1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Thạc sĩ - Cao học >

Dùng trong bản đồ địa chính nhằm thể hiện, giải thích về phân loại đối tượng, về đặc trưng số lượng, chất lượng của chúng. Ghi chú này được viết tắt, giản lược ngắn gọn.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.69 MB, 88 trang )


52



liệu bản đồ được sử dụng trong nhiều ngành kinh tế như giao thông, thủy lợi, xây

dựng, quy hoạch hay an ninh quốc phòng,... Việc quản lý đòi hỏi phải luôn đảm

bảo tính bảo mật cũng như tính khách quan theo thời gian, bản đồ được dùng làm

cơ sở để quản lý cũng như chỉnh lý biến động, đo đạc bổ sung khi cần thiết nhằm

đáp ứng nhu cầu chung trong xã hội.

• Sự phát triển kinh tế xã hội

Sự phát triển chung của xã hội cùng với đô thị hóa ngày càng tăng ở vùng

nông thôn ngoại thành được quy hoạch thành những khu đô thị mới, khu công

nghiệp, những ngôi nhà cấp 4 được thay thế bằng những nhà cao tầng, đường đất

thành đường nhựa,... Theo thời gian các địa hình địa vật trên bản đồ thay đổi thì

tài liệu đo đạc lưu trữ được làm cơ sở để nhà quản lý hoạch định đánh giá những

tác động của xã hội.

• Sự phát triển công nghệ khoa học

Công nghệ thông tin, tin học là thành phần không thể thiếu trong các khâu

biên tập, quản lý và lưu trữ bản đồ, có nhiều phần mềm được sử dụng, mỗi phần

mềm đều có thế mạnh riêng của các khâu trong ứng dụng nhằm đáp ứng trợ giúp

hiệu quả cho công việc.

• Ưu việt của ứng dụng

Trong hệ thống thông tin địa lý thì công tác quản lý số liệu được tối ưu hóa

và tiện dụng cho nhiều người sử dụng, dữ liệu được chuẩn hóa thành cơ sở dữ

liệu giúp cho người sử dụng khai thác được tính ưu việt và hạn chế được nhược

điểm của những phần mềm thông thường khác đang tồn tại.

2.3.Cơ sở dữ liệu

2.3.1. Khái niệm cơ sở dữ liệu

Cơ sở dữ liệu là một tập hợp thông tin có cấu trúc chặt chẽ, được điều

hành thuận lợi trong công nghệ thông tin. Dữ liệu này được duy trì dưới dạng



53



một tập hợp các tập tin trong hệ điều hành hay được lưu trữ trong các hệ quản trị

cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên, thuật ngữ này thường dùng trong công nghệ thông tin

và nó thường được hiểu rõ hơn dưới dạng một tập hợp liên kết các dữ liệu,

thường đủ lớn để lưu trên một thiết bị lưu trữ như đĩa hay băng.

Trong GIS, CSDL có thể hiểu là một tập hợp các dữ liệu ở dạng vector,

raster, bản số liệu, văn bản, hình ảnh... được lưu giữ theo khuôn dạng nhất định,

có cấu trúc chuẩn sao cho các phần mềm máy tính có thể đọc, xử lý phân tích các

bài toán chuyên đề có mức độ phức tạp khác nhau.

2.3.2. Các đặc tính cơ bản của CSDL

- Cơ sở dữ liệu là tài nguyên thông tin dùng chung cho nhiều người: Cơ sở

dữ liệu là tài nguyên thông tin chung cho nhiều người cùng sử dụng. Bất kỳ

người sử dụng nào trên mạng máy tính, tại các thiết bị đầu cuối, về nguyên tắc

có quyền truy nhập khai thác toàn bộ hay một phần dữ liệu theo chế độ trực

tuyến hay tương tác mà không phụ thuộc vào vị trí địa lý của người sử dụng với

các tài nguyên đó.

- Cơ sở dữ liệu được các hệ ứng dụng khai thác bằng ngôn ngữ dữ liệu

hoặc bằng các chương trình ứng dụng để xử lý, tìm kiếm, tra cứu, sửa đổi, bổ

sung hay loại bỏ dữ liệu. Hệ quản trị CSDL (DataBase Management System) là

phần mềm điều khiển các chiến lược truy nhập CSDL. Khi người sử dụng đưa ra

yêu cầu truy nhập bằng một ngôn ngữ con dữ liệu nào đó, hệ quản trị CSDL tiếp

nhận và thực hiện các thao tác trên CSDL lưu trữ. Tìm kiếm và tra cứu thông tin

là một trong những chức năng quan trọng và phổ biến nhất của các dịch vụ cơ sở

dữ liệu.

