1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG TRONG GIÁO DỤC NHÀ TRƯỜNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.69 MB, 104 trang )


CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

TRUYỀN THỐNG TRONG GIÁO DỤC NHÀ TRƢỜNG

1.1. Tổng quan nghiên cứu về vấn đề quản lý giáo dục đạo đức truyền thống

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, được hình thành, phát triển

cùng với lịch sử xã hội loài người và luôn được mọi tầng lớp, mọi giai cấp,

mọi thời đại quan tâm, xem nó là động lực tinh thần để hoàn thiện nhân cách

con người trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.

Theo chiều dài của lịch sử, vấn đề đạo đức và GDĐĐ là vấn đề được

nhiều người quan tâm. Trong lịch sử Trung Hoa, dưới thời Xuân Thu, Khổng

Tử (551 – 479. TCN), nhà giáo dục lớn đầu tiên của Trung Quốc đã dốc hết

tâm huyết vào việc làm cho xã hội Trung Quốc ổn định. Biện pháp của ông là

khôi phục đường lối đức trị và lễ trị. Ông cho rằng, cơ sở của đường lối đức

trị là lòng Nhân, lòng thương người.

I.A.Kômenxki (1592 – 1670) đã đúc kết “Một số qui tắc trong ứng xử”

để giảng dạy cho thanh thiếu niên học sinh. Ông đặc biệt quan tâm đến

phương pháp nêu gương cho học sinh, đặc biệt là sự gương mẫu của các thầy

giáo, cha mẹ và những người thân.

Trong thế kỷ XX, nhiều nhà tâm lý giáo dục nổi tiếng thế giới đã đề

cập đến vấn đề GDĐĐ cho thanh niên, học sinh. Đặc biệt nhà tâm lý giáo dục

nổi tiếng A.X.Macarenco đã từng khẳng định “Tôn trọng, yêu cầu cao là một

trong những nguyên tắc giáo dục XHCN ” [24].

Ở nước ta trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, các

chuẩn mực, giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp trong quan hệ gia đình, cộng

đồng đã hình thành và truyền lại cho thế hệ sau bằng nhiều con đường. Là

người Việt Nam không ai không nhớ đến lời nhắc nhở “Tiên học lễ, hậu học

văn” hay “Tôn sư trọng đạo”… lại càng không thể không biết đến tấm gương

đạo đức Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người về đạo đức cách mạng. Với mỗi



7



người, Hồ Chí Minh ví đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người,

như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông suối. Người viết: “Cũng như sông

thì phải có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có

gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có

đạo đức thì tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [14].

Người còn dạy: “Ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong ” và

trên tất cả là cuộc đời và sự nghiệp vì nước vì dân của Người, đó là tấm

gương đạo đức sáng nhất, cao cả nhất để thế hệ sau noi theo.

Đạo đức xuất hiện từ buổi bình minh của lịch sử loài người, phát triển song

hành cùng với xã hội, giúp xã hội loài người tiến cao hơn. Nhiều công trình

nghiên cứu về GDĐĐ của nhiều tác giả trong và ngoài nước được công bố.

Trong cuốn “Đạo đức học” – tác giả Phạm Khắc Chương và Hà Nhật

Thăng đã đề cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức để trang bị cho giáo viên

sau này làm cơ sở để dạy học cho học sinh. Các tác giả đã đề cập đến các vấn

đề GDĐĐ ở phạm trù như đạo đức trong gia đình, đạo đức trong tình bạn, đạo

đức trong tình yêu, đạo đức trong học tập, đạo đức trong giao tiếp, đạo đức

trong truyền thống của dân tộc. Trong các phạm trù đó mỗi vấn đề đạo đức từ

cổ xưa đến những vấn đề bức xúc hiện nay đã được đề cập nhằm cung cấp

những vốn kiến thức cho giáo viên làm cơ sở cho việc giảng dạy và GDĐĐ

cho học sinh.

Trong những năm gần đây, một số đề tài xoay quanh vấn đề GDĐĐ như

“Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức của Hiệu trưởng trường THPT Quận

Thanh xuân - Hà Nội” của Phan Thị Thanh Thảo; “Biện pháp quản lý giáo

dục đạo đức của Hiệu trường trường THPT Kim Liên – Hà Nội” của tác giả

Sơn. Tuy nhiên nghiên cứu QLGDĐĐTT cho học sinh trong nhà trường

THPT chưa được chú ý, vẫn còn bỏ ngỏ.

