1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.58 MB, 126 trang )


Hoạt động quản lý không thể không nhắc đến tƣ tƣởng sâu sắc của Các

Mác “Một nhạc sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc

trƣởng” [13, tr.23]. Nhƣ vậy quản lý là điều khiển, là chỉ huy, là tổ chức, là hƣớng

dẫn, là phối hợp quá trình hoạt động của con ngƣời trong các tổ chức xã hội.

Ở nƣớc ta khái niệm quản lý cũng đã đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu:

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “ Quản lý là sự tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể những ngƣời quản lý đến tập thể những ngƣời lao động

(khách thể quản lý) nhằm thực hiện đƣợc những mục tiêu dự kiến [23, tr.12].

Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc. “ Hoạt động quản lý

là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý)

đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý” trong một tổ chức nhằm làm cho tổ

chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức‟ [28].

Theo Đặng Quốc Bảo Quản lý là bức tranh tứ bình bao gồm có Mục

tiêu quản lý, nội dung quản lý và động lực quản lý và giá trị quản lý....

Tuy cách diễn đạt có khác nhau nhƣng các tác giả đều thống nhất quan điểm:

Quản lý là một quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý

nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất.

Trong hoạt động quản lý có hai hệ thống khăng khít với nhau, đó là chủ thể quản

lý và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm ngƣời có

chức năng quản lý hay điều khiển tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục

tiêu. Khách thể quản lý bao gồm những ngƣời thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự

tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung.

- Các chức năng cơ bản của quản lý:

+ Lập kế hoạch;

+ Tổ chức;

+ Chỉ đạo, lãnh đạo, điều khiển;

+ Kiểm tra.

- Phƣơng pháp quản lý:



7



+ Các phƣơng pháp hành chính tổ chức;

+ Các phƣơng pháp giáo dục;

+ Các phƣơng pháp tâm lý – xã hội;

+ Các phƣơng pháp kinh tế.

- Vai trò của quản lý: Vai trò của quản lý giáo dục đƣợc thể hiện thông qua

các chức năng cơ bản của quản lý, cụ thể đƣợc thể hiện thông qua quá trình từ

việc thiết kế, lập kế hoạch, triển khai và đánh giá chƣơng trình đào tạo [16]

Nhƣ vậy khái niệm quản lý có thể khái quát nhƣ sau; Quản lý là sự tác

động một cách liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý tới đối

tƣợng quản lý để chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt

động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu, các

cấp sao cho phù hợp với quy luật để đạt đến mục tiêu đã xác định.

1.1.2. Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.1.2.1. Quản lý giáo dục

Giáo dục là một hiện tƣợng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền

đạt và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội - lịch sử của các thế hệ loài ngƣời có sự kế

thừa, bổ sung và phát triển sáng tạo, tinh hoa nhân loại và văn hóa dân tộc.

Nói cách khác giáo dục là quá trình truyền đạt, tiếp thu và lĩnh hội những kinh

nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loại ngƣời, là quá trình tác động của xã

hội và của nhà giáo dục đến đối tƣợng giáo dục để hình thành cho họ những

phẩm chất nhân cách.

Giáo dục và quản lý giáo dục là tồn tại song hành. để đạt đƣợc mục

đích của giáo dục, quản lý đƣợc coi là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi

cơ chế, mục đích cũng nhƣ vấn đề giáo dục.

Quản lý giáo dục đã đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều góc độ khác nhau, có

thể kể đến một số khái niệm sau :

Trong cuốn Những khái niệm về quản lý giáo dục‟ của Nguyễn Ngọc

Quang „„Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế



8



hoạch phù hợp với những quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ

thống vận hành theo đƣờng lối và nguyên lý giáo dục của đảng, thực hiện

đƣợc các tính chất nhà của nhà trƣờng xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu

điểm hội tụ là quá trình dạy học. Giáo dục thế hệ trẻ đƣa giáo dục đến mục

tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất‟‟ [23, tr.12]

- Theo Đặng Quốc Bảo "Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hành

động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào

tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội [10, tr.31].

Nói chung, QLGD đƣợc hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến

khách thể quản lý trong lĩnh vực hoạt động, công tác giáo dục. Nói một cách

đầy đủ hơn, Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế

hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều

hành hệ thống giáo dục quốc dân, các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu

nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài. Quản lý giáo dục là

hoạt động điều hành, phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác

giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội.