- Đối tượng của CSDL là các thực thể và mối quan hệ giữa các thực thể.

Thực thể và mối quan hệ giữa các thực thể là hai đối tượng khác nhau về căn

bản. Mối quan hệ giữa các thực thể cũng là một loại thực thể đặc biệt. Trong



54



cách tiếp cận CSDL quan hệ, người ta dựa trên cơ sở lý thuyết đại số quan hệ để

xây dựng các quan hệ chuẩn, khi kết nối không tổn thất thông tin và khi biểu

diễn dữ liệu là duy nhất. Dữ liệu được lưu trữ trong bộ nhớ của máy tính không

những phải tính đến yếu tố về tối ưu không gian lưu trữ, mà phải đảm bào tính

khác quan, trung thực của dữ liệu hiện thực. Nghĩa là phải đảm bảo tính nhất

quan của dữ liệu và giữ được sự toàn vẹn của dữ liệu.

2.3.3 Những ưu điểm của CSDL

- Giảm bớt dư thừa dữ liệu trong lưu trữ: Trong các ứng dụng lập trình

truyền thống, phương pháp tổ chức lưu trữ dữ liệu vừa tốn kém, lãng phí bộ nhớ

và các thiết bị lưu trữ, vừa dư thừa thông tin lưu trữ. Nhiều chương trình ứng

dụng khác nhau cùng xử lý trên các dữ liệu như nhau, dẫn đến sự dư thừa đáng

kể về dữ liệu.

- Tổ chức lưu trữ dữ liệu theo lý thuyết CSDL sẽ tránh được sự không

nhất quán trong lưu trữ dữ liệu và bảo đảm được tính toàn vẹn của dữ liệu: Nếu

một thuộc tính được mô tả trong nhiều tệp dữ liệu khác nhau và lặp lại nhiều lần

trong các bản ghi, khi thực hiện việc cập nhật, sửa đổi, bổ sung sẽ không sửa hết

nội dung các mục đó. Nếu dữ liệu càng nhiều thì sự sai sót khi cập nhật, bổ sung

càng lớn. Khả năng xuất hiện mâu thuẫn, không nhất quán thông tin càng nhiều,

dẫn đến không nhất quán dữ liệu trong lưu trữ. Tất yếu kéo theo sự dị thường

thông tin, thừa, thiếu và mâu thuẫn thông tin.

Thông thường, trong một thực thể, giữa các thuộc tính có mối quan hệ

ràng buộc lẫn nhau, tác động ảnh hưởng lẫn nhau. Dữ liệu không tổ chức theo lý

thuyết cơ sở dữ liệu, tất yếu không thể phản ánh thế giới hiện thực dữ liệu, không

phản ánh đúng bản chất vận động của dữ liệu.

Sự không nhất quán dữ liệu trong lưu trữ làm cho dữ liệu mất đi tính toàn

vẹn cuả nó. Tính toàn vẹn dữ liệu đảm bảo cho sự lưu trữ dữ liệu luôn luôn đúng.



55



- Tổ chức lưu trữ dữ liệu theo lý thuyết CSDL có thể triển khai đồng thời

nhiều ứng dụng trên cùng một CSDL: Điều này có nghĩa là các ứng dụng không

chỉ chia sẻ chung tài nguyên dữ liệu mà còn trên cùng một CSDL có thể triển

khai đồng thời nhiều ứng dụng khác nhau tại các thiết bị đầu cuối khác nhau.

- Tổ chức dữ liệu theo lý thuyết cơ sở dữ liệu sẽ thống nhất các tiêu

chuẩn, thủ tục và các biện pháp bảo vệ, an toàn dữ liệu: Các hệ CSDL sẽ được

quản lý tập trung bởi một người hay một nhóm người quản trị CSDL, bằng các

hệ quản trị CSDL. Người quản trị CSDL có thể áp dụng thống nhất các tiêu

chuẩn, quy định, thủ tục chung như quy định thống nhất về biểu mẫu báo cáo,

thời gian bổ sung, cập nhật dữ liệu. Điều này giúp dữ liệu được bảo trì dễ dàng.

Người quản trị CSDL có thể bảo đảm việc truy nhập tới CSDL, có thể kiểm tra,

kiểm soát các quyền truy nhập của người sử dụng. Ngăn chặn các truy nhập trái

phép, sai quy định từ trong ra hoặc từ ngoài vào...

