1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN TỪ LIÊM – HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.69 MB, 104 trang )


CHƢƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN

THỐNG Ở CÁC TRƢỜNG THPT HUYỆN

TỪ LIÊM – HÀ NỘI

2.1. Một vài đặc điểm về địa bàn nghiên cứu

 Vị trí địa lý

Huyện Từ Liêm nằm ở phía Tây cửa ngõ của Thủ đô Hà Nội với diện tích

tự nhiên 75,15 km2, dân số hơn 350.000 người. Huyện gồm 15 xã và 1 thị trấn,

phía Đông giáp với Quận Tây Hồ, Cầu Giấy và Thanh Xuân; phía Bắc giáp

huyện Đông Anh; phía Tây và Nam giáp huyện Hoài Đức, thị xã Hà Đông.

 Về kinh tế - văn hoá – xã hội

Trong những năm gần đây, Từ Liêm là một trong những Huyện có quá

trình đô thị hoá rất nhanh, kinh tế - xã hội vẫn được duy trì và đạt mức tăng

trưởng khá, công tác thu thuế và thu ngân sách đạt kết quả tốt. Các hoạt động

văn hoá văn nghệ và thể dục thể thao diễn ra sôi nổi; công tác xã hội được

quan tâm chú trọng, công tác cải cách hành chính đạt hiệu quả, an ninh chính

trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Tốc độ tăng trưởng chung của các ngành kinh tế năm 2009 ước tính

tăng 15,4% so với năm 2008, đạt 100% chỉ tiêu nghị quyết HĐND Huyện.

Giá trị sản xuất ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ước tăng 12,1% so

với năm 2008, vượt 0,1% chỉ tiêu nghị quyết của HĐND Huyện đề ra. Giá trị

sản xuất ngành thương mại - dịch vụ ước tăng 19% so với năm 2008 và vượt

0,9% chỉ tiêu nghị quyết HĐND Huyện đề ra. Đã tạo việc làm cho 8.000 lao

động (tăng 1,02% so với năm 2008). Tỷ lệ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình

văn hóa so với tổng số hộ dân ước đạt 87%. Số hộ nghèo giảm được 625 hộ,

đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 3,04%. Tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm

xuống còn 11%. Tỉ lệ phổ cập THCS đạt 100% .



26



Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình đô thị hoá nhanh đã làm

nảy sinh nhiều hiện tượng phức tạp tại Huyện Từ Liêm,. Một trong những vấn

đề nhức nhối hậu đô thị hóa chính là các vấn đề xã hội. Thất nghiệp, sẵn tiền

từ đền bù thu hồi đất giải phóng mặt bằng, từ bán đất thổ cư cùng với kiểu tư

duy đô thị nửa mùa đã tạo ra môi trường thuận lợi cho các thứ tệ nạn len lỏi,

tồn tại và phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng dân cư vùng đô thị hóa. Cờ

bạc, lô đề và lối sống hủ hóa đang gặm nhấm một bộ phận không nhỏ những

con người nơi đây. Một bộ phận thanh, thiếu niên đang hình thành tư duy, lối

sống hưởng thụ, chơi bời, đua đòi; thuần phong, mỹ tục đang ngày càng bị

mài mòn, nền nếp gia phong cũng dần bị phá vỡ bởi những thứ văn hóa lai

căng nửa tây, nửa ta, nửa đô thi, nửa quê mùa. Một thực tế tương đối phổ biến

và hết sức đáng lo ngại là hầu hết giới trẻ ở khu vực này đang quay lưng lại

với cây lúa, quay lưng lại với những giá trị văn hóa nông thôn truyền thống.

Thực tế này tuy chưa đến mức phổ biến nhưng cũng thực sự là mầm mống dễ

dàng bùng phát nếu không có sự quản lý, không có những biện pháp giáo dục

hợp lý để ngăn chặn kịp thời. Theo số liệu thống kê sơ bộ của UBND xã Mễ

Trì, trong năm 2009 trên địa bàn xã đã xảy ra hàng trăm vụ trộm cắp, cướp

giật, hơn 60 đối tượng nghiện hút thuộc diện có hồ sơ, hơn 20 đối tượng vi

phạm pháp luật.

 Về giáo dục

Giáo dục của Huyện Từ Liêm trong những năm qua cũng đạt được nhiều

chuyển biến đáng kể, các trường học đã có nhiều biện pháp tích cực trong

việc giáo dục đạo đức cho học sinh. Các trường đã làm tốt công tác xã hội hoá

giáo dục, huy động được nhiều lực lượng xã hội tham gia vào hoạt động giáo

dục. Phong trào khuyến học và xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh. Hoạt

động của Hội khuyến học đã động viên khen thưởng học sinh giỏi, cấp học

bổng cho học sinh vượt khó kịp thời góp phần tạo động lực và môi trường

thuận lợi cho sự nghiệp giáo dục phát triển.



