1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CỘNG TÁC VIÊN THANH TRA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.69 MB, 121 trang )


Tác giả Đặng Quốc Bảo trong tài liệu "Những vấn đề QLNN và quản

lý giáo dục" đã xác định: Quản lý giáo dục có 4 chức năng cụ thể: Kế hoạch

hoá, chỉ huy, điều hành, kiểm tra. Trong đó "Kiểm tra là công việc gắn bó

với sự đánh giá tổng kết kinh nghiệm giáo dục, điều chỉnh mục tiêu". (Đặng

Quốc Bảo, Những vấn đề QLNN và quản lý giáo dục - Trƣờng Cán bộ quản

lý Giáo dục và Đào tạo TW1, 1998)

Về quản lý trƣờng học, tác giả Trần Kiểm trong cuốn "Khoa học quản

lý nhà trường phổ thông" đã viết: "Hiệu quả quản lý nhà trường phụ thuộc

nhiều vào chừng mực người hiệu trưởng sử dụng thông tin khách quan, đáng

tin cậy, toàn diện, đầy đủ và kịp thời của mỗi giáo viên về chất lượng kiến

thức, về mức độ được giáo dục và tính kỷ luật của học sinh" [31, tr.123].

Thông tin khách quan thu đƣợc chủ yếu qua kết quả thanh tra.

Với đề tài TTGD, đã có nhiều tác giả đề cập. Các bài viết đăng trên tạp

chí thông tin quản lý giáo dục, các bài giảng trong các lớp huấn luyện thanh tra

trƣờng cán bộ quản lý GD&ĐT Trung ƣơng I của các tác giả Nguyễn Trọng

Hậu, Dƣơng Chí Trọng... đã đề cập nhiều vấn đề liên quan đến công tác kiểm

tra, TTGD. Năm 2003, hai tác giả Quang Anh - Hà Đăng đã xuất bản cuốn:

"Những điều cần biết trong HĐTT, kiểm tra Giáo dục và Đào tạo" có tính chất

tổng hợp các vấn đề cơ bản về TTGD và Đào tạo.[8]

Ngoài ra một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục, các đề

tài về TTGD trong các lớp huấn luyện cán bộ thanh tra của một số tác giả cũng

đề cập đến vấn đề thanh, kiểm tra, bồi dƣỡng đội ngũ thanh tra...

Các đề tài và bài viết nêu trên đã đề cập đến các vấn đề chung của công

tác TTGD, chủ yếu là các khía cạnh thanh tra đánh giá giáo viên, nhà trƣờng,

quản lý công tác thanh tra... và là những tài liệu có giá trị, bổ ích.

Tuy nhiên chƣa có đề tài nào nghiên cứu một cách chi tiết, cụ thể về

biện pháp nhằm phát triển đội ngũ cộng tác viên thanh tra chuyên môn

THPT cho ngành giáo dục nói chung và ngành giáo dục tỉnh Nam Định nói



8



riêng. Do vậy vấn đề phát triển đội ngũ cộng tác viên thanh tra chuyên môn

trƣờng THPT tỉnh Nam Định lúc này là rất cần thiết, cần đƣợc nghiên cứu

làm sáng tỏ về cả lý luận và thực tiễn. Tác giả chọn nghiên cứu đề tài này với

mong muốn góp phần phát triển đội ngũ cộng tác viên thanh tra chuyên môn

trƣờng THPT tỉnh Nam Định; nhằm có một đội ngũ cộng tác viên thanh tra

chuyên môn đủ về số lƣợng, đồng bộ về cơ cấu, mạnh về chất lƣợng, đáp ứng

ngày càng tốt hơn yêu cầu công tác thanh tra chuyên môn trong các trƣờng

THPT, đóng góp tích cực vào công cuộc đổi mới sự nghiệp GD&ĐT tỉnh

Nam Định.

1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Kiểm tra, thanh tra

1.2.1.1. Kiểm tra

Kiểm tra là một trong những chức năng cơ bản của quản lí, nó giữ vai

trò cực kì quan trọng đối với hoạt động quản lí xã hội. Kiểm tra là giai đoạn

kết thúc của một chu trình quản lí, nhƣng đồng thời nó cũng bắt đầu việc

chuẩn bị tích cực cho chu trình quản lí tiếp theo. Mặt khác, kiểm tra còn thực

hiện ngay trong từng giai đoạn (chức năng) của chu trình quản lí.

