1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 3. BIỆN PHÁP QUẢN LÝ DẠY HỌC TIẾNG ANH Ở KHOA TẠI CHỨC - ĐẠI HỌC HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.48 MB, 110 trang )


Hệ thống các biện pháp đưa ra dựa trên cơ sở kinh nghiệm quản lý

hoạt động dạy học của Khoa Tại chức Tiếng Anh - Đại học Hà Nội và kinh

nghiệm quản lý hoạt động dạy học trong những năm qua của một số trường

đại học khác. Đồng thời, tác giả đề tài đã tham khảo ý kiến của các chuyên

gia là những nhà nghiên cứu giáo dục, các nhà quản lý giáo dục và các cán

bộ quản lý của trường và của các khoa trong trường.

3.1. Nguyên tắc chọn lựa biện pháp

3.1.1. Nguyên tắc tính kế thừa:

Khoa tại chức có lịch sử tồn tại hàng chục năm với hình thức đào tạo tại

chức (vừa học vừa làm). Tuy tên gọi ở mỗi thời kỳ có khác nhau nhưng nó

đã có lịch sử tồn tại hàng chục năm, vì vậy những vấn đề tồn tại đều có lý do

của nó và không ít các biện pháp đã được đưa ra để phát huy cái được, khắc

phục cái chưa đạt được. Công tác đào tạo hệ tại chức xuất hiện và diễn ra gắn

chặt với nhu cầu của xã hội và đã trải qua các thời kỳ khác nhau, trong các

bối cnảh khác nhau và cũng đã có những cống hiến nhất định cho sự phát

triển xã hội nói chung và đáp ứng nhu cầu học tập của một bộ phận đông đảo

những người vì hoàn cảnh điều kiện khác nhau mà không thể tham gia vào

loại hình đào tạo khác. Công tác quản lí hệ đào tạo tại chức mà ngày nay gọi

là hệ vừâ học vừa làm cũng đã có những hình thức không hoàn toàn giống

nhau ở các cấp , bậc khac nhau và ở các cơ sở thực hiện đào tạo hệ tại chức

này; có cơ sở thành lập hẳn một khoa chuyên trách việc đào tạo tại chức,

cũng có các cơ sở đào tạo chỉ cử ra một bộ phận thực hiện việc quản lí hệ

đào tạo tại chức và không chính quy... Dù dưới hình thức nào thì việc quản lí

hệ đào tạo tại chức cũng đã có lịch sửtồn tại khá lâu và thu được những kết

quả nhất định. Luận văn đề xuất các biện pháp quản lý dạy học Tiếng Anh

theo hình thức vừa học vừa làm nhằm nâng cao chất lượng dạy học trên cơ

-73-



sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn quản lí đào tạo tại chức ở trường đại học

ngoại ngữ nay là trường đại học Hà Nội, đồng thời có sự soi sáng của lý luận

quản lý giáo dục nói chung, quản lí quá trình dạy học nói riêng đặc biệt đi sâu

vào đặc điểm quản lí hệ đào tạo thao hình thức vừa học vừa làm. Chính vì

vậy, các biện pháp đề xuất sẽ mang tính kế thừa.

3.1.2. Nguyên tắc tính hiệu quả:

Hiệu quả gắn với kết quả đích thực trong điều kiện nguồn nhân lực xác

định. Vấn đề hiệu quả đào tạo luôn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội và của

cơ sở đào tạo và đặc biệt là đối với những người liên đới với hệ đào tạo vừa

học vừa lam. Đối với xã hội hiệu quả đạo tạo gắn với việc xem xét tác dụng

của thành quả đào tạo với việc đáp ứng nhu cầu xã hội trong hoàn cảnh điều

kiện cụ thể của xã hội nói chung, trong hoàn cảnh của địa phương, vùng

miền nói riêng. Hiệu quả đào tạo đối với những người được đào tạo gắn với

giá trị gia tăng mà họ thu được sau khi được đào tạo trong mối quan hệ với

chi phí lợi ích liên quan đến họ. Hiệu quả đào tạo được các cơ sở tổ chức đào

tạo xem xét liên quan đến kết quả đào tạo trong các điều kiện nguồn lực cụ

thể và khả năng thực hiện nhiệm vụ một mặt đáp ứng yêu cầu xã hội mặt

khác có thể duy trì và phát triển chính cơ sở đào tạo. Các biện pháp đề xuất

cũng không thể duy ý chí, phải căn cứ vào khả năng thực hiện trong điều

kiện môi trường cụ thể.Hiệu quả của các biện pháp quản lí gắn với tính hiệu

lực và kết quả đạt được khi áp dụng các biện pháp nêu ra; Lưu ý thích đáng

đến khả năng phát huy tác dụng trong thực tế của các biện pháp.