Chúng tôi hi vọng rằng, đề tài “Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức

truyền thống cho học sinh trung học phổ thông huyện Từ Liêm trong giai



8



đoạn hiện nay ” sẽ giúp Hiệu trưởng các trường THPT làm tốt chức năng

QLGDĐĐTT cho học sinh.

1.2. Một số khái niệm công cụ

1.2.1. Khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.1.1. Quản lý

Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:

- Theo các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ : “ Quản lý là một quá

trình định hướng, quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục

tiêu nhất định, những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống

mà người quản lý mong muốn ” [20].

- Theo tài liệu của Trường cán bộ quản lý giáo dục và đào tạo “Quản

lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối

tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất

định ” [34, Tr.130].

- Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “Quản lý là tác động có mục đích đến tập

thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình

lao động ” [29, Tr.15].

- Theo PGS. TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục

tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá,

tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra.” [21, Tr.1].

1.2.1.2. Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là nhân tố tổ chức, chỉ đạo để giáo dục thực hiện được

vai trò, mục đích tồn tại của minh. Hay nói một cách khác, lịch sử hình thành

và phát triển của QLGD có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ hữu cơ với lcịh sử

hình thành và phát triển của giáo dục.

Có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD:

- Theo tác giả Phạm Minh Hạc “Quản lý giáo dục là quản lý trường học,

thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình



9



tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu

giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng

học sinh ”. [14].

- Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục thực chất là những tác động

của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo

viên và học sinh với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình

thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của

nhà trường” [20, Tr.18].

- Trong Giáo trình Quản lý giáo dục, tác giả Bùi Văn Quân lại cho rằng:

“Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội trong đó diễn ra các hoạt

động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động

của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động để gây ảnh hưởng tới đối tượng

quản lý được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu

quả cần thiết vì sự ổn định và phát triển của giáo dục trong việc đáp ứng các

yêu cầu mà xã hội đặt ra với giáo dục”.

Như vậy, QLGD vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. Đó là

khoa học và nghệ thuật của việc điều khiển, phối hợp các bộ phận, các phần

tử của hệ thống giáo dục để đưa hệ thống giáo dục đạt được những trạng thái

phát triển mới theo yêu cầu của xã hội.

1.2.1.3. Quản lý nhà trường

Nhận định vai trò của quản lý nhà trường, PGS. TS. Đặng Quốc Bảo

viết: “Quản lý kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá lấy tiêu điểm là quản lý giáo

dục thì quản lý giáo dục phải lấy nhà trường làm căn bản”. [5, Tr.95].

Quản lý nhà trường là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tập hợp và tổ

chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác,

cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo

dục và đạo tạo trong nhà trường.



10



Quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt, các

khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục.

Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái hiện tại

lên một trạng thái phát triển mới bằng cách xây dựng và phát triển các nguồn

lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường

chất lượng giáo dục.

Từ các ý kiến trên “Quản lý nhà trường thực chất là tác động có định

hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy

mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục tiến tới mục tiêu giáo

dục mà trọng tâm của nó là đưa hoạt động dạy và học tiến lên trạng thái mới

về chất”.

1.2.2. Khái niệm về đạo đức, giáo dục đạo đức

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện từ buổi bình minh của

lịch sử loài người. Nó được hoàn thiện, phát triển trên cơ sở các chế độ kinh

tế - xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao, đỉnh cao của nó là đạo đức mới - đạo

đức cộng sản mà xã hội ta đang xây dựng.

Ở nước ta, những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực, phẩm chất đạo đức

cá nhân và đạo đức xã hội hiện thực đang tác động mạnh mẽ, thường xuyên

đến các quan hệ ứng xử giữa người với người, cá nhân và xã hội, nhằm hướng

con người tới cái chân, cái thiện, cái mỹ; chống cái ác, cái xấu, cái giả; đưa xã

hội ta đạt mục tiêu cao cả: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,

văn minh.

- Dưới góc độ Triết học: “Đạo đức là một trong những hình thái sớm

nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực, điều

tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng

đồng…”[ 26,Tr.45].

- Theo Mác và Ănghen : “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản

ánh một lĩnh vực riêng biệt trong tồn tại xã hội của con người” [15, Tr.9].