27



Huyện Từ Liêm có 4 trường THPT công lập, trong đó trường THPT

Xuân Đỉnh và trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai được thành lập cách đây

hơn 40 năm, 2 trường THPT Đại Mỗ và Thượng Cát mới được thành lập

trong những năm gần đây cùng với quá trình đô thị hoá của huyện.

Bảng 2.1: Thực trạng học sinh, tỉ lệ lên lớp và tỉ lệ HS TN THPT của

các trƣờng THPT năm học 2007 – 2008 đến 2009 - 2010

Trƣờng



Năm học



TS HS



Tỉ lệ lên lớp



Tỉ lệ TN THPT



THPT



2007 – 2008



1772



98,9



100



Ng. Thị



2008 – 2009



1722



99,2



99,84



Minh Khai



2009 - 2010



1654



99,6



100



THPT



2007 – 2008



1885



98,2



95



Xuân Đỉnh



2008 – 2009



1824



98,93



99,3



2009 - 2010



1657



99,01



99,8



THPT



2007 – 2008



1118



79,6



98,2



Thượng Cát



2008 – 2009



1135



86,37



100



2009 - 2010



1240



87,34



99,8



THPT



2007 – 2008



966



88,1



88



Đại Mỗ



2008 – 2009



966



87,2



94



2009 - 2010



959



85,4



98



(Nguồn: Báo cáo số liệu các trường THPT năm 2007 – 2010 )

Dựa vào số liệu thống kê bảng 2.1, trường THPT Nguyễn Thị Minh

Khai có tỉ lệ lên lớp và tỉ lệ tốt nghiệp THPT hàng năm cao nhất, điểm tuyển

sinh lớp 10 hàng năm của trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai luôn xếp vào

tốp 10 trên toàn Thành phố Hà Nội, điểm đầu vào hàng năm là 49 điểm. Xếp

ở vị trí tiếp theo là trường THPT Xuân Đỉnh với điểm tuyển sinh lớp 10 hàng

năm là 44 điểm. Dù mới được thành lập trong những năm gần đậy, trường

THPT Thượng Cát và trường THPT Đại Mỗ cũng rất cố gắng trong việc nâng



28



cao chất lượng dạy và học, tỉ lệ đỗ tốt nghiệp THPT của cả hai trường đều

vượt chỉ tiêu chung toàn Thành phố Hà Nội.

Bảng 2.2: Thực trạng xếp loại học lực của học sinh THPT huyện Từ

Liêm năm học 2007 – 2008 đến 2009 – 2010.

Trƣờng



Năm học



TSHS



Kết quả xếp loại học lực

Giỏi

Khá

Tr. bình Yếu,kém



2007 –

1772

8,5

66,4

24,09

1,01

2008

2008 –

1722

14,6

60,5

23,86

1,04

2009

2009 - 2010

1654

14,1

63,7

21,23

0,97

2007 –

THPT

1885

5,8

49,3

41,9

2,9

2008

Xuân Đỉnh

2008 –

1824

7

53

38

2

2009

2009 - 2010

1657

7

50,89

38,79

3,55

2007 –

THPT

1118

0,54

17,0

60,9

21,56

2008

Thƣợng Cát

2008 –

1135

0,7

27,1

57,5

14,7

2009

2009 - 2010

1240

0,89

30,89

55,65

12,58

2007 –

THPT

966

0,52

26,09

63,35

10,04

2008

Đại Mỗ

2008 –

996

0,5

28,0

57,5

14,1

2009

2009 - 2010

959

0,83

28,36

53,49

17,31

(Nguồn : Báo cáo số liệu các trường THPT năm 2007 – 2010 )