Trên bình diện của khoa học quản lí, khái niệm kiểm tra có nhiều cách

định nghĩa khác nhau:

+ "Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét" [38].

+ Theo tác giả Hà Thế Ngữ: "Kiểm tra là xem xét thực tế để tìm ra

những sai lệch so với quyết định, kế hoạch và chuẩn mực đã quy định; phát

hiện ra trạng thái thực tế; so sánh trạng thái đó với khuôn mẫu đã đặt ra, khi

phát hiện ra những sai sót thì cần phải điều chỉnh, uốn nắn và sửa chữa kịp

thời". (Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 4 - 1984).

Từ những cách định nghĩa trên đây, chúng ta có thể hiểu: Kiểm tra là

công việc đo lƣờng và điều chỉnh các hoạt động của cá nhân và các bộ phận

phối hợp để tin rằng công việc và các hoạt động tiến hành có phù hợp với kế

9



hoạch và mục tiêu hay không; chỉ ra những lệch lạc và đƣa ra những tác động

để điều chỉnh, uốn nắn, giúp đỡ, đảm bảo hoàn thành kế hoạch. Kiểm tra trong

quản lý là hệ thống những hoạt động đánh giá - phát hiện - điều chỉnh, nhằm

đƣa toàn bộ hệ thống đƣợc quản lí tới mục tiêu dự kiến và đạt trình độ chất

lƣợng cao hơn.

1.2.1.2. Thanh tra

"Thanh tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ

quan, xí nghiệp" [38].

"Thanh tra là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực

hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định - Sự tác động

có tính trực thuộc" [38].

Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị tại hội nghị Thanh tra toàn miền Bắc

lần thứ nhất năm 1957 đã nói: "Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn

của dưới; theo dõi chỉ thị, chính sách, thông tư đưa xuống cho đến lúc kết

thúc" [36, tr.8].

Theo Luật Thanh tra năm 2004 thì: "Thanh tra là việc xem xét, đánh

giá, xử lý của cơ quan QLNN đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật,

nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu quản lý theo thẩm quyền, trình

tự, thủ tục được quy định trong luật này và các quy định khác của pháp

luật..." [38, tr.198].

"Thanh tra có nghĩa là sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài và hoạt động

của một đối tượng nhất định" [39].

Từ những luận điểm đƣợc nêu trên đây, chúng ta có thể hiểu khái

niệm: Thanh tra là một dạng hoạt động, là một chức năng của QLNN,

đƣợc thực hiện bởi chủ thể quản lý có thẩm quyền, nhân danh quyền lực

nhà nƣớc, nhằm tác động đến đối tƣợng quản lý trên cơ sở xem xét, đánh

giá ƣu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi



10



phạm, tăng cƣờng pháp chế; bảo vệ lợi ích của nhà nƣớc, quyền và lợi ích

hợp pháp của tổ chức và cá nhân.

1.2.1.3. Phân biệt giữa kiểm tra và thanh tra

- Sự giống nhau của kiểm tra và thanh tra

Kiểm tra, thanh tra giống nhau ở tính mục đích. Thông qua kiểm tra,

thanh tra nhằm phát huy những nhân tố tích cực, phát hiện hoặc phòng ngừa

vi phạm, góp phần thúc đẩy và hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động QLNN.

Thanh tra, kiểm tra đều phát hiện, phân tích đánh giá thực tiễn một

cách chính xác, khách quan trung thực, làm rõ đúng sai, nguyên nhân dẫn

đến sai phạm, từ đó đề xuất biện pháp khắc phục và xử lý sai phạm.

- Sự khác nhau của kiểm tra và thanh tra:

+ Khác nhau về nội dung:

Nội dung kiểm tra thƣờng dễ dàng nhận thấy, ngƣợc lại nội dung

thanh tra thƣờng đa dạng, phức tạp hơn. Tuy vậy phân biệt này chỉ có tính

tƣơng đối vì thế trên thực tế có những vụ việc thuộc về kiểm tra nhƣng

không phải hoàn toàn đơn giản. Bởi vậy một vấn đề thuộc về kiểm tra hay

thanh tra cần căn cứ vào nội dung vụ việc cụ thể để xác định.

+ Khác nhau về chủ thể:

Chủ thể của HĐTT, trƣớc hết là tổ chức thanh tra chuyên nghiệp nhà

nƣớc. Ngoài ra, khi cần thiết cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cũng thành lập

đoàn thanh tra để thanh tra theo thẩm quyền quản lý đƣợc pháp luật quy định.