11



- Dưới góc độ Đạo đức học: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hôị đặc

biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên

tắc, chuẩn mực xã hội” [19,Tr.12].

- Một trong những người nghiên cứu xây dựng đạo đức mới là Chủ Tịch

Hồ Chí Minh, Người gọi là đạo đức cách mạng. Khi nói về vai trò của đạo

đức cách mạng, Người coi đạo đức là nền tảng “ Người cách mạng phải có

đạo đức cáhc mạng làm nền tảng”, đạo đức là thước đo lòng cao thượng “ lo

trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Những phẩm chất đạo đức trong thời đại

ngày nay theo Người là “ Trung với nước, hiếu với dân”, “ Cần, kiệm, liêm,

chính, chí công vô tư”, “ thương yêu con người, quần chúng lao khổ, là khiêm

tốn, cầu tiến bộ, chăm lo đến việc chung. Khi bàn về phương pháp rèn luyện

đạo đức cách mạng, Người luôn dạy phải lấy tự phê và phê bình, phải thành

khẩn, phải thường xuyên “ Ngọc càng mài càng sáng”, nói đi đôi với làm,

phải làm gương, xây phải đi đôi với chống, phải tạo được phong trào, dư luận

rộng rãi.

Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng luôn

luôn là thước đo, là chuẩn mực cho chúng ta rèn luyện, chính vì vậy 4 năm

trước đay, Bộ Chính trị đã phát động cuộc vận động “ Học tập và làm theo

tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Ngày nay đạo đức được định nghĩa như sau: “ Đạo đức là một hình

thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội,

nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ

với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá

nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”. [16,Tr.8].

“Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nhờ đó con người tự giác

điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc và làm giàu tính

người trong các quan hệ xã hội, kể cả trong quan hệ lợi ích”.[14, Tr.248].



12



Như vậy ngày nay đạo đức được thể hiện trong 5 quan hệ:

+ Với bản thân

+ Với người khác ở mọi môi trường

+ Với công việc

+ Với môn sinh

+ Với lý tưởng của dân tộc

1.2.3. Khái niệm về đạo đức truyền thống trong nhà trường

- Về khái niệm đạo đức truyền thống

Theo giáo sư Phan Huy Lê : “Truyền thống là tập hợp những tư tưởng

tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của một cộng

đồng người nhất định, được hình thành trong lịch sử và trở nên ổn định, được

lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”.

ĐĐTT là cái tốt, cái tiến bộ có tính phổ biến, được lưu giữ từ đời này

qua đời khác nhằm định hướng, điều chỉnh nhận thức, hành vi của con người.

ĐĐTT có tác dụng tham gia định hướng cho sự phát triển tiến bộ của

dân tộc.

ĐĐTT là nhân tố tích cực tạo nên bản sắc và bản lĩnh của một dân tộc.

ĐĐTT góp phần phát triển nhân cách con người, thiết lập các quan hệ

trong một cộng đồng, điều chỉnh lối sống của cộng đồng hướng tới sự phát

triển, hướng tới tương lai không phải bằng luật pháp mà bằng sức mạnh nội

sinh được kết tinh từ tinh hoa của nhiều đời thể hiện ở tư tưởng, tình cảm, tập

quán, thói quen của cộng đồng.

- Đạo đức truyền thống trong nhà trường

ĐĐTT trong nhà trường là những chuẩn mực, những quy định, quy

ước trong hoạt động giáo dục nhà trường (một môi trường, một hoạt động xã

hội đặc biệt) của các chủ thể tham gia hoạt động dạy học, giáo dục đó là quan

hệ thầy trò, quan hệ bạn học, thể hiện ý thức trách nhiệm, bổn phận của thầy

trò trong quá trình dạy học và giáo dục.



13



1.2.4. Khái niệm về quản lý giáo dục đạo đức truyền thống trong nhà trường

Từ khái niệm quản lý và ĐĐTT trong nhà trường, ta có thể hiểu

QLGDĐĐTT trong nhà trường thực chất là những tác động của chủ thể quản

lý vào quá trình GDĐĐTT (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh

với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển

toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.

Về bản chất, QLGDĐĐTT trong nhà trường là quá trình tác động có

hướng đích của chủ thể quản lý lên các thành tố tham gia vào quá trình hoạt

động GDĐĐTT nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu GDĐĐ. Như vậy,

QLGDĐĐTT trong nhà trường là hoạt động điều hành công tác GDĐĐTT để

ĐĐTT vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của nền giáo dục.