3.1.3. Nguyên tắc tôn trọng tính đặc thù của quá trình tổ chức đào tạo:

Ở Chương I và Chương II chúng tôi đã làm rõ đặc thù của quá trình đào

tạo theo phương thức vừa học vừa làm. Hệ đào tạo vừa học vừa làm phục vụ

đối tượng người học học bán thời gian và học trong điều kiện vừa học vừa làm;

-74-



đối tượng đào tạo cũng đa dạng về tuổi tác, trình độ nhận thức, kinh nghiệm

cuộc sống; hình thức đào tạo hệ vừa học vừa làm này cúng đa dạng có thể diễn

ra ở tại cơ sở tổ cức đào tạo, có thể diễn ra ở các cơ sở liên kết đào tạo đóng ở

các địa phương...Với các đặc thù nêu trên cần lưu ý thích đáng khi đề xuất các

biện pháp để một mặt bảo đảm tính khoa học nhưng mặt khác bảo đảm tính khả

thi. Có những biện pháp với hệ đào tạo chính quy toàn thời gian tổ chức tại

trường Đại học Hà Nội thì đơn giản nhưng khi áp dụng cho loại hình đào tạo

vừa học vừa làm phải chỉ rõ điều kiện thực hiện mới khả thi.Có biện pháp coi

trọng yếu tố liên kết trong việc quản lí quá trình dạy học ở cơ sở liên kết. Tóm

lại nguyên tắc phù hợp thích ứng mà chúng ta thường được nghe trong lí luận

quản lí thì đối với trường hợp này được nhấn mạnh dưới khía cạnh “tôn trọng

tính đặc thù” của hệ đào tạo vừa học vừa làm và phương thức quản lí mềm dẻo,

đa dạng của loại hình đào tạo này.

3.2. Các nhóm biện pháp

3.2.1. Nhóm nhận thức

3.2.1.1. Biện pháp 1: Nâng cao tính trách nhiệm xã hội đối với cán bộ quản

lý hệ vừa học vừa làm:

a. Mục đích và ý nghĩa biện pháp:

Nhận thức là kim chỉ nam của hành động, nhận thức thúc đẩy hành

động. Bất kỳ công việc gì, khi mọi người hiểu được đầy đủ, đúng đắn vai trò,

mục đích ý nghĩa nội dung công việc của mình sẽ làm, với ý thức tinh thần

trách nhiệm cao sẽ mang lại hiệu quả và ngược lại.

Vai trò điều hành, quản lý của các nhà tổ chức các lớp học vừa học vừa

làm sẽ đóng góp một phần không nhỏ trong thành công của mô hình đào tạo

này. Do đặc thù của mô hình đào tạo và nhu cầu ngày càng lớn của người

học, các nhà tổ chức mỗi năm phải luôn luôn đổi mới nội dung, phương pháp

-75-



điều hành đáp ứng được nhu cầu của người học và xã hội, mặt khác không

ngừng nâng cao chất lượng dạy học.

Trong bối cảnh của cuộc vận động nâng cao chất lượng các hệ đào tạo

và đào tạo thao nhu cầu xã hội hệ đào tạo vừa học vừa làm một mặt đáp ứng

được nhu cầu đa dạng và ngày càng tăng về đào tạo nâng cao trình độ cho

một lực lượng lao động góp phần thực hiện thành công công nghiệp hoá,

hiện đại hoá. mặt khác lại đang đối mặt vơi mâu thuẫn ngày càng cao trong

việc vừa tăng quy mô vừa bảo đảm được chất lượng đào tạo. trong bối cảnh

đó biện phát này có một ý nghĩa rất quan trọng góp phần thực hiện chủ

trương nêu trên.

