1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.69 MB, 124 trang )


CHƢƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH

TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN HUYỆN NGHĨA HƢNG,

TỈNH NAM ĐỊNH

2.1. Sơ lƣợc về kinh tế, xã hội, giáo dục của huyện Nghĩa Hƣng:

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội:

Nghĩa Hưng là một trong mười đơn vị hành chính của tỉnh Nam Định, cách

thành phố Nam Định 20 km về phía Tây Nam. Nghĩa Hưng có 22 xã và 3 thị trấn,

dân số :17.562.000 người, với nền kinh tế đa dạng. Trong 5 năm qua từ năm 20072012 kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 47,05%. Tốc độ tăng trưởng bình quân

6%/năm. Sản xuất công nghiệp - xây dựng chiếm 20,68%, tốc độ tăng trưởng bình

quân đạt 19%/năm. Hoạt động thương mại - dịch vụ chiếm 32,7%, tốc độ tăng

trưởng bình quân 12,4%năm. Tổng giá trị sản xuất bình quân từ năm 2007-2012 đạt

1.872 tỷ đồng, đạt 12,1%/năm. Thu nhập đầu người năm 2012 đạt 11,5 triệu

đồng/người. Cấp uỷ Đảng, chính quyền, HĐND, UBND huyện Nghĩa Hưng tập

trung mọi nỗ lực để chỉ đạo phát triển kinh tế. Kinh tế của huyện phát triển chưa đều,

chưa vững chắc, chưa theo kịp kỹ thuật công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp và

các ngành lâm, ngư nghiệp … Tỷ lệ hộ nghèo còn cao chiếm  6,5%.

Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân còn nhiều khó khăn cả về đội

ngũ và cơ sở vật chất khám chữa bệnh. Số trạm y tế là 25, số trạm đạt chuẩn là 15/25

= 60%, số bác sỹ là 30. Trẻ em suy dinh dưỡng chiếm 16%.

Số gia đình đạt văn hoá 41.200/54.509 = 76%, số làng văn hoá 146/293 đạt

50%. Hoạt động văn hoá văn nghệ - thể dục thể thao chưa thường xuyên, quản lý các

dịch vụ văn hoá chưa chặt chẽ. Việc xây dựng các thiết chế văn hoá ở cơ sở còn

chậm và thiếu đồng bộ. “Một số tệ nạn xã hội đang thâm nhập vào học đường, môi

trường đang bị ô nhiễm.Sinh hoạt tôn giáo còn vi phạm quy định Pháp lệnh và pháp

luật.” Nghi quyết Đại hội Đảng bộ huyện Nghĩa Hưng lần thứ XXIII [17,tr18].

33



2.1.2. Tình hình giáo dục .

*Thuận lợi:

-Hội đồng nhân dân ,uỷ ban nhân dân ,các ban ngành đoàn thể trong huyện đều quan

tâm đến công tác phát triển Giáo dục-Đào tạo.Nghị quyết Đại hội huyện Nghĩa Hưng

xác định rõ nhiệm vụ,vị trí,vai trò của sự nghiệp Giáo dục –Đào tạo,từ đó tập chung

chỉ đạo,lãnh đạo đầu tư đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục của huyện.

-Nhân dân trong huyện dù cuộc sống còn khó khăn nhưng có truyền thống hiếu

học,tôn sư trọng đạo.

-Công tác chỉ đạo của ngành GD-ĐT có nhiều định hướng đổi mới đúng đắn,đồng

thời tổ chức thực hiện có hiệu quả.

*Khó khăn:

-Số lượng học sinh có chiều hướng giảm dần do có sự phân luồng cấp học và sinh đẻ

có kế hoạch.

-GD-ĐT của huyện còn nhiều sự bất đồng đều giữa các xã và thị trấn.

-Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập của các trung tâm đã

được cấp trên đầu tư song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu giảng dạy,vẫn còn 6

phòng làm việc cấp 4, chưa có phòng đa năng ...Đội ngũ giáo viên phần lớn đã nhiều

tuổi nên việc tiếp cận và sử dụng công nghệ thông tin còn hạn chế...

*Những kết quả đã đạt được:

-GDDT huyện Nghĩa Hưng luôn là đơn vị dẫn đầu tỉnh.Quy mô ngành học phát triển

vững chắc.Chất lượng giáo dục các ngành học ,bậc học tương đối ổn định.

-Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh và trở thành phong trào quần chúng

sâu rộng.

-Có nhiều đổi mới trong công tác quản lý giáo dục :thanh tra,kiểm tra thông tin quản

lý,thi đua..

*Những hạn chế :

-Chất lượng giáo dục nghề nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung còn nhiều bất

cập,chưa đáp ứng yêu cầu mới của thời kỳ CNH-HĐH đất nước.

34



-Chất lượng giáo viên còn thấp so với yêu cầu của giáo dục ,cơ sở vật chất còn hạn

chế.