2.3.4. Những vấn đề mà CSDL cần phải giải quyết

- Tính chủ quyền của dữ liệu: Thể hiện ở phương diện an toàn dữ liệu, khả

năng biểu diễn mối liên hệ ngữ nghĩa của dữ liệu và tính chính xác của dữ liệu.

Người khai thác cơ sở dữ liệu phải cập nhật cho CSDL những thông tin mới

nhất.

- Tính bảo mật và quyền khai thác thông tin của người sử dụng: Do ưu

điểm CSDL có thể cho nhiều người khai thác đồng thời, nên cần phải có một cơ

chế bảo mật phân quyền khai thác CSDL. Các hệ điều hành nhiều người sử dụng

hay cục bộ đều cung cấp cơ chế này.

-Tranh chấp dữ liệu: Khi nhiều người cùng truy nhập CSDL với các mục

đích khác nhau. Rất có thể sẽ xảy ra hiện tượng tranh chấp dữ liệu. Cần có cơ

chế ưu tiên khi truy cập CSDL. Ví dụ: admin luôn có thể truy cập cơ sở dữ liệu,

cấp quyền ưu tiên cho từng người khai thác.



56



-Đảm bảo an toàn dữ liệu khi có sự cố: Khi CSDL nhiều và được quản lý

tập trung. Khả năng rủi ro mất dữ liệu rất cao. Các nguyên nhân chính là mất

điện đột ngột hoặc hỏng thiết bị lưu trữ. Hiện tại có một số hệ điều hành đã có cơ

chế tự động sao lưu ổ cứng và fix lỗi khi có sự cố xảy ra. Tuy nhiên, chúng ta

nên sao lưu dự phòng cho dữ liệu đề phòng trường hợp xấu xảy ra.

2.3.5. Cơ sở dữ liệu trong GIS

Một cơ sở dữ liệu của hệ thống thông tin địa lý có thể chia ra làm 2 loại dữ

liệu cơ bản: dữ liệu không gian và phi không gian. Mỗi loại có những đặc điểm

riêng và chúng khác nhau về yêu cầu lưu giữ số liệu, hiệu quả, xử lý và hiển thị.

Dữ liệu không gian là những mô tả số của hình ảnh bản đồ, chúng bao

gồm toạ độ, quy luật và các ký hiệu dùng để xác định một hình ảnh bản đồ cụ thể

trên từng bản đồ. Hệ thống thông tin địa lý dùng các số liệu không gian để tạo ra

một bản đồ hay hình ảnh bản đồ trên màn hình hoặc trên giấy thông qua các thiết

bị ngoại vi.

Dữ liệu phi không gian là những diễn tả đặc tính, số lượng, mối quan hệ

của các hình ảnh bản đồ với vị trí địa lý của chúng. Các dữ liệu phi không gian

được gọi là dữ liệu thuộc tính, chúng liên quan đến vị trí địa lý hoặc các đối

tượng không gian và liên kết chặt chẽ với chúng trong hệ thống thông tin địa lý

thông qua một cơ chế thống nhất chung.

Dữ liệu trong hệ thống thông tin địa lý bao gồm dữ liệu địa lý (dữ liệu

không gian) và dữ liệu thuộc tính (dữ liệu phi không gian).

Dữ liệu địa lý bao gồm các loại:

-



Ảnh vệ tinh, ảnh hàng không;



-



Bản đồ trực ảnh (orthophotomap) ;



-



Bản đồ nền địa hình lập từ ảnh hàng không - vũ trụ ;



-



Bản đồ địa hình lập từ số liệu đo đạc mặt đất;



57

-



Bản đồ địa chính;



-



Bản đồ địa lý tổng hợp từ các loại bản đồ địa hình.

Các loại ảnh và bản đồ nói trên đều ở dạng số và lưu lại dưới dạng vector



hoặc raster hỗn hợp raster - vector. Các dữ liệu địa lý dưới dạng vector được

phân lớp thông tin yêu cầu của việc tổ chức các thông tin. Thông thường người

ta hay phân lớp theo tính chất thông tin: lớp địa hình, lớp thuỷ văn, lớp đường

giao thông, lớp dân cư, lớp thực phủ, lớp địa giới hành chính... Trong nhiều

trường hợp để quản lý sâu hơn, người ta sẽ phân lớp chuyên biệt hơn như trong

lớp thuỷ văn được phân thành các lớp con: các lớp sông lớn, sông nhỏ, lớp biển,

lớp ao hồ, …

Các thông tin ở dạng raster là các thông tin nguồn và các thông tin hỗ trợ,

không gian quản lý như một đối tượng địa lý. Các thông tin ở dạng vector tham

gia trực tiếp quản lý và được định nghĩa như những đối tượng địa lý. Các đối

tượng này thể hiện ở 3 dạng: điểm, đường và vùng hoặc miền. Mỗi đối tượng

đều có thuộc tính hình học riêng như kích thước, miền vị trí. Vấn đề được đặt ra

là tổ chức lưu trữ và hiển thị các thông tin vector như thế nào để thoả mãn các

yêu cầu sau:

-



Thể hiện đầy đủ các thông tin cần thiết;



-



Độ dư và độ thừa nhỏ nhất;



-



Truy cập thông tin nhanh;



-



Cập nhật thông tin dễ dàng và không sai sót (xoá bỏ thông tin không cần thiết, bổ

sung thông tin mới, chỉnh lý các thông tin đã lạc hậu);



-



Thuận lợi cho việc hiển thị thông tin.

Dữ liệu thuộc tính (Attribute): Là các thông tin giải thích cho các hiện

tượng địa lý gắn liền với hiện tượng địa lý. Các thông tin này được lưu trữ dữ

liệu thông thường. Vấn đề đặt ra là là phải tìm mối quan hệ giữa thông tin địa lý



58



và thông tin thuộc tính. Từ thông tin ta có thể tìm ra được các thông tin kia trong

cơ sở dữ liệu.

2.4. Cơ sở dữ liệu (CSDL) địa chính

2.4.1. Một số vấn đề về bản đồ địa chính

Bản đồ địa chính là bản đồ chuyên ngành đất đai - bản đồ về các thửa đất,

trên đó thể hiện chính xác các yếu tố vị trí, ranh giới, diện tích và một số thông

tin địa chính của từng thửa đất, từng vùng đất, và cả các yếu tố địa lý khác có

liên quan đến đất đai. Bản đồ địa chính được thành lập theo đơn vị hành chính cơ

sở xã, phường, thị trấn và thống nhất trong phạm vi cả nước. Bản đồ địa chính

được xây dựng trên cơ sở kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại, đảm bảo

cung cấp thông tin không gian của đất đai, phục vụ công tác quản lý đất đai.

Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản nhất của bộ hồ sơ địa chính, mang tính

pháp lý cao phục vụ quản lý chặt chẽ đất đai đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng

đất. Bản đồ địa chính khác với bản đồ chuyên ngành thông thường ở chỗ bản đồ

địa chính có tỷ lệ lớn và phạm vi đo vẽ là rộng khắp mọi nơi trên toàn quốc. Bản

đồ địa chính thường xuyên được cập nhật các thay đổi hợp pháp của đất đai, có

thể cập nhật hàng ngày hoặc cập nhật theo định kỳ.



-



2.4.2. Cơ sở dữ liệu địa chính

a. Khái niệm CSDL địa chính

Dữ liệu địa chính là dữ liệu bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính.

CSDL địa chính là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ liệu bản đồ địa chính và



-



hồ sơ địa chính.

Dữ liệu không gian địa chính là dữ liệu về vị trí, hình dạng của thửa đất, nhà ở và

tài sản gắn liền với đất; dữ liệu về hệ thống thủy văn, thủy lợi, hệ thống giao

thông; dữ liệu về điểm khống chế; dữ liệu về đường biên giới, địa giới; dữ liệu

về địa danh và các ghi chú thuyết minh về đường địa giới quy hoạch sử dụng đất,

quy hoạch xây dựng, quy hoạch về giao thông và các loại quy hoạch khác; dữ

liệu về chỉ giới hành lang an toàn bảo vệ công trình…



59

-



Dữ liệu về thuộc tính địa chính là những dữ liệu về người sử dụng đất, chủ sử

dụng, chủ sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất; tổ chức cá nhân có liên

quan đến giao dịch đất đai, nhà ở và tài sản gắn liền với đất; dữ liệu tình trạng sử

dụng đất của thửa đất, nhà ở gắn liền với đất; dữ liệu về quyền và nghĩa vụ trong

sử dụng đất và sở hữu nhà, tài sản gắn liền với đất; dữ liệu về giao dịch đất đai,

nhà ở và tài sản gắn liền với đất.

b. Nội dung của CSDL địa chính







Nhóm thông tin về người: Thể hiện nội dung, cấu trúc và kiểu thông tin dữ liệu

thuộc tính về người quản lý đất đai, nhà ở và tài sản gắn liền với đất; người sử

dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; người có liên quan đến

các giao dịch đất đai, nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Ví dụ như: Tên chủ hộ là

gì?