Còn chủ thể của kiểm tra đa dạng hơn. Vì nội dung kiểm tra đa dạng và hoạt

động thƣờng xuyên, rộng khắp. Trong công tác quản lý, mọi cơ quan, đơn vị

đều là chủ thể của kiểm tra; Các cơ quan QLNN, các tổ chức kinh tế, các đoàn

thể, lực lƣợng vũ trang có trách nhiệm tự kiểm tra hoạt động của mình.

+ Khác nhau về trình độ nghiệp vụ:

HĐTT đòi hỏi thanh tra viên phải có nghiệp vụ giỏi, am hiểu về kinh

tế - xã hội, có khả năng chuyên môn sâu vào lĩnh vực mà thanh tra hƣớng

11



đến. Có nhƣ vậy, mới có thể khám phá chiều sâu của vụ việc, thu thập đƣợc

thông tin, chứng cứ, xác minh, đối chiếu, phân tích, đánh giá tình hình đi đến

kết luận chính xác, khách quan. Do nội dung của hoạt động kiểm tra ít phức

tạp hơn thanh tra và chủ thể của kiểm tra bao gồm lực lƣợng rộng lớn có tính

quần chúng, phổ biến nên nói chung, trình độ nghiệp vụ kiểm tra không nhất

thiết đòi hỏi nhƣ nghiệp vụ thanh tra. Tuy nhiên sự phân biệt trình độ kiểm

tra, thanh tra chỉ là tƣơng đối.

+ Khác nhau về phạm vi hoạt động:

Phạm vi hoạt động kiểm tra thƣờng theo bề rộng, diễn ra liên tục ở

khắp nơi với nhiều hình thức phong phú, mang tính quần chúng. Phạm vi

HĐTT thƣờng hạn hẹp hơn. Hoạt động, thanh tra thƣờng có sự chọn lọc.

Nhìn chung ở từng cấp, số lƣợng đề tài thanh tra và địa điểm thanh tra ít hơn

số lƣợng đề tài kiểm tra và địa điểm kiểm tra.

+ Khác nhau về thời gian tiến hành:

Trong HĐTT, thƣờng có nhiều vấn đề phải xác minh, đối chiếu rất

công phu, nhiều mối quan hệ đều đƣợc làm rõ cho nên phải sử dụng thời

gian dài hơn so với kiểm tra. Tuy nhiên, nếu so sánh từng cuộc kiểm tra đơn

lẻ, đôi khi có cuộc kiểm tra kéo dài hơn thanh tra, song nhìn tổng quát thì

thời gian thanh tra dài hơn thời gian kiểm tra.

- Mối quan hệ qua lại giữa kiểm tra và thanh tra:

Sự phân biệt giữa kiểm tra và thanh tra chỉ là tƣơng đối khi tiến hành

cuộc thanh tra, thƣờng phải tiến hành nhiều hoạt động kiểm tra. Ngƣợc lại,

đôi khi tiến hành kiểm tra là để làm rõ vụ, việc và từ đó lựa chọn nội dung

thanh tra. Kiểm tra và thanh tra là hai khái niệm khác nhau nhƣng có liên hệ

qua lại với nhau. Do vậy khi nói đến một khái niệm nào ngƣời ta thƣờng

nhắc đến cả cặp với tên gọi: Kiểm tra, thanh tra hay thanh tra, kiểm tra.



12



1.2.1.4. Vai trò của TTGD trong quản lý giáo dục

Công tác thanh tra, kiểm tra GD&ĐT là rất cần thiết và có vai trò rất

quan trọng trong quản lý giáo dục.

* Thứ nhất: Thanh tra, kiểm tra GD&ĐT góp phần tăng cƣờng pháp

chế xã hội chủ nghĩa. Thực chất thanh tra, kiểm tra GD&ĐT chính là việc cơ

quan nhà nƣớc có thẩm quyền tiến hành kiểm tra việc thực hiện quy định

pháp luật về GD&ĐT của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có hoạt động

trong hoặc liên quan đến lĩnh vực GD&ĐT. HĐTT, kiểm tra sẽ giúp các đối

tƣợng đƣợc thanh tra, kiểm tra nhận thức một cách đầy đủ quyền và nghĩa vụ

của mình, nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của chính sách phát triển giáo

dục trong giai đoạn hiện nay, từ đó sẽ hình thành ý thức tuân thủ quy định

của pháp luật nói chung và những quy định của pháp luật về GD&ĐT nói

riêng.