b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

- Cán bộ quản lý, lãnh đạo Khoa phải nghiêm túc nhận thức được vai

trò quan trọng của mình trong việc điều hành tổ chức quản lý. Họ phải biết

nắm bắt được nhu cầu thực sự của xã hội, của người học để vận dụng hợp lý

vào mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy và học theo từng giai đoạn của lịch

sử. Để làm tốt điều này cần có ý thức tìm hiểu và phân tích nhu cầu xã hội,

nhu cầu của địa phương của người học nhưng mặt khác cũng đề ra những

yêu cầu tối thiểu buộc phải tuân thủ để đảm bảo chất lượng và kỷ cương

trong quá trình đào tạo. Không được chạy theo nhu cầu chỉ vì mục đích tăng

nguồn thu mà coi nhẹ trách nhiệm xã hội trong việc cung cấp cho địa phương

những người “học giả, bằng thật” ảnh hưởng đến giá trị xã hội và chuẩn mực

đào tạo của quốc gia.

- Hàng năm, sau mỗi khoá học sẽ có đánh giá mặt được, chưa được để

khen thưởng và kỷ luật rõ ràng về trách nhiệm của các nhà quản lý và tổ

chức các lớp vừa học vừa làm. Điều này sẽ khuyến khích họ tăng tinh thần

trách nhiệm trong công việc mà họ đảm nhận. Tạo ra sự công bằng, thúc đẩy

-76-



tính tích cực trong tổ chức. Để làm được điều này cần có sự cam kết giữa cơ

sở đào tạo với những người tham gia đào tạo và nếu liên kết với địa phương

thì hợp đồng trách nhiệm phải rõ ràng có kiểm tra, giám sát để thông tin

ngược có độ tin cậy và tính khách quan.

- Việc tuyển chọn giảng viên giảng dạy cho mô hình này các nhà quản

lý phải hết sức nghiêm túc, không được xem nhẹ chất lượng giảng viên. Hiện

nay do nhiều lí do mà công việc của nhiều giảng viên quá tải hoặc do thiếu

giảng viên nên cơ sở đào tạo tại chức và mời giảng viên kiêm nhiệm. Nếu

việc giao nhiệm vụ không rõ ràng, có chế tài cụ thể và có kiểm tra giám sát

tốt việc thực hiện kế hoạch giảng dạy có thể tuỳ tiện hoặc thiếu nghiêm túc.

Những điều này đòi hỏi những người có trách nhiệm tổ chức các khóa đào

tạo theo phương thức từ xa, liên kết, vừa học vừa làm cần không ngừng

nâng cao trách nhiệm xã hội để một mặt mở rộng đào tạo trên cơ sở đa dạng

hoá phương thức tổ chức đào tạo mặt khác cần quản lí chặt chẽ, đúng quy

chế để không ngừng nâng cao chất lượng các hệ đào tạo liên kết, vừa học

vừa làm. Giáo dục, nâng cao ý thức trách nhiệm của cả người dạy và người

học với chính bản thân họ và cho cả xã hội.

3.2.1.2. Biện pháp 2: Nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của giảng

viên tham gia giảng dạy các lớp tại chức (vừa học vừa làm)

a. Mục đích và ý nghĩa biện pháp:

Theo chủ chương của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong giai đoạn mới là

phải thiết kế được hệ thống đào tạo đa dạng để phù hợp với nhu cầu của

người học nhằm đào tạo, bồi dưỡng nhân lực phục vụ nhu cầu phát triển kinh

tế, xã hội của từng địa phương.

Những năm gần đây, số lượng tuyển sinh hệ không chính quy đã tăng

lên hàng chục nghìn sinh viên. Chính vì vậy cũng cần có một lực lượng

-77-



giảng viên lớn giảng dạy cho mô hình đào tạo này, nhờ đó đã giảm được tỷ

lệ giảng viên được đào tạo ra không có việc làm, tăng thêm thu nhập ổn định

cho đời sống của các giảng viên.

Với xu thế hội nhập, việc nâng cao tính tự chủ cho giảng viên bằng

trách nhiệm thực sự của người Thầy trong quá trình dạy học sẽ đóng góp rất

lớn trong việc nâng cao chất lượng đào tạo.