THPT

Ng. Thị

Minh Khai



Dựa vào thống kê bảng 2.2 ta thấy các trường THPT Huyện Từ Liêm đã

có những bước tiến rất vững chắc đặc biệt là trường THPT Nguyễn Thị Minh

Khai: từ tỉ lệ 8,5% học sinh giỏi năm học 2007 – 2008 đã nâng lên tỉ lệ

14,6% năm học 2008 – 2009 và tỉ lệ này vẫn duy trì ở năm học tiếp theo va

đặc biệt là trong kỳ thi tuyển sinh Đại học – Cao đẳng năm 2010 trường đã

được Bộ xếp hạng thứ 84 trong tổng số 200 trường THPT dẫn đầu toàn quốc

về tỉ lệ thi đỗ Đại học. Đây cũng là niềm vinh dự không chỉ đối với thầy trò

nhà trường mà còn là niềm vinh dự của hệ thống giáo dục đào tạo huyện Từ



29



Liêm. Các trường THPT Xuân Đỉnh, THPT Thượng Cát cũng dần khẳng định

được vị thế của mình. Trường THPT Đại Mỗ được thành lập cách đây gần 10

năm, tuy nhiên nhà trường là nằm rất sâu trong làng Đại Mỗ nên hàng năm

tuyển sinh rất khó khăn. Đây là một trong những trường tuyển sinh nguyện

vọng 3 của toàn thành phố Hà Nội nên điểm tuyển sinh vào 10 hàng năm chỉ

đạt 28 điểm, chính vì vậy tỉ lệ học sinh Giỏi hàng năm thấp và tỉ lệ học sinh

Yếu, Kém cao; điều đó cũng dẫn đến việc học sinh đạo đức Yếu, Kém tỉ lệ

cao nhất trong 4 trường.

Bảng 2.3: Thực trạng xếp loại hạnh kiểm của học sinh THPT huyện

Từ Liêm năm học 2007 – 2008 đến 2009 – 2010.

Trƣờng



Năm học



TSHS



Kết quả xếp loại hạnh kiểm

Tôt

Khá

Tr. bình Yếu,kém



2007 –

1772

75,4

23

1,6

0

2008

2008 –

1722

80,8

18,7

0,5

0

2009

2009 - 2010

1654

82,2

17,1

0,7

0

2007 –

THPT

1885

83,6

15,08

1,05

0,16

2008

Xuân Đỉnh

2008 –

1824

84

14

1,4

0,6

2009

2009 - 2010

1657

84,79

13,93

1,33

0,06

2007 –

THPT

1118

62,9

30,8

5,5

0,8

2008

Thƣợng Cát

2008 –

1135

65,3

30,3

3,6

0,8

2009

2009 - 2010

1240

67,58

29,6

2,66

0,08

2007 –

THPT

966

66,15

24,12

8,7

1,04

2008

Đại Mỗ

2008 –

996

64,1

29,1

5,8

1,0

2009

2009 - 2010

1085

63,61

27,63

7,09

1,67

(Nguồn : Báo cáo số liệu các trường THPT năm 2007 – 2010 )

THPT

Ng. Thị

Minh Khai



Dựa trên số liệu thống kê bảng 2.3 ta thấy học sinh THPT huyện Từ

Liêm đa phần rất ngoan. Tỉ lệ học sinh đạt hạnh kiểm Tốt và Khá trên 90%,



30



tuy nhiên số học sinh hạnh kiểm Yếu vẫn có ở các trường THPT Xuân Đỉnh,

THPT Thượng Cát và THPT Đại Mỗ. Điều này cũng được lý giải bởi nguyên

nhân khách quan là do ảnh hưởng của những tác động do quá trình đô thị hoá

nên vẫn còn tình trạng thanh niên bỏ học, có những biểu hiện không lành

mạnh trong lối sống, yếu kém về nhận thức, hành động không theo những

chuẩn mực đạo đức xã hội, tệ nạn, vi phạm pháp luật gia tăng.

Quá trình đô thị hoá làm thay đổi bộ mặt Từ Liêm, những cánh đồng lúa,

vườn cam, vườn bưởi và những luống hoa đang dần mất đi và thay vào đó là

những đô thị hiện đại. Tuy nhiên những hệ luỵ mà đô thị hoá mang lại là tệ

nạn xã hội, là sự xói mòn về đạo đức trong một bộ phận học sinh.

Một vài ví dụ : Vào ngày 20/02/2008, Lưu Danh Thắng, học sinh lớp 12

trường THPT Đại Mỗ đã gọi một nhóm thanh niên chém bạn Phạm Văn Vũ,

học sinh lớp 12A6 cùng trường và Vũ đã chết trên đường cấp cứu chỉ vì một

lý do không đáng có đó là tranh nhau một cái ghế ngồi giờ chào cờ. Hay

trường hợp một học sinh Nguyễn Văn X - học sinh trường THPT Đại Mỗ đã

cầm dao đuổi theo một giáo viên trong nhà trường. Học sinh Lê Văn Y trường THPT Xuân Đỉnh đi cướp giật. Học sinh Nguyễn Thị Thanh N, Dương

Thanh Hà A - học sinh trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai đã có những lời

nói xúc phạm danh dự nhân phẩm của giáo viên…

Từ thực trạng trên, các trường THPT huyện từ Liêm cần phải thực hiện

những giải pháp cụ thể trong công tác GDĐĐ nói chung, giáo dục TTHH và

TSTĐ nói riêng để nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục, góp phần xây dựng

Từ Liêm ngày càng phát triển, xứng đáng là đơn vị anh hùng thời kỳ đổi mới

do Đảng và Nhà nước phong tặng.