* Thứ hai: Thanh tra, kiểm tra GD&ĐT góp phần nâng cao hiệu lực

QLNN của các cơ quan có thẩm quyền. Không chỉ về phía các tổ chức và cá

nhân có hoạt động trong hoặc liên quan đến lĩnh vực GD&ĐT mà ngay cả về

phía cơ quan QLNN trong lĩnh vực GD&ĐT cũng cần phải có sự chấp hành

pháp luật một cách triệt để. Công tác thanh tra, kiểm tra giúp các cơ quan chức

năng nhận thức đúng và làm tròn vai trò, trách nhiệm đƣợc giao. Các cơ quan

QLNN trong lĩnh vực GD&ĐT đƣợc đề cập tới ở đây bao gồm tất cả các cơ

quan có thẩm quyền quản lý về GD&ĐT nói chung và các cơ quan có thẩm

quyền thanh tra, kiểm tra GD&ĐT nói riêng.

* Thứ ba: Thanh tra, kiểm tra GD&ĐT nâng cao năng lực quản lý cho

ngƣời đứng đầu các cơ sở GD&ĐT (Hiệu trƣởng). Để một cơ sở GD&ĐT hoạt

động có hiệu quả thì yếu tố mang tính quyết định chính là công tác lãnh đạo của

Hiệu trƣởng. Khi diễn ra HĐTT, kiểm tra toàn diện một cơ sở GD&ĐT thì công

tác lãnh đạo của Hiệu trƣởng là một nội dung thanh tra, kiểm tra quan trọng.

Theo đó, Hiệu trƣởng có trách nhiệm giải trình về hoạt động của mình trƣớc cơ



13



quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra. Những sai lầm, thiếu sót, nếu có, sẽ kịp

thời đƣợc phát hiện và có biện pháp xử lý phù hợp. Ngƣợc lại, những ƣu điểm,

những mặt tích cực sẽ kịp thời đƣợc biểu dƣơng và phát huy một cách có hiệu

quả. Nhƣ vậy, thanh tra, kiểm tra giúp Hiệu trƣởng nhận rõ ƣu, khuyết điểm của

nhà trƣờng cũng nhƣ của bản thân trong công tác quản lý, góp phần thực hiện

tốt các yêu cầu GD&ĐT đƣợc giao theo chƣơng trình, kế hoạch của cơ quan

QLNN cấp trên. Đồng thời có thể kiến nghị với cấp có thẩm quyền nhằm điều

chỉnh, bổ sung chủ trƣơng, biện pháp đã đƣa ra hoặc đáp ứng yêu cầu cấp bách

của cơ sở.

* Thứ tư: Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra GD&ĐT, những vi

phạm, thiếu sót sẽ kịp thời đƣợc phát hiện, khắc phục và xử lý nghiêm minh

theo đúng quy định của pháp luật. Đây là một trong những ý nghĩa quan trọng

nhất của công tác thanh tra, kiểm tra vì trong quá trình hoạt động, các cơ sở

GD&ĐT khó tránh đƣợc những sai lầm, vi phạm. Những tồn tại này có thể do

nguyên nhân khách quan (văn bản pháp luật quy định về lĩnh vực giáo dục còn

chƣa đầy đủ, thiếu sự quan tâm chỉ đạo từ phía các cơ quan nhà nƣớc có thẩm

quyền, v.v...), có thể xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan (năng lực, trình

độ chuyên môn yếu kém của một số giáo viên, sự hiểu biết hạn chế về các quy

định của pháp luật trong lĩnh vực GD&ĐT). Việc phát hiện, khắc phục và xử lý

các vi phạm sẽ loại bỏ những nhân tố tiêu cực, góp phần thanh lọc, chấn chỉnh

hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có hoạt động trong hoặc liên

quan đến lĩnh vực GD&ĐT, nâng cao chất lƣợng GD&ĐT.

* Thứ năm: Thanh tra, kiểm tra còn có quan hệ chặt chẽ với giám sát,

vừa có vai trò giám sát, vừa có vai trò hỗ trợ cho giám sát việc thực hiện những

chủ trƣơng, đƣờng lối, những qui định của Nhà nƣớc, của Ngành tại các cơ sở.