Trong điều kiện thực hiện kế hoạch ở các lớp tổ chức ở các địa phương

xa cơ sở đào tạo chính việc thực hiện kế hoạch dạy học và chất lượng các giờ

lên lớp phụ thuộc vào ý thức tự giác và lòng tự trọng của người giảng viên.

tất cả những đề cập trên đây cho thấy biện pháp tăng cường tính tự chủ và tự

chịu trách nhiệm của từng giảng viên tham gia công tác đào tạo hệ vừa học

vừa làm là rất quan trọng và có một ý nghĩa nhất định trong việc nâng cao

chất lượng hệ đào tạo này.

b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

- Khuyến khích, động viên giảng viên chủ động học thêm, tìm kiếm các

giáo trình mới mang tính cập nhật nhưng lại phù hợp với trình độ của sinh

viên hệ vừa học vừa làm.

- Giao quyền cho giảng viên giảng dạy chuẩn bị câu hỏi kiểm tra, đánh

giá hết môn của sinh viên, phòng Đào tạo quản lý chỉ nghiệm thu (có điều

chỉnh nếu thấy cần thiết).

- Giảng viên giảng dạy phải tuân thủ các quy chế đào tạo và tự chịu

trách nhiệm về kết quả học tập của các sinh viên. Trong việc này một mặt cơ

sở tổ chức đào tạo phải thường xuyên quán triệt cho từng giảng viên về quy

chế đào tạo hệ vừa học vừa làm mặt khác yêu cầu các giảng viên tự giác thực

hiện và công khai chế tài thưởng phạt công minh.



-78-



- Thông qua kết quả kiểm tra, giám sát hoặc thu thập thông tin ngược,

Khoa sẽ có khen thưởng hay kỷ luật xứng đáng với từng giảng viên phụ

trách môn học; đồng thời tạo điều kiện cho giảng viên tự đánh giá kết quả

hoạt động giảng dạy của mình bằng việc thông báo các ý kiến đánh giá của

những người liên đới cho giảng viên để giảng viên điều chỉnh.

3.2.1.3. Biện pháp 3: Nâng cao ý thức học tập, nâng cao nhận thức về tầm

quan trọng của mô hình đào tạo vừa học vừa làm cho sinh viên

a. Mục đích và ý nghĩa biện pháp:

Như chúng ta đã biết, mô hình đào tạo tại chức (vừa học vừa làm) đã có

từ mấy chục năm nay, đã bồi dưỡng được một số lượng lớn lực lượng lao

động có tri thức cho xã hội. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo của mô hình này

chưa cao. Có rất nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nhưng nguyên

nhân chính vẫn là do ý thức của người học chưa nghiêm túc. Họ xem việc

học như là để lấy thêm một văn bằng chứ không phải học để lấy kiến thức

thực sự. Điều này thật nguy hiểm cho chính bản thân họ và cho toàn xã hội.

Mỗi năm số lượng đào tạo hệ vừa học vừa làm ở các trường đại học lớn gấp

3 - 4 lần hệ đào tạo chính quy. Nếu như việc dạy và học ở mô hình đào tạo

này đạt được mục tiêu đề ra thì sẽ đóng góp rất lớn cho xã hội; nhưng nếu

dựa vào hình thức đào tạo này để hợp thức hoá văn bằng, chứng chỉ thì gây

tác hại lớn cho xã hội. Chính vì vậy, nâng cao ý thức học tập, học vì sự

nghiệp, vì chính mình và cho xã hội của sinh viên tham gia hình thức vừa

học vừa làm là điều kiện tiên quyết nâng cao chất lượng đào tạo và biện pháp

này cũng có nhiều ý nghĩa cho vấn đề bảo đảm chất lượng hệ đào tạo vừa

học vừa làm.

b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:



-79-



- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của chính chủ thể (người học) về vị

trí quan trọng của việc học cho chính họ và đóng góp cho xã hội, chỉ rõ lợi

ích của chính ngành học sẽ mang lại lợi ích gì cho tương lai.