Mục tiêu quản lý giáo dục: Mục tiêu quản lý giáo dục chính là trạng

thái mong muốn trong tƣơng lai đối với hệ thống giáo dục, đối với trƣờng

học, hoặc đối với những thông số chủ yếu của hệ thống giáo dục trong mỗi

nhà trƣờng. Những thông số này đƣợc xác định trên cơ sở đáp ứng những mục

tiêu tổng thể của sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển

kinh tế của đất nƣớc.

Đối tƣợng của quản lý giáo dục: Là hoạt động của cán bộ, giáo viên,

học sinh, sinh viên và tổ chức sƣ phạm của nhà trƣờng trong việc thực hiện kế

hoạch và chƣơng trình giáo dục - đào tạo nhằm đạt đƣợc mục tiêu giáo dục đã

qui định với chất lƣợng cao.

1.1.2.2. Quản lý nhà trường



9



Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa nhà trƣờng là cơ sở để tiến hành

dạy học và các hoạt động giáo dục khác nhằm thực hiện nhiệm vụ và mục tiêu

đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà trƣờng đƣợc thành lập theo quy

hoạch, kế hoạch của nhà nƣớc với các loại hình công lập, bán công, dân lập, tƣ

thục. Nhà trƣờng chịu sự quản lý nhà nƣớc của các cơ quan quản lý giáo dục

theo sự phân công, phân cấp của chính phủ.

Luật giáo dục đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

thông qua ngày 14/6/2005 nêu rõ: "Nhà trƣờng trong hệ thống giáo dục quốc

dân thuộc mọi loại hình đều đƣợc thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà

nƣớc nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục. Nhà nƣớc tạo điều kiện để nhà

trƣờng công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nhà

trƣờng trong hệ thống giáo dục quốc dân đƣợc tổ chức theo các loại hình sau:

a) Trƣờng công lập do Nhà nƣớc thành lập, đầu tƣ xây dựng cơ sở vật

chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thƣờng xuyên;

b) Trƣờng dân lập do cộng đồng dân cƣ ở cơ sở thành lập, đầu tƣ xây

dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động;

c) Trƣờng tƣ thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,

tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tƣ xây dựng cơ sở vật chất và bảo

đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nƣớc”.

Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo, Nhà trƣờng theo quan điểm giáo dục

học và quản lý giáo dục nhƣ sau: [10, tr.133].

* Mô hình cấu trúc của Nhà trƣờng

a. Nhóm các nhân tố cơ bản

M - Mục tiêu đào tạo: Mục tiêu đào tạo chịu sự quy định của Mục tiêu

phát triển kinh tế - xã hội.

N- Nội dung đào tạo: Nội dung đào tạo đƣợc xác định từ Mục tiêu đào

tạo và thành quả của khoa học kỹ thuật, văn hoá.



10



P- Phƣơng pháp đào tạo: Phƣơng pháp đào tạo đƣợc hình thành từ

thành quả của khoa học giáo dục và quy định bởi mục tiêu giáo dục, nội dung

giáo dục.

M



Th



L



3T



H

E

N



T

r



H



QI



M

O

B

O



P



Đ

Sơ đồ 1.1. Mô hình cấu trúc của Nhà trƣờng

b. Nhóm các nhân tố động lực

Th - Lực lƣợng đào tạo - Đội ngũ thầy cô giáo trong môid quan hệ lao

động xã hội của đất nƣớc và cộng đồng

Tr - Đối tƣợng đào tạo: Ngƣời học trong mối liên hệ với dân số học

đƣờng (các độ tuổi tƣơng ứng với cấp học, bậc học)

Đ - Điều kiện đào tạo: bao gồm các điều kiện về tài lực, vật lực, nhân

lực (ngoài đội ngũ giảng dạy)…

c. Nhóm các nhân tố gắn kết

H - Hình thức đào tạo

MO - Môi trƣờng đào tạo: bao gồm môi trƣờng tự nhiên và môi trƣờng

xã hội.