Những phân tích trên cho phép tác giả đƣa ra kết luận: Thanh tra,

kiểm tra nói chung và thanh tra, kiểm tra GD&ĐT nói riêng luôn giữ vai

trò nhất định trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục. Đặc biệt trong giai



14



đoạn hiện nay, để làm tốt mục tiêu đặt ra trong Chiến lƣợc phát triển giáo

dục 2009 - 2020 là: " Trong vòng 20 năm tới, phấn đấu xây dựng một nền

giáo dục Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc, làm nền tảng cho sự nghiệp

công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững đất nước, thích ứng với

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới một xã hội

học tập, có khả năng hội nhập quốc tế; nền giáo dục này phải đào tạo được

những con người Việt Nam có năng lực tư duy độc lập và sáng tạo, có khả

năng thích ứng, hợp tác và năng lực giải quyết vấn đề, có kiến thức và kỹ

năng nghề nghiệp, có thể lực tốt, có bản lĩnh, trung thực, ý thức làm chủ và

tinh thần trách nhiệm công dân, gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ

nghĩa xã hội." thì Nhà nƣớc cần tăng cƣờng hơn nữa công tác quản lý chung

trong đó có HĐTT, kiểm tra GD&ĐT.

1.2.2. Cộng tác viên thanh tra (CTVTT), đội ngũ cộng tác viên thanh tra

chuyên môn giáo dục:

Thanh tra là một khâu thiết yếu của công tác QLNN; đồng thời hiệu

quả thanh tra còn phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ thanh tra viên. Đội ngũ

thanh tra viên có đủ về số lƣợng, mạnh về chất lƣợng là một yếu tố quan

trọng đảm bảo hiệu quả công tác thanh tra. Tuy nhiên do biên chế có hạn,

ngoài các thanh tra viên cần có đội ngũ cộng tác viên hỗ trợ cho công tác

thanh tra.

Đội ngũ TTGD Việt Nam hiện nay bao gồm:

- Các thanh tra chuyên trách gọi là Thanh tra viên các cấp (theo quy

định của Luật Thanh tra): là công chức nhà nƣớc đƣợc bổ nhiệm vào ngạch

thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra. Thanh tra viên đƣợc cấp trang

phục và thẻ Thanh tra viên. Tiêu chuẩn bổ nhiệm Thanh tra viên đƣợc quy

định tại Điều 31 Luật Thanh tra.



15



- Ngoài Thanh tra viên đã quy định trên, đối với nƣớc ta còn có Cộng tác

viên thanh tra (CTVTT) đƣợc bổ nhiệm theo quy định của Thanh tra Nhà nƣớc

và Thanh tra Bộ GD&ĐT. Lực lƣợng này chủ yếu là các cán bộ, giáo viên có

đủ uy tín và năng lực làm công tác thanh tra ở cơ quan Sở GD&ĐT, Phòng

GD&ĐT và ở các cơ sở giáo dục (trƣờng học) đƣợc bổ nhiệm để làm nhiệm vụ

thanh tra theo từng vụ việc. CTVTT có nhiệm vụ và quyền hạn do các tổ chức

thanh tra giao theo quy định của Luật Thanh tra. Tiêu chuẩn, chế độ của

CTVTT đƣợc quy định tại Điều 32 của Luật Thanh tra.

Mối liên hệ giữa TTGD, thanh tra viên và cộng tác viên thanh tra đƣợc mô tả

theo sơ đồ sau:



Thanh tra giáo dục

Thanh tra viên

CTVTT



Từ sơ đồ trên ta có thể thấy, để thực hiện nhiệm vụ thanh tra trong

lĩnh vực giáo dục cần có thanh tra viên; đó là công chức nhà nƣớc đƣợc bổ

nhiệm vào ngạch thanh tra. Nhƣng để hoàn thành nhiệm vụ thanh tra nếu chỉ

thanh tra viên thì không đủ mà cần có CTVTT; đó là những giáo viên các

trƣờng có đủ các điều kiện tiêu chuẩn đƣợc qui định tại Nghị định

85/2006/NĐ-CP đƣợc trƣng tập làm nhiệm vụ thanh tra. Nhƣ vậy CTVTT

vừa phải thực hiện sứ mệnh của thanh tra viên, đồng thời là ngƣời trực tiếp

thực hiện nhiệm vụ chuyên môn ở các cơ sở giáo dục. Do trực tiếp công tác

ở cơ sở, nên CTVTT sẽ gần gũi, sâu sát hơn với đối tƣợng thanh tra. Nhƣ

vậy việc huy động lực lƣợng CTVTT đảm bảo cho công tác thanh tra đạt

hiệu quả cao.



