tổng cộng:



Nguồn: Phòng Đào tạo - Quản lý Khoa Tại chức Tiếng Anh, Đại học Hà Nội

Qua bảng trên cho ta thấy mỗi tổ bộ môn đều có sự tương tác giữa tuổi với

các chuyên ngành giảng dạy. Ví dụ như 3 tổ ngữ âm, ngữ pháp, dịch thì cần giảng

viên có tuổi đời, tuổi nghề cao vì những giảng viên này có kinh nghiệm và nghiệp

vụ sư phạm tốt, được thử thách tôi luyện qua tuổi đời và tuổi nghề. Còn tổ thực

hành tiếng (dạy nghe, nói) thì phù hợp với các giảng viên trẻ, năng động, nhiệt

huyết với nghề, luôn học hỏi, đổi mới và có tư duy sáng tạo.

* Cơ cấu về giới: Cơ cấu về giới tính của đội ngũ giảng viên của Khoa

được cân đối và giữ ổn định qua số lượng thống kê 5 năm gần đây:

Bảng thống kê cơ cấu về giới tính của đội ngũ giảng viên của khoa

Năm học



2003-2004



2004-2005



2005-2006



2006-2007



2007-2008



Tổng số giảng



32



38



41



44



48



-46-



viên

Nữ



26



32



35



38



81,2



Tỷ lệ %



30

78,9



78



79,5



79,2



Nguồn: Phòng Đào tạo - Quản lý Khoa Tại chức Tiếng Anh, Đại học Hà Nội

Nữ giảng viên chiếm tỷ lệ cao hơn rất nhiều so với nam do đặc thù ngành

ngoại ngữ (khối D) phù hợp với các sinh viên nữ.

Tỷ lệ tăng của giảng viên nam, nữ hàng năm tương đối đều, dù tỷ lệ giảng

viên nam ít nhưng cũng tăng dần theo các năm. Ở Khoa Tại chức Tiếng Anh - Đại

học Hà Nội giảng viên nam thường đảm nhiệm các bài giảng về ứng dụng công

nghệ thông tin vào các bài giảng Tiếng Anh.

Giảng viên nữ mặc dù bị chi phối nhiều về gia đình cũng như chăm sóc con

cái nhưng vẫn tích cực chủ động tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ

chuyên môn và nghiệp vụ.

* Cơ cấu về trình độ:

Bảng thống kê trình độ giảng viên của Khoa từ năm 2003-2008

Năm

2003-2004



2004-2005



2005-2006



2006-2007



2007-2008



Tiến sĩ



1



1



2



3



4



Thạc sĩ



4



6



8



12



15



Đại học



27



31



31



29



28



32



38



41



44



48



Trình độ



Tổng:



Nguồn: Phòng Đào tạo - Quản lý Khoa Tại chức Tiếng Anh, Đại học Hà Nội

-47-



Trình độ của đội ngũ giảng viên có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giảng

dạy của Khoa nói riêng, chất lượng đào tạo của trường nói chung. Qua bảng "Thực

trạng trình độ của đội ngũ giảng viên của Khoa" đã chỉ rõ trình độ tiến sĩ, thạc sĩ có

tăng đều trong những năm qua nhưng vẫn còn khá khiêm tốn so với yêu cầu của số

lượng sinh viên ngày càng tăng cũng như những đòi hỏi để nâng cao kiến thức của

mỗi giảng viên cần có. Vì vậy muốn nâng cao chất lượng dạy học thì trước hết

phải quan tâm đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ giảng

viên.

2.2.2.3. Về chất lượng giảng viên:

Hiện nay Khoa đã có một lực lượng lớn giảng viên cơ hữu và giảng viên

thỉnh giảng có chuyên môn cao (trình độ tiến sĩ, thạc sĩ), có kinh nghiệm giảng dạy

và tâm huyết với nghề. Hầu hết giảng viên trong khoa đều có từ 2 ngoại ngữ trở

lên. Nhưng do tuổi của các giảng viên có kinh nghiệm đã cao, hơn 50% là giảng

viên chuyển từ khoa Nga sang (Tiếng Anh là văn bằng 2), ít được đi đào tạo ở

nước ngoài nên kiến thức chuyên sâu về ngoại ngữ còn hạn chế. Khoa chưa có các

chuyên gia nghiên cứu chuyên biệt về ngoại ngữ hay các phương pháp dạy học

mang tính ứng dụng cao.

Đội ngũ giảng viên trong khoa trình độ chưa đồng đều, giảng viên có thâm

niên kinh nghiệm giảng dạy lại có sức ì lớn, ngại thay đổi phương pháp, ngại học

hỏi. Tuy nhiên, lực lượng giảng viên trẻ của Khoa được đào tạo cơ bản và theo

phương pháp hiện đại có chất lượng chuyên môn khá và năng động hơn. Họ có

khả năng ứng dụng phương pháp dạy học hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin

cho dạy học ngoại ngữ, lực lượng này sẽ là nền tảng quan trọng trong việc nâng

cao chất lượng dạy học của Khoa.

Cần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của Khoa, xây dựng chuẩn

giảng viên ngoại ngữ theo hướng kết hợp yêu cầu của mục tiêu đào tạo trong nước

và trình độ quốc tế.

-48-



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

×