BO - Bộ máy tổ chức đào tạo



11



QI - Qui chế đào tạo

HE - Hệ thống tạo ra các mối cân bằng động

L - Kỹ năng quản lý của ngƣời lãnh đạo.

d. Nhân tố phát năng

3T: Yếu tố quản lý với 3 nhân tố Tiền - Tài - Tâm

* Mối liên hệ trong cấu trúc một Nhà trƣờng

Tam giác MNP là mối liên hệ biện chứng với nhau giữa các đỉnh và trong

giáo mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phƣơng pháp đào tạo đƣợc thể hiện ở

chƣơng trình đào tạo cộng với hệ thống sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng…

MNP là vô hình nhƣng đƣợc hiện hữu và thể hiện trong thực tế đào tạo ở

ThTrĐ. Đó là Lực lƣợng đào tạo (thầy cô giáo), Đối tƣợng đào tạo, và điều kiện

đào tạo. Tất nhiên, tam giác ThTrĐ là hiện hữu cho nên cân đo đong đếm đƣợc.

Và để tích hợp đƣợc MNP và ThTrĐ thì cần nhờ 6 nhân tố gắn kết: H Hình thức đào tạo; MO - Môi trƣờng đào tạo; BO - Bộ máy tổ chức đào tạo;

QI - Qui trình đào tạo; HE - Hệ thống tạo ra các mối cân bằng động. Các nhân

tố này gắn kết các nhân tố cơ bản và các nhân tố động lực, tạo nên khối cấu

trúc Nhà trƣờng.

Nhân tố làm cho toàn bộ cấu trúc Nhà trƣờng vận động tạo ra sự phát

triển toàn vẹn quá trình đào tạo là nhân tố quản lý với 3 tố chất quan trọng là

Tiền - Tài - Tâm.

Năm 1988 Caldwell và Spinks khởi xƣớng xây dựng khái niệm nhà

trƣờng tự quản lý. Đến năm 1989 Beare và các tác giả khác luận chứng rằng

quản lý hiệu nghiệm đi theo một quá trình hiển thị cụ thể nhƣ sau:

1. Xác định các nhu cầu về các hoạt động phát triển liên quan đến quản

lý nguồn lực một cách hiệu nghiệm.

2. Nghiên cúu thực tiễn tốt đã đƣợc nhận biết.

3. Phát triển một mô hình khi tổng hợp thực tiễn nói trên.

4. Ứng dụng, nhân rộng mô hình



12



5. Thu thập thông tin phản hồi, đánh giá và phân tích so sánh.

6. Xem xét lại và mở rộng mô hình

Nhƣ vậy, Quản lý Nhà trƣờng bao gồm tất cả các tác động của chủ thể

quản lý đến các hoạt động trong cấu trúc của Nhà trƣờng, nhằm vận hành hệ

thống tổ chức Nhà trƣờng đạt tới các mục tiêu của chính Nhà trƣờng đề ra và

các mục tiêu của Nhà nƣớc và xã hội đòi hòi.

1.1.3. Chương trình đào tạo

Theo K.frey, chƣơng trình giáo dục đƣợc định nghĩa nhƣ sau: „„Chƣơng

trình giáo dục là sự trình bày, diễn tả có hệ thống việc dạy - học đƣợc dự kiến

trong một khoảng thời gian xác địnhb mà sản phẩm của sự trình bày đó là một

hệ thống xác định các thành tố khác nhau nhằm chuẩn bị, thực hiện và đánh

giá một cách tối ƣu việc dạy học‟‟. Đây là định nghĩa đƣợc nhiều nhà nghiên

cứu và thực hành quan tâm [16, tr.16]

Ngày nay, chƣơng trình giáo dục đƣợc xem nhƣ là tập hợp các mục tiêu

và giá trị có thể đƣợc hình thành ở ngƣời học thông qua các hoạt động đƣợc

kế hoạch hoá và tổ chức trong nhà trƣờng, gắn liền với đời sống xã hội. Mức

độ đạt các mục tiêu ấy là thể hiện tính hiệu quả của một chƣơng trình giáo

dục. Mục đích của việc thiết kế một chƣơng trình giáo dục phục thuộc vào đối

tƣợng ngƣời học của chƣơng trình giáo dục và của chƣơng trình giáo dục đó.

Và quan niệm về chƣơng trình giáo dục đã rộng hơn, đó không chỉ là việc

trình bày mục tiêu cuối cùng và bảng danh mục các nội dung giảng dạy.

Chƣơng trình cần cụ thể hơn, bao quát hơn, vừa là một phức hợp bao gồm các

bộ phận cấu thành:

- Mục tiêu đào tạo

- Phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung học tập

- Các phƣơng pháp, hình thức tổ chức học tập

- Đánh giá kết quả học tập.