1.3. Nội hàm của hai giá trị đạo đức truyền thống

1.3.1. Truyền thống “Tôn sư trọng đạo”

Truyền thống “Tôn sư trọng đạo ” ở nước ta là những tư tưởng và tình

cảm, thói quen trong tư duy và ứng xử của cộng đồng người Việt trong tiến

trình lịch sử của nền giáo dục.

“Tôn sư trọng đạo” là tôn trọng, quí mến người thầy dạy mình và coi

trọng các đạo làm thầy. [8].

Thời phong kiến, nước ta chịu ảnh hưởng rất nhiều nền văn hoá Trung

Quốc. Đạo học lấy chữ Nho làm trọng, lấy đạo lý Khổng Mạnh làm kim chỉ

nam; lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm kinh điển. Xã hội phong kiến luôn dành cho

người thầy một vị trí xứng đáng. Trong ba điều kính trọng trước hết của một

con người thì người thầy ở vị trí thứ hai “Quân – sư - phụ ” - chỉ đứng sau

vua. Đó là trong khuôn phép lễ nghĩa, còn trong dân gian hình ảnh người thầy

được sánh ngang hàng với cha mẹ “Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy” hay trong ba

ngày tết thì “Mồng một thăm cha, mồng hai thăm mẹ, mồng ba thăm thầy”.



14



Truyền thống TSTĐ ở nước ta đã được truyền qua nhiều giai đoạn lịch

sử khác nhau. Song phải thừa nhận rằng đạo học thời phong kiến đã ăn sâu

vào tiềm thức người Việt Nam tác động, chi phối mạnh mẽ đạo học ngày nay.

1.3.2. Truyền thông hiếu học

Từ lâu nay chúng ta vẫn hiểu nôm na hiếu học là ham học hỏi, ham

hiểu biết.

Trong từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn có giải thích

từ hiếu học là có thái độ ham học hỏi.

Nếu tách từ ghép hiếu học thành từ hiếu và học để xem xét ta có: Học

được hiểu là việc tiếp thu kinh nghiệm, tiếp thu giá trị của thế hệ sau từ thế hệ

đi trước, của người chưa biết chữ từ người biết chữ. Để tiếp thu kinh nghiệm,

tiếp thu giá trị, người ta có thể học ở nhà trường, có thể học mà không cần

trường lớp, có thể học có thầy, cung có thể học mà không có thầy, có khi lại

học từ chính thực tiễn cuộc sống. Hiếu có nghĩa là ham thích coi trọng…Như

vậy hiếu học có thể được hiểu là sự quan tâm, coi trọng việc học của cộng

đồng và sự nỗ lực học tập của người đi học.

Theo hai tác giả Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng: “Hiếu học là

thích học, chăm học, là cần cù, vượt khó trong học tập, muốn hiểu biết mọi

mặt để thành người” [12, Tr.16].

Với cách hiểu như trên, có thể định nghĩa truyền thống hiếu học như

sau: TTHH là tập hợp những quan niệm, thái độ, tập quán, thói quen lâu đời

về sự quan tâm, coi trọng việc học tập, sự nỗ lực học tập cũng như các biểu

hiện về mục tiêu học tập tạo động lực cho sự quan tâm và nỗ lực này của một

cộng đồng, đã hình thành trong lịch sử, trở nên tương đối ổn định, được

truyền từ đời này sang đời khác và được thể hiện trong tâm lý, lối sống của

cộng đồng. [6].



15



1.3.3. Mối quan hệ của hai giá trị đạo đức trong quá trình giáo dục đạo đức

truyền thống cho học sinh

Trong lịch sử, TTHH đã góp phần quan trọng, hun đúc nên nhiều hiền

tài và lớp người có học - lực lượng giữ vai trò quyết định trong sự nghiệp tạo

dựng nền văn hiến nước nhà.