- Sinh viên thuộc hệ đào tạo tại chức cần được chuẩn bị tốt về động cơ,

thái độ học tập, tinh thần trách nhiệm và được tạo điều kiện thuận lợi để lĩnh

hội tri thức, hình thành một kỹ năng chủ động.

- Bồi dưỡng phương pháp học chủ động, tăng cường khả năng tự học,

tự nghiên cứu sẽ làm tăng chất lượng đào tạo, phá vỡ sức ì, những mặc cảm

không tốt về mô hình đào tạo này.

- Khuyến khích sinh viên tự thu thập tài liệu từ các nguồn khác nhau có

liên quan đến môn học, tăng khả năng tự nghiên cứu, chủ động, sáng tạo, độc

lập sẽ là cơ sở để sinh viên tự khẳng định mình.

- Đổi mới công tác kiểm tra đánh giá theo hướng khuyến khích tự học

đối với đối tượng sinh viên vừa học vừa làm.

- Các nhà tổ chức nên có chính sách động viên, khen thưởng các sinh

viên có tinh thần học tập nghiêm túc, tạo điều kiện cho các sinh viên hệ

không chính quy được thử sức mình ở nhiều lĩnh vực như nghiên cứu khoa

học, tham gia các dự án phát triển cộng đồng với người nước ngoài để có dịp

trau dồi tiếng anh... như các sinh viên khác hệ chính quy.

3.2.2. Nhóm tổ chức đổi mới quá trình dạy học

3.2. 2.1. Biện pháp 1: Đổi mới việc xây dựng mục tiêu và chương trình/đề

cương môn học môn học

a. Mục đích và ý nghĩa biện pháp:

Mục tiêu là sự mô tả những gì sẽ đạt được sau khi học một môn học,

hay một bài học. Hệ mục tiêu được xác định bằng hệ thống các hành vi, cụ

thể hoá các năng lực nhận thức, kỹ năng, thái độ cần đạt được sau khi học

một bài học, môn học, khoá đào tạo vì vậy, xác định đúng hệ thống mục tiêu

-80-



dạy học có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao chất lượng dạy học. Khi đã

xác định được mục tiêu xác đáng cần dựa vào đó để lựa chọn nội dung và cụ

thể hoá cách chuyển tải thông qua đề cương môn học.

Biện pháp này là rất cần thiết bởi vì, nếu mục tiêu xác định tốt sẽ có cơ

sở để lựa chọn nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy và để đánh giá

được hiệu quả, giá trị của môn học, một khoá học hay một chương trình và

từ đó thông qua đề cương môn học sẽ cung cấp cho học viên một công cụ tự

chủ, tự chịu trách nhiệm về việc học của minh thông qua thực hiện các yêu

cầu của giảng viên.

b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

Khi đưa ra mục tiêu phải có mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể từng bài

học từ đó có các mục tiêu chi tiết cho từng tiết học và các hoạt động dạy học

cụ thể. Những mục tiêu này sẽ do các giảng viên môn tiếng Anh của Khoa

xây dựng và thực hiện, chúng được giám sát bởi người học và các bộ phận

liên quan để kiểm tra - đánh giá việc thực hiện đồng thời cũng là căn cứ để

thực hiện việc xây dựng ngân hàng câu hỏi phục vụ cho công tác kiểm tra đánh giá chung của môn học sau này. Có thể nói, mục tiêu giống như thước

đo để đo lường kết quả đạt được của thầy và trò sau một quá trình dạy và

học. Vì vậy, xác định mục tiêu dạy học phải được thực hiện cụ thể từ việc cải

tiến cách xác định mục tiêu từng bài học được, bao gồm 2 nội dung chính

sau:

* Mục tiêu bài học phải cụ thể và tường minh

Cách xác định mục tiêu được thể hiện bằng một động từ hành động cụ

thể, rõ ràng và có thể quan sát được.

*Mục tiêu bài học phân định theo các bậc nhận thức, bậc kỹ năng và

chú trọng vào bậc cao hơn.

-81-



Khi mục tiêu bài học yêu cầu sinh viên phải có khả năng so sánh, phân

tích, tổng hợp hay ở bậc cao hơn nưa là biết đánh giá, phán xét vấn đề thì

buộc người giảng viên phải lựa chọn phương pháp giảng dạy tích cực hơn và

trò cũng được yêu cầu năng động hơn, chủ động hơn trong việc lĩnh hội kiến

thức của mình.