Tóm lại:Từ năm học 2010-2011 đến nay,GD-ĐT huyện Nghĩa Hưng đã giữ vững thế

ổn định và có bước phát triển vững chắc.Thời gian qua trong hoàn cảnh xã hội có

nhiều biến động phức tạp song GD-ĐT huyện Nghĩa Hưng vẫn đạt được nhiều thành

tựu,được sở GD-ĐT Nam Định đánh giá là đơn vị đứng trong tốp đầu của tỉnh.

2.2. Thực trạng hoạt động giáo dục đạo đức của hai trung tâm GDTX huyện

Nghĩa Hƣng ,tỉnh Nam Định.

2.2.1. Thực trạng kết quả học tập và rèn luyện đạo đức của HS:

Trên cơ sở khảo sát thực trạng, đề tài tổng hợp, đánh giá chất lượng giáo dục đạo

đức và chất lượng quản lý giáo dục đạo đức 2 trung tâm GDTX Nghĩa Hưng từ năm

học: 2010 -2011 đến năm 2012 -2013,đồng thời tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng

tới quản lý giáo dục đạo đức, từ đó làm cơ sở cho việc đề ra các biện pháp ,các giải

pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục đạo đức học sinh.

Bảng 2.1. Quy mô cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh TT GDTX huyện Nghĩa

Hưng

Cán bộ quản lý,

Năm học



Tổng số

trung tâm



Số lớp



giáo viên



Số học

sinh



Tổng



Trình độ đạt



số



chuẩn



2010-2011



2



38



1.553



58



56/58 = 96,5



%



2011-2012



2



31



1.290



60



58/60 = 96,7



%



2012-2013



2



29



1.139



60



58/60 = 96,7



%



(Nguồn: Phòng GDTX - Sở Giáo dục-Đào tạo Nam Định)

35



Bảng 2.2. Bảng xếp loại hạnh kiểm học sinh hệ GDTX huyện Nghĩa Hưng từ

năm học 2010-2011 đến năm học 2012-2013.

Hạnh kiểm

Năm

học



Tổng



Tốt



Khá



Yếu



Tr.bình



số



Số



Tỷ



Số



Tỷ



Số



Tỷ lệ



Số



Tỷ lệ



HS



lượng



lệ



lượng



lệ



lượng



(%)



lượng



(%)



(%)

2010-2011 1553



1079



69,4



(%)

326



21%



147



9%



1



0,6%



223



17,3



94



7,3%



2



0,2



111



9,7



3



0,3



%

2011-2012 1290



973



75,2

%



2012-2013 1139



805



70,6



%

221



19,4



%



%



(Nguồn: Phòng GDTX - Sở Giáo dục-Đào tạo Nam Định).



36



Biểu đồ 2.1.Tỷ lệ % về hạnh kiểm của học sinh hai trung tâm GDTX huyện

Nghĩa Hƣng trong 3 năm gần đây.

Qua số liệu thống kê trong biểu đồ 2.1 ,ta thấy:

Đa số học sinh 2 trung tâm GDTX huyện Nghĩa Hưng có hạnh kiểm tốt và khá.Số

học sinh được đánh giá hạnh kiểm tốt năm học 2010-2011 là 69,4%,đến năm học

2011-2012 thì tăng lên đến 75,2%,nhưng sang đến năm học 2012-2013 thì giảm là

70,6%.Như vậy nhìn chung tỷ lê học sinh được đánh giá hạnh kiểm tốt và khá có

chiều hướng gảm.

Tuy nhiên, trong ba năm học, năm nào cũng có học sinh xếp loại đạo đức trung bình

và yếu.Học sinh có hạnh kiểm trung bình có chiều hướng gia tăng , năm học 20102011 tỷ lệ học sinh xếp hạnh kiểm trung bình là 9%,đến năm học 2012-2013 học

sinh học sinh xếp hạnh kiểm trung bình là 9,7% .Tỷ lệ học sinh xếp loại yếu lại

giảm.Năm học 2010-2011 chiếm 0,6%,đến năm học 2012-2013 còn 0,3%.Tỷ lệ học

sinh yếu về đạo đức tuy chỉ chiếm một bộ phận nhỏ nhưng biểu hiện rất đa dạng và

phức tạp như :sử dụng rượu bia,cờ bạc ,số đề,bỏ học ,trốn tiết,trộm cắp.....Nhìn từ

37



góc độ hoàn cảnh gia đình và nghề nghiệp của cha mẹ học sinh thấy rằng phần lớn

học sinh yếu kém về đạo đức là con em các gia đình làm nghề buôn bán,không có

nhiều thời gian quản lý và giáo dục con em họ,còn một phần là con em gia đình có

kinh tế đầy đủ,nuông chiều con cái và sẵn sàng cho tiền tiêu sài không đúng mục

đích dẫn đến con em họ có ảnh hưởng xấu về nhân cách.