Nhóm thông tin về thửa đất: Thể hiện nội dung, cấu trúc và kiểu thông tin dữ

liệu không gian, dữ liệu thuộc tính của thửa đất. Ví dụ như là hình dáng của thửa

đất, đất trồng loại cây gì …







Nhóm thông tin về tài sản: Thể hiện nội dung, cấu trúc và kiểu thông tin dữ liệu

không gian, dữ liệu thuộc tính của nhà ở và tài sản gắn liền với đất. ví dụ như

nhà xây mấy tầng, nhà gì?...







Nhóm thông tin về quyền: Thể hiện nội dung, cấu trúc và kiểu thông tin dữ liệu

thuộc tính về tình trạng sử dụng của thửa đất, nhà ở và tài sản gắn liền với đất;

hạn chế quyền và nghĩa vụ trong sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền

với đất; giao dịch đất đai, nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Ví dụ như đất có nhà

hay không. Có sử dụng hay bỏ hoang hoặc cho ai thuê?...







Nhóm thông tin về thủy hệ: Thể hiện nội dung, cấu trúc và kiểu thông tin dữ

liệu không gian, dữ liệu thuộc tính và hệ thống thủy văn và hệ thống thủy lợi. Ví

dụ như hệ mảnh đất cạnh sông nào…



60





Nhóm thông tin về giao thông: Thể hiện nội dung, cấu trúc và kiểu thông tin dữ

liệu không gian, dữ liệu thuộc tính về hệ thống đường giao thông. Ví dụ như có

những kiểu đường nào qua mảnh đất…







Nhóm thông tin về biên giới, đại giới: Thể hiện nội dung, cấu trúc và kiểu

thông tin dữ liệu không gian, dữ liệu thuộc tính về mốc và đường biên giới quốc

gia, mốc và đường địa giới hành chính các cấp. Ví dụ như ranh giới thửa đất

được ký hiệu như thế nào?…







Nhóm thông tin về địa danh: Thể hiện nội dung, cấu trúc và kiểu thông tin dữ

liệu không gian, dữ liệu thuộc tính về các loại địa danh. Ví dụ như địa danh đó

tên là gì? Có là di tích hay không?...







Nhóm thông tin về điểm khống chế: Thể hiện nội dung, cấu trúc và kiểu thông

tin dữ liệu không gian, dữ liệu thuốc tíh về điểm khống chế. Ví dụ là tên điểm

khống chế, số hiệu, tọa độ…







Nhóm thông tin về quy hoạch: Thể hiện nôi dung, cấu trúc và kiểu thông tin dữ

liệu không gian, dữ liệu thuộc tính về đường chỉ giới và mốc giới quy hoạch sử

dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch giao thông và các loại quy hoạch

khác, chỉ giới hành lang an toàn bảo vệ công trình.

2.4.3. Chuẩn cơ sở dữ liệu địa chính Việt Nam

Trong nhiều năm qua, công tác quản lý đất đai của các tỉnh đã được đầu tư

rất nhiều cả về thiết bị và công nghệ. Tuy nhiên, trước đây do chưa xây dựng

được một chuẩn thống nhất về dữ liệu địa chính để áp dụng trên toàn quốc nên

các địa phương đã thiết lập và duy trì dữ liệu địa chính không đồng nhất, gây khó

khăn trong việc quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu.

Để có được một hệ thống quản lý đất đai hiện đại thì trước hết phải đáp

ứng được sự phát triển của công nghệ thông tin, thuận tiện trong quản lý, cập

nhật và trao đổi dữ liệu. Muốn vậy các thông tin muốn trao đổi được phải được

chuẩn hóa. Đây là công việc cần thiết khi người dùng muốn tích hợp hệ thống



61



của mình với các nguồn dữ liệu khác nhau, tạo khả năng truy nhập, nhằm phổ

biến rộng rãi, chia sẻ thông tin dữ liệu.

a. Khái niệm về chuẩn thông tin địa lý

Chuẩn thông tin địa lý cơ sở là những khái niệm mang tính chất tiên đề, là

nền tảng định hướng cho quá trình định nghĩa, tạo ra dữ liệu địa lý, quản lý dữ

liệu địa lý, cung cấp các dịch vụ thông tin địa lý.