Với TTHH đó, nhiều thuần phong mĩ tục đã hình thành, đó là tinh thần

TSTĐ. TSTĐ là một nét đẹp văn hoá của người Việt đã tồn tại từ ngàn xưa

cho đến tận ngày nay. Nét đẹp ấy được thế hệ này nối tiếp thế hệ khác tiếp tục

xây dựng và phát huy bằng nhiều hình thức khác nhau. Dù chỉ học một chữ

hay nữa chữ cũng mang ơn người dạy. "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư " người

xưa thường nói. Mang ơn thầy là bổn phận của người học bởi "không thầy đố

mầy làm nên". Nhưng bổn phận này không phải chỉ là sản phẩm của lý trí

thuần túy mà còn xuất phát từ một tấm lòng, một tình cảm thật sâu xa bền bĩ:

sự thương mến kính trọng thầy. Bởi người làm thầy phải là người biết thương

mến, lo lắng cho trò mình, biết cách dạy dỗ, hướng dẫn cho trò mình phát

triển, tiến bộ, trỡ nên người tốt ở trên đời. Thầy có sứ mạng cao cả của thầy,

phải ý thức được sứ mạng cao cả đó, để làm hết phận sự của thầy, làm cho thế

hệ trẻ nên người. Có vậy học trò và người đời mới thương mến kính trọng

thầy. Tinh thần tôn sư nói lên lòng tôn kính người thầy.

Với tinh thần TSTĐ, việc học tập ngày càng được coi trọng và trở nên

thiêng liêng trong tâm thức mọi người.

TTHH và TSTĐ là một trong những giá trị cốt lõi trong nhà trường và

của dân tộc, đòi hỏi chúng ta cần phát huy và gìn giữ.

1.4. Đặc thù tâm lý học sinh trung học phổ thông:

Học sinh THPT (từ 15 đến 19 tuổi) là lứa tuổi đầu tuổi thanh niên. Ở lứa

tuổi này, học sinh đã trưởng thành về thể chất, tinh thần và tư tưởng đủ để

sống độc lập, tự quyết định, tham gia tích cực vào cuộc sống xã hội. Lứa tuổi



16



này đã có những nhu cầu chính đáng, những tiềm năng quý giá như ham hoạt

động, ham hiểu biết, đòi hỏi được sự chủ động, sáng tạo, độc lập, thích ứng,

tiếp thu nhanh cái mới, sôi nổi, nhiệt tình.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, giữa giáo dục và phát triển nhân cách tác

động qua lại với nhau rất mật thiết. Chính vì vậy, giáo dục phải dựa vào

những đặc điểm nhân cách của từng lứa tuổi nhất định, từng cá nhân mới có

thể tác động có hiệu quả đến sự phát triển nhân cách.

Học sinh THPT được chuẩn bị hành trang về nhiều mặt để đi vào cuộc

sống. Không chỉ được trang bị những kiến thức về tự nhiên và xã hội sâu

sắc để các em hình thành và phát triển nhân sinh quan và thế giới quan, ở

cấp học này còn phải chuẩn bị cho các em phát triển các phẩm chất đạo đức

xã hội, các phẩm chất tâm lý để các em trở thành những chủ thể của sự phát

triển cá nhân và xã hội.

Học sinh THPT được tiếp thu và vận dụng những kiến thức, kỹ năng

cao hơn cấp THCS. Các em có trình độ, có năng lực tư duy trừu tượng, khả

năng phân tích, phán đoán dựa trên sự hiểu biết quy luật của tự nhiên, xã hội.

Ở học sinh THPT, những thuộc tính, những phẩm chất tâm lý tương đối bền

vững. Những quan niệm về cuộc sống, bạn bè, về lý tưởng sống, về tự

nhiên… ở các em thể hiện khá rõ ràng và tương đối ổn định.

Tuổi học sinh THPT là tuổi lãng mạn, dám nghĩ, dám làm, tuổi có nhiều

ước mơ, muốn cống hiến hết mình cho sự nghiệp lớn lao nào đó. Họ có tình

cảm phong phú và đa dạng, có thái độ, xúc cảm tình cảm đối với các mặt khác

nhau của đời sống, có năng lực nhận xét, biết cảm thụ và yêu mến cái đẹp

trong hiện thực xung quanh, trong tự nhiên, trong nghệ thuật và trong đời

sống xã hội.

Các em luôn mong muốn người giáo viên phải có phẩm chất cao, đề cao

giáo viên giỏi, quý mến họ, sẵn sàng làm theo những lời hướng dẫn, chỉ bảo

của họ. Các em có xu hướng cảm phục những giáo viên ưu tú có biệt tài giảng



17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

×