Để thực hiện được biện pháp này, chúng tôi đưa ra một số cách làm sau:

- Giảng viên phải thể hiện đầy đủ mục tiêu của từng bài học trong hồ sơ

môn học của mình bao gồm mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể. Các mục tiêu

cụ thể phải mô tả được những điểm chính: Ai? Làm gì? Điều kiện thực hiện?

Trong thời gian bao lâu? Tốt đến mức độ nào?

- Trong từng bài soạn giảng, mục tiêu phân theo từng cấp bậc tương

ứng với các phương pháp giảng dạy được lựa chọn.

- Việc xây dựng mục tiêu bài học và các phương pháp dạy học tương

ứng trên đây phải được sự giám sát, quản lý của các tổ bộ môn, của từng

chuyên ngành đào tạo để tiện cho việc kiểm tra, dự giờ. Ngoài ra, mục tiêu

của từng bài học được thông báo cho sinh viên, dựa vào đó sinh viên có thể

tự đối chiếu việc học tập của mình để điều chỉnh kịp thời cách chiếm lĩnh tri

thức, nhờ đó mà kết quả học tập sẽ cải thiện hơn.

- Các giảng viên phải dựa vào mục tiêu bài học đã xác định để lập kế

hoạch bài học và đo lường kết quả học tập của của sinh viên hàng kỳ, từ đó

có những điều chỉnh về phương pháp sao cho phù hợp với mục tiêu đã đề ra.

- Trong quá trình thực hiện kế hoạch dạy học cơ sở đào tạo hoặc cơ sở

liên kết sẽ tăng cường quản lý việc thực hiện kế hoạch dạy học thông qua

việc thực hiện đúng lịch trình và nội dung đã được cụ thể hoá trong đề cương

môn học. Đề cương môn học phải là công cụ quản lí dạy học hiệu quả.



-82-



3.2.2.2. Biện pháp 2: Đổi mới việc lựa chọn nội dung, tăng cường học liệu

cho người học

a. Mục đích và ý nghĩa biện pháp:

- Đổi mới mục tiêu dạy học là điều rất quan trọng nhưng nội dung chương

trình không thay đổi phù hợp thì tác dụng không lớn và chưa thể nói chất lượng

dạy học nói chung sẽ được nâng cao.

- Đổi mới nội dung chương trình và cung cấp học liệu phù hợp tạo điều

kiện cho người học được tiếp nhận nội dung dạy học nói riêng một cách chủ

động, hữu dụng hơn.

b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp:

Nội dung phải theo sát với mục tiêu. Hiện nay Khoa Tại chức Tiếng

Anh đang sử dụng giáo trình tiếng Anh do nước ngoài biên soạn. Không thể

phủ nhận sách của họ biên soạn rất hay, rất khoa học, phân loại trình độ rõ

ràng, tuy mỗi loại giáo trình có những điểm mạnh, điểm yếu riêng. Giáo

trình của họ không phải biên soạn vu vơ, trong quá trình biên soạn tác giả

luôn hướng tới đối tượng người học cụ thể. Ví dụ, loại giáo trình dành cho

người châu Âu thì nội dung của nó mang đậm văn hoá châu Âu, từ ví dụ

minh hoạ đến trình tự giới thiệu ngữ pháp, rất gần với cách biểu đạt của

người châu Âu. Tuy nhiên, đã có một số loại giáo trình của người nước ngoài

được cải biên và bổ sung hướng tới đối tượng người học là người Việt Nam.

Nhưng thực sự nội dung về văn hoá và ngôn ngữ cũng chỉ là thoảng qua.

Khoa tổ chức biên soạn giáo trình phù hợp cho mình, xây dựng được

cuốn giáo trình phù hợp cần phải qui định những nội dung thiết yếu nhất trên

các mặt: giáo dục tư tưởng đạo đức, bồi dưỡng tri thức văn hoá và rèn luyện

kỹ năng giao tiếp bằng ngoại ngữ. Các nội dung này liên quan chặt chẽ với

-83-



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

×