Trong thực tế sử dụng dữ liệu địa lý đặt ra rất nhiều nhu cầu khác nhau các

nhu cầu này cũng có các đòi hỏi khác nhau. Cho nên cần thiết phải chuẩn hóa

các khái niệm nền tảng cho việc tạo dữ liệu địa lý để thỏa mãn các yêu cầu trên.

Các chuẩn này sẽ chỉ rõ về thông tin địa lý, các phương pháp, các công cụ

và các dịch vụ cho việc quản lý, thu thập, xử lý, phân tích, trình bày và trao đổi

dữ liệu địa lý giữa các đối tượng sử dụng, các hệ thống và các địa điểm khác

nhau.

Theo chuẩn thông tin địa lý quốc tế bao gồm các chuẩn sau:

-



Chuẩn về các kiểu dữ liệu nguyên thủy;

Chuẩn về mô hình dữ liệu không gian;

Chuẩn về mô hình dữ liệu thời gian;

Chuẩn về phương pháp xây dựng lược đồ cơ sở dữ liệu;

Chuẩn về phương pháp phân loại đối tượng địa lý;

Chuẩn về chất lượng dữ liệu địa lý;

Chuẩn về Metadata;

Chuẩn về phương pháp mã hóa dữ liệu địa lý;

Chuẩn về nội dung dữ liệu địa lý.

b. Chuẩn thông tin địa lý cơ sở Quốc gia

Xuất phát từ thực tế, các hệ thống thông tin nói chung và các hệ thống

thông tin địa lý nói riêng luôn có nhu cầu giao tiếp với nhau, nghĩa là các thông

tin sẽ được truyền tải từ hệ thống này sang hệ thống khác, vì vậy yêu cầu đặt ra

là làm thế nào để các hệ thống có thể hiểu được thông tin và cấu trúc thông tin

của nhau? Phương pháp đơn giản và có hiệu quả là các hệ thống phải xây dựng



62



các cấu trúc thông tin của mình theo một tập hợp các quy tắc chung. Mặt khác,

hệ thống cơ sở dữ liệu địa lý nền quốc gia phải được quản lý, vận hành đáp ứng

yêu cầu bảo mật, cập nhật và được chia sẻ trên quy mô lớn.

Từ các yêu cầu thực tế đó, chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia được xây

dựng nhằm đáp ứng các yêu cầu chuẩn hóa cho các hoạt động sau:

- Xây dựng dữ liệu địa lý: Dữ liệu địa lý phải được xây dựng trên cơ sở

một bộ chuẩn thông tin địa lý chung, nhằm đảm bảo toàn bộ dữ liệu địa lý đều

được xây dựng dựa trên các mô hình khái niệm và các quy tắc chung.

- Trao đổi và chia sẻ dữ liệu địa lý: Dữ liệu địa lý được trao đổi và chia sẻ

trên cơ sở mọi dữ liệu địa lý được định nghĩa và xây dựng theo một bộ chuẩn

thông tin địa lý nói chung, được mã hóa theo các chuẩn mở, độc lập nền tảng và

được chia sẻ thông qua các dịch vụ về thông tin địa lý mở.

- Cập nhật dữ liệu địa lý: Các chuẩn thông tin địa lý được thiết kế sao cho

có thể hỗ trợ tối đa cho các hoạt động cập nhật dữ liệu địa lý.

Chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia có vai trò rất quan trọng trong việc

xây dựng hệ thống thông tin địa lý. Nó đưa ra một cách nhìn khoa học, thống

nhất về dữ liệu địa lý, làm rõ cấu trúc và nội dung của dữ liệu địa lý, nâng cao

khả năng ứng dụng của dữ liệu địa lý, nâng cao khả năng cập nhật, trao đổi của

dữ liệu, nâng cao năng lực hiệu quả cũng như lợi ích kinh tế của việc sử dụng,

khai thác thông tin địa lý.

Các nội dung của Quy định áp dụng chuẩn thông tin địa lý cơ sở quốc gia

được ban hành kèm theo Quyết định số 06/2007/QĐ-BTNMT ngày 27 tháng 02

năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. Theo đó, chuẩn thông

tin địa lý cơ sở quốc gia là chuẩn bắt buộc áp dụng thống nhất trong việc xây

dựng hệ thống thông tin địa lý cơ sở quốc gia và các hệ thống thông tin địa lý

chuyên ngành trong phạm vi ngành tài nguyên và môi trường. Đây là cơ sở pháp



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (88 trang)

×