16



1.2.3..Phát triển, Phát triển đội ngũ cộng tác viên thanh tra:

1.2.3.1. Khái niệm phát triển:

- Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Từ điển Bách Khoa, Ngôn ngữ Việt

Nam, 2006) thì phát triển đƣợc hiểu là:

1. Mở mang từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh

2. Diễn biến: Tình hình phát triển

Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều

hƣớng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện

đến hoàn thiện hơn.

1.2.3.2.Phát triển đội ngũ cộng tác viên thanh tra

* Đội ngũ

- Đội ngũ là một Thuật ngữ mô tả sức mạnh có thể tạo nên một tác động nhất

định. Nhìn chung khi nói về một tổ chức, đội ngũ có thể đƣợc hiểu là về sức

mạnh của một lực lƣợng (thể hiện cả về lƣợng và chất) trong một tổ chức khi

họ liên kết với nhau để cùng hành động vì mục tiêu chung. Thuật ngữ đội ngũ

nói lên cơ cấu, trình độ, số lƣợng và chất lƣợng của nhân lực trong một tổ

chức.

* Phát triển đội ngũ cộng tác viên thanh tra

- Tính chất chung của phát triển là khuynh hƣớng vận động đã xác

định về hƣớng của sự vật: hƣớng đi lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện

đến hoàn thiện hơn...

Như vậy, phát triển đội ngũ CTVTT là làm cho đội ngũ CTVTT trở

lên sâu sắc hơn, đi vào thế bền vững hay nói cách khác là tạo nên sự biến

đổi của lực lƣợng CTVTT đủ về số lƣợng, đảm bảo về chất lƣợng (có

năng lực thanh tra và phẩm chất đạo đức tốt), có cơ cấu hài hoà, có tính

đồng thuận cao, đáp ứng các tiêu chuẩn của TTGD.



17



1.3. Hệ thống thanh tra Nhà nƣớc và hệ thống TTGD

1.3.1. Hệ thống thanh tra Nhà nước

+ Hệ thống thanh tra Nhà nước

Căn cứ vào hiến pháp nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm

1992 đã đƣợc sửa đổi, bổ sung theo nghị định số 51/2001/QH 10 ngày

25/12/2001 của Quốc hội khoá 10 kỳ họp 10 ban hành Luật Thanh tra và quy

định hệ thống tổ chức cơ quan thanh Nhà nƣớc :

- Cơ quan thanh tra theo cấp hành chính gồm: Thanh tra chính phủ;

thanh tra các uỷ ban nhà nƣớc, cơ quan thuộc chính phủ; thanh tra tỉnh, thành

phố và cấp tƣơng đƣơng; thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

chức năng thanh tra Nhà nƣớc ở xã, phƣờng, thị trấn .

- Cơ quan thanh tra theo ngành và lĩnh vực: Thanh tra Bộ, cơ quan

ngang bộ ( gọi chung là thanh tra Bộ ), thanh tra Sở.

+ Vị trí của hệ thống TTGD

TTGD là hệ thống thanh tra chuyên ngành, là một trong ba bộ phận

hợp thành tổ chức QLNN của bộ Giáo dục và đào tạo: Nghiên cứu, chỉ đạo

và thanh tra, TTGD có chức năng chủ yếu là đánh giá việc thực hiện nhiệm

vụ của đối tƣợng thanh tra, qua đó đồng thời đánh giá cả việc nghiên cứu, chỉ

đạo giúp cho công tác quản lý giáo dục của cấp trên ngày càng hoàn thiện về

nội dung, về thể chế hoá xây dựng luật hoặc các văn bản dƣới luật

1.3.2. Hệ thống thanh tra giáo dục.

Điều 6 Nghị định 101/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định hệ thống

tổ chức của TTGD gồm:

Thanh tra bộ Giáo dục và Đào tạo (gọi tắt là thanh tra Bộ).

Thanh tra chuyên ngành giáo dục - đào tạo tiến hành thanh tra, kiểm

tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục - đào tạo của các cơ quan, tổ chức

các cá nhân có hoạt động trong hoặc liên quan đến giáo dục - đào tạo.

Thanh tra sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh, thành phố trực thuộc trung

ƣơng (gọi tắt là thanh tra Sở).

HĐTT giáo dục ở cấp huyện ( Quận ) do trƣởng phòng giáo dục đào tạo trực tiếp phụ trách và theo sự chỉ đạo nghiệp vụ của thanh tra



18



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (121 trang)

×