2.2. Giới thiệu về tổ chức khảo sát thực trạng

2.2.1. Mục tiêu khảo sát

- Thu thập các thông tin phân tích thực trạng nhận thức của các

đối tượng khác nhau về tầm quan trọng của GDĐĐTT trong nhà

trường.



31



- Thực hành GDĐĐTT ở trường THPT.

- Thu thập đề xuất của các đối tượng về các biện pháp nâng cao

hiệu quả GDĐĐTT

2.2.2. Nội dung khảo sát

 Thu thập các thông tin từ học sinh về

- Nhận thức về tầm quan trọng của GDĐĐTT.

- Đánh giá về thực hành GDĐĐTT của học sinh.

- Đánh giá về tác dụng của GDĐĐTT.

- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác GDĐĐTT ở

trường THPT.

 Thu thập các thông tin từ CBQL – GV về

- Nhận thức về tầm quan trọng của GDĐĐTT cho học sinh

trong giai đoạn hiện nay.

- Đánh giá về những nội dung và các hình thức GDĐĐTT cho

học sinh.

- Đánh giá của về mức độ nhận thức, biểu hiện hành vi ĐĐTT

của học sinh.

- Thực hành quản lý GDĐĐTT đối với học sinh.

- Nhận định về những khó khăn, thuận lợi, mặt mạnh, mặt yếu,

và các đề xuất về giải pháp quản lý GDĐĐTT cho học sinh

hiệu quả.

 Thu thập các thông tin từ phụ huynh về

- Nhận thức về tầm quan trọng của GDĐĐTT.

- Đánh giá về biểu hiện hành vi ĐĐTT của học sinh.

- Đánh giá về nội dung và các hình thức GDĐĐTT cho học sinh

ở gia đình.



32



2.2.3. Đối tượng khảo sát: CBQL, GV, phụ huynh và học sinh của 4

trƣờng THPT công lập huyện Từ Liêm

- Cán bộ quản lý: 8 người; gồm Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng

- Giáo viên : 80 người

- Phụ huynh : 40 người

- Học sinh : 120 em

Để khảo sát thực trạng, chúng tôi thiết kế 3 mẫu phiếu trưng cầu ý kiến

trình bày ở phụ lục.

- 1 mẫu phiếu trưng cầu ý kiến dành cho CBQL và GV

- 1 mẫu phiếu trưng cầu ý kiến dành cho phụ huynh

- 1 mẫu phiếu trưng cầu ý kiến dành cho học sinh

2.2.4. Thời gian, địa bàn khảo sát

- Thời gian : Tháng 8 năm 2010

- Địa bàn khảo sát : 4 trường THPT công lập huyện Từ Liêm bao

gồm: Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai, trường THPT Xuân Đỉnh,

trường THPT Thượng Cát, trường THPT Đại Mỗ.

2.3. Kết quả khảo sát thực trạng

2.3.1. Nhận thức của các đối tượng về giáo dục đạo đức truyền thống trong

nhà trường

2.3.1.1. Về ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục đạo đức truyền thống đối

với học sinh

Trước lúc đi xa, Bác Hồ kính yêu đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân và

toàn dân bản “Di chúc" lịch sử, gởi gắm cho chúng ta và các thế hệ mai sau.

Trong “Di chúc", Bác dặn: “…Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là

một việc rất quan trọng và rất cần thiết” . Theo Người, thế hệ kế tục sự nghiệp

sẽ là thế hệ quyết định sự thành công của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên đất

nước ta. Thấm nhuần lời dạy của Bác, ở bất kỳ địa phương, bất kỳ dòng họ



33



nhà trường đều quan tâm GDĐĐTT nói chung, giáo dục truyền thống hiếu

học và tôn sư trọng đạo nói riêng.