13



Nhƣ vậy, cấu trúc của chƣơng trình bao gồm hai thành phần chính: sự

hình dung trƣớc những thành tích mà ngƣời học sẽ đạt đƣợc sau một thời gian

học tập và cách thức, phƣơng tiện, con đƣờng, điều kiện để mong muốn đó trở

thành hiện thực.

Có thể khái quát bằng định nghĩa sau:

Chƣơng trình giáo dục là sự trình bày có hệ thống một kế hoạch tổng

thể các hoạt động giáo dục trong một thời gian xác định, trong đó nêu lên các

mục tiêu học tập mà ngƣời học cần đạt đƣợc, đồng thời xác định rõ phạm vi,

mức độ nội dung học tập, cách đánh giá kết quả học tập, phƣơng pháp, cách

thức tổ chức học tập, cách đánh giá kết quả học tập...nhằm đạt đƣợc các mục

tiêu học tập đề ra. (16, tr.16).

Nhƣ vậy, những thành phần cơ bản của một chƣơng trình giáo dục là:

- Nhu cầu đào tạo

- Mục đích, mục tiêu đào tạo

- Nội dung đào tạo

- Phƣơng thức đào tạo

- Các hình thức tổ chức hoạt động đào tạo

- Các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo [16, tr.15]

Theo từ điển Giáo dục học - NXB Từ điển bách khoa 2001, khái niệm

chƣơng trình đào tạo đƣợc hiểu là: "Văn bản chính thức quy định mục đích,

mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ

môn, kế hoạch lên lớp và thực tập từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa

lý thuyết và thực hành, quy định phƣơng thức, phƣơng pháp, phƣơng tiện, cơ

sở vật chất, chứng chỉ và văn bằng tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo ".

Theo Tyler (1949) chỉ ra rằng: "Chƣơng trình đào tạo về cấu trúc phải

có bốn phần cơ bản"

(1). Mục tiêu đào tạo

(2). Nội dung đào tạo



14



(3). Phƣơng pháp hay quy trình đào tạo

(4). Cách đánh giá kết quả đào tạo

Theo Wentling (1993) cho rằng: "Chƣơng trình đào tạo là một bản thiết kế

tổng thể cho một hoạt động đào tạo. Bản thiết kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội

dung cần đào tạo, chỉ rõ ra những gì có thể trông đợi ở ngƣời học sau khoá học,

nó phác hoạ ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo, nó cũng cho

biết các phƣơng pháp đào tạo và cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập, và

tất cả những cái đó đƣợc sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ" [21, tr.200]

Qua các định nghĩa trên, ta có thể thấy chƣơng trình đào tạo là tài liệu

quan trọng nhất trong mọi quy trình đào tạo ở mọi cấp học, bậc học, vì vậy muốn

hoàn thành tốt một chƣơng trình đào tạo cần phải có sự quản lý sao cho trong

qua strình triển khai nó luôn đi đúng theo mong muốn của ngƣời thiết kế.

Trên cơ sở chƣơng trình giáo dục chung (chƣơng trình khung) đƣợc quy

định bởi các cơ quản lý giáo dục, các tổ chức xây dựng các chƣơng trình chi

tiết hay còn gọi là chƣơng trình đào tạo. Chƣơng trình đào tạo là bản thiết kế

chi tiết quá trình giảng dạy, trong một khoá đào tạo, nó phản ánh cụ thể mục

tiêu nội dung, cấu trúc, trình tự, cách thức tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh

giá các hoạt động giảng dạy cho từng khoá đào tạo và từng môn học, phần học,

chƣơng, mục và bài giảng. Chƣơng trình đào tạo do các cơ sở đào tạo xây dựng

trên cơ sở chƣơng trình đào tạo các cấp có thẩm quyền phê duyệt.

1.1.4. Phát triển

Phát triển là khái niệm dùng để khái quát những vận động theo chiều

hƣớng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện

đến hoàn thiện hơn. Cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế

cái lạc hậu.

“Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lƣợng dẫn

đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đƣờng xoáy ốc...” “Đó là quá

trình giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản thân sự vật, do đó cũng là quá



15



trình tự thân của mọi sự vật”. “Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự

vật, hiện tƣợng tồn tại trong hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng

định, sự phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động

tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến

hoàn thiện hơn của sự vật”. Nhƣ vậy, sự phát triển, trong đó sự vật mới ra đời

thay thế sự vật cũ, là hiện tƣợng diễn ra không ngừng trong tự nhiên, trong xã

hội, trong bản thân con ngƣời, trong tƣ duy. Nếu xem xét từng trƣờng hợp cá

biệt thì có những vận động đi lên, vận động tuần hoàn, thậm chí vận động đi

xuống. Song nếu xem xét cả quá trình vận động với không gian rộng và thời

gian dài thì vận động đi lên là khuynh hƣớng chung của mọi sự vật.

Nhƣ vậy để phát triển quản lý giáo dục nói chung và phát triển chƣơng

trình đào tạo nói riêng đều phải thực hiện trên nguyên lý của sự phát triển.

1.1.5. Phát triển chương trình đào tạo

Phát triển chƣơng trình đào tạo gồm có 4 hoạt động chính sau:

- Xác định ngƣời học cần những kiến thức, kỹ năng, thái độ gì.

- Xác định hình thức học tập phù hợp với các điều kiện hỗ trợ việc học tập.

- Tiến hành việc dạy - học và đánh giá việc học tập.

- Chỉnh sửa chƣơng trình đào tạo thƣờng xuyên sao cho phù hợp với

nhu cầu của ngƣời học.

Từ năm 2008 Bộ Giáo dục & Đào tạo có chỉ thị các cơ sở đào tạo phải

đào tạo theo nhu cầu xã hội, các trƣờng phải xây dựng và công bố chuẩn đầu

ra, đây là những động thái, hành động để các cơ sở đào tạo xem xét, xây dựng

và phát triển chƣơng trình đào tạo cho phù hợp với tình hình thực tế của xã hội.

Phát triển chƣơng trình đào tạo là một quá trình liên tục nhằm hoàn

thiện không ngừng chƣơng trình đào tạo. Theo quan điểm này, chƣơng trình

đào tạo là một thực thể không phải đƣợc thiết kế một lần và dùng cho mãi

mãi, mà đƣợc phát triển, bổ sung, hoàn thiện tuỳ theo sự thay đổi của trình độ

phát triển kinh tế- xã hội của thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ, và



16



cũng là yêu cầu của thị trƣờng sử dụng lao động. Nói cách khác, một khi mục

tiêu của nền giáo dục quốc dân thay đổi để đáp ứng nhu cầu xã hội, thì

chƣơng trình đào tạo cũng phải thay đổi theo, mà đây là quá trình diễn ra liên

tục nên chƣơng trình cũng phải không ngừng phát triển và hoàn thiện, gồm 3

giai đoạn cơ bản:

Giai đoạn 1. Thiết kế CTĐT

- Những nguyên tắc và thủ tục đƣợc tiến hành để tạo ra một CTĐT

trƣớc khi áp dụng.

- Những hoạt động lập kế hoạch xây dựng một khoá đào tạo hoặc một CTĐT.

Giai đoạn 2. Thực hiện CTĐT

- Kế hoạch CTĐT gồm những kiểu khác nhau với hƣớng dẫn về nguồn,

phƣơng tiện, tổ chức nhằm khuyến khích sự năng động và sáng tạo của sinh

viên và giáo viên.

Giai đoạn 3. Đánh giá CTĐT

- Những quyết định đánh giá do giáo viên thực hiện để xác định tiến bộ

của sinh viên.

- Những quyết định đƣợc làm bởi một nhóm lập kế hoạch nhằm đánh giá

kế hoạch chƣơng trình đào tạo. Số liệu đánh giá là cơ sở cho các quyết định kế

hoạch tiếp theo.

Nhóm các tác giả dịch thuật sƣu tầm và biên dịch tài liệu có nhan đề

“Hƣớng dẫn Dạy và Học trong Giáo dục đại học” từ nguyên bản tiếng Anh có

tiêu đề “Guide to Teaching and Learning in Higher Education” của các tác

giả: Pai Obanya, Juma Shabani, Peter Okebukola với sự giúp đỡ của Văn

phòng UNESCO vùng của Châu Phi, do TS. Hoàng Ngọc Vinh - Bộ GD&ĐT

chịu trách nhiệm biên tập và hiệu đính chung có đoạn về Hội nghị Dakar đƣa

ra một loạt đề nghị hƣớng các cơ sở giáo dục đại học những hành động cụ thể

vào những nội dung sau:



17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (126 trang)

×