Việc giáo dục TTHH và TSTĐ phải được tiến hành ngay từ những lớp

nhỏ nhất và càng đặc biệt quan trọng hơn với học sinh THPT - lứa tuổi đang

có những biến đổi mạnh mẽ và sâu sắc cả về thể chất và tâm lý, lứa tuổi. Ở

lứa tuổi này, dưới áp lực của xã hội, học sinh buộc phải học, nhưng nhu cầu

ham học, ham hiểu biết của các em còn chưa tự giác, chưa ý thức được đầy

đủ. Điều đó cho thấy sự cần thiết phải giáo dục TTHH và TSTĐ để học sinh

tự giác học tập và trở thành những con người có ích.

Chỉ thị 50CT/TW ngày 24/08/1999 của Bộ chính trị Ban chấp hành

Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời đã khuyến khích hoạt động

khuyến học, việc giữ gìn, phát huy TTHH và TSTĐ ngày càng được đẩy

mạnh. Công tác GDĐĐTT cho học sinh THPT cũng được các trường THPT ở

huyện Từ Liêm đặc biệt quan tâm.

Để tìm hiểu thực trạng mức độ nhận thức của các đối tượng về ý nghĩa,

tầm quan trọng của GDĐĐTT đặc biệt là truyền thống TSTĐ và TTHH trong

nhà trường, chúng tôi nêu câu hỏi 1 và 2 trong cả 3 mẫu phiếu trưng cầu ý

kiến dành cho giáo viên, phụ huynh và học sinh.

Nhận thức về ý nghĩa và tầm quan trọng của GDĐĐTT, kết quả thu

được qua bảng 2.4 và biểu đồ 1.1 theo tỉ lệ % như sau:

Bảng 2.4: Nhận thức về tầm quan trọng của GDĐĐTT

cho học sinh THPT

MỨC ĐỘ



TT



NHẬN THỨC



Không



Không



Quan



Rất quan



đánh giá



quan trọng



trọng



trọng



ĐỐI TƯỢNG



1



CBQL – GV



0



0



6,82



93,18



2



Học sinh



0



0



16,67



83,33



3



Phụ huynh



0



0



12,5



87,5



34



Qua điều tra ở bảng 2.4 và thể hiện trên biểu đồ 2.1:

- 93,18% CBQL - GV cho rằng GDĐĐTT cho học sinh THPT là rất

quan trọng, 6,82% cho rằng quan trọng.

- 83,33% học sinh cho rằng GDĐĐTT cho học sinh THPT là rất quan

trọng, 16,67% cho rằng quan trọng.

- 87,5% phụ huynh cho rằng GDĐĐTT cho học sinh THPT là rất quan

trọng, 12,5% cho rằng quan trọng.

Như vậy 100% CBQL – GV, học sinh và phụ huynh huyện Từ Liêm

đều nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc GDĐĐTT với hai nội dung

giáo dục truyền thống TSTĐ và TTHH cho học sinh THPT.

Biểu đồ 2.1 : Nhận thức về tầm quan trọng của GDĐĐTT

cho học sinh THPT



Đánh giá của CBQL – GV, học sinh và phụ huynh về nhận thức của học

sinh về tầm quan trọng của GDĐĐTT, kết quả thu được qua bảng thống kê

theo tỉ lệ % như sau:



35



Bảng 2.5: Đánh giá mức độ nhận thức của học sinh về tầm quan

trọng của GDĐĐTT cho học sinh THPT

TT

1

2

3

4

5



ĐỐI TƢỢNG



CBQL - GV



HỌC SINH



PHỤ HUYNH



0,86



3,3



3,3



15,6



15,0



15,0



32,6



30,0



14,2



45,24



49,2



60,0



5,7



2,5



7,5



ĐÁNH GIÁ



Chỉ có một số rất ít học sinh

nhận thức Tốt ( dưới 20% )

Có một số ít học sinh nhận

thức Tốt ( 20 – 40% )

Có một nửa học sinh nhận thức

Tốt ( 50% )

Có khá đông học sinh nhận

thức Tốt ( 60 – 80% )

Rất đông học sinh nhận thức

Tốt ( trên 80% )



Biểu đồ 2.2: Đánh giá mức độ nhận thức của học sinh về tầm quan trọng

của GDĐĐTT cho học sinh THPT



Qua số liệu thể hiện trong bảng 2.5 và biểu đồ 2.2:

- Cán bộ quản lý và giáo viên: 45,24% ý kiến cho rằng 60 – 80% học

sinh có nhận thức Tốt về tầm quan trọng của GDĐĐTT, 5,7% ý kiến cho

rằng trên 80% học sinh có nhận thức Tốt về tầm quan trọng của

GDĐĐTT. Như vậy, tổng tỉ lệ này là 50,94%, đây là tỉ lệ tương đối cao.



36



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (104 trang)

×