Bảng 2.3. Kết quả giáo dục đạo đức học sinh chậm tiến của hệ GDTX huyện

Nghĩa Hưng.



Năm học



Tổng số

HS



Học sinh chậm tiến



Học sinh tiến bộ sau khi

rèn luyện



Số lượng



Tỷ lệ (%)



Số lượng



Tỷ lệ (%)



2010-2011



1553



109



7,1%



70



64%



2011-2012



1290



99



7,7%



63



63%



2012-2013



1139



98



8,6%



52



53%



Qua bảng số liệu trên cho ta thấy học sinh chậm tiến ở Trung tâm Giáo dục thường

xuyên huyện Nghĩa Hưng hàng năm chiếm từ 7,1 đến 8,6%.Số học sinh chậm tiến

tăng dần. Có nhiều lý do :Thứ nhất là do nhận thức của bản thân học sinh chưa đầy

đủ,ý thức trách nhiệm kém,không chịu rèn luyện bản thân,coi nhẹ phẩm chất đạo

đức,có lối sống không lành mạnh,phát ngôn bừa bãi,thiếu suy nghĩ,thiếu văn

hoá...Trước thực trạng đạo đức của học sinh có những biểu hiện không lành mạnh

,việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức cho học sinh là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa to

lớn cần được chú trọng.Thứ hai là do nhiều gia đình học sinh chưa quan tâm đến vấn

đề giáo dục đạo đức cho con cái,mải mê kiếm tiền,phó mặc cho trung tâm....Số học

sinh tiến bộ về đạo đức sau khi rèn luyện trong hè từ 64% đến 53%.Số học sinh tiến

bộ sau khi rèn luyện đạo đức trong hè do những yếu tố sau:Các hoạt động giáo dục

thể chất,giáo dục đạo đức,kỹ năng sống,lối sống,văn hoá văn nghệ,thể dục thể thao

38



và phòng chống các tệ nạn xã hội...được tổ chức thường xuyên,có hiệu quả,góp phần

quan trọng vào sự tiến bộ trong rèn luyện đạo đức học sinh.Công tác quản lý,chỉ đạo

,kiểm tra, đánh giá sát thực với thực tế,khích lệ ,động viên học sinh tiến bộ.Việc phối

kết hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài trung tâm đã có sự tiến bộ ,

thường xuyên liên kết chặt chẽ để có các biện pháp giáo dục đạo đức học sinh có

hiệu quả.

2.2.2..Thực trạng nhận thức của học sinh về vai trò của giáo dục đạo đức.

Nhận thức và thái độ đạo đức có ảnh hưởng quyết định đến hành vi đạo đức.Để hiểu

được suy nghĩ của các em về vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức,tác giả đã trưng

cầu ý kiến của 185 học sinh của 2 trung tâm GDTX Nghĩa Hưng và đã có kết quả

qua bảng 2.4 dưới đây.

Bảng 2.4.



Ý kiến của học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài trung



tâm về sự cần thiết của giáo dục đạo đức

Học sinh

TT



Vai trò đạo đức



Số



ý



Các lực lượng GD



Tỷ lệ %



kiến



Số



ý



Tỷ lệ %



kiến



1



Rất cần thiết



171



92%



86



95%



2



Cần thiết



30



16%



4



5%



3



Bình thường.



15



8%



0



0%



4



Không cần thiết



0



0



0



0%



39



Biểu đồ 2.2. Ý kiến của học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài trung

tâm về sự cần thiết của giáo dục đạo đức.

Qua bảng thống kế cho thấy đại đa số học sinh đã cho rằng giáo dục đạo đức trong

trung tâm cần thiết chiếm 92%, còn 8% học sinh coi nhẹ vấn đề giáo dục đạo đức.

Điều đó khẳng định quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh là vô cùng cần thiết và

quan trọng.

Với 90 phiếu điều tra các lực lượng giáo dục trong và ngoài Trung tâm có 95% ý

kiến được hỏi cho rằng giáo dục đạo đức cho học sinh là rất cần thiết và 5% là cần

thiết. Như vậy ý kiến của các đối tượng này cao hơn ý kiến của học sinh về sự cần

thiết của giáo dục đạo đức.

2.2.3. Thực trạng về thái độ ,hành vi đạo đức của học sinh.

Bảng 2.5. Những hành vi vi phạm đạo đức của học sinh hai Trung tâm Giáo

dục thường xuyên huyện Nghĩa Hưng.



TT



1



Năm 2010-



Năm 2011-



Năm 2013-



2011



2012



2014



Tỷ lệ (%)



Tỷ lệ (%)



Tỷ lệ (%)



4,7



5,0



4,2



Hành vi vi phạm đạo đức

của học sinh

Bỏ tiết, bỏ học

40



2



Nói chuyện, mất trật tự trong lớp



1,8



2,1



1,5



3



Không học bài, không thuộc bài



6,8



7,2



6,2



4



Hỗn láo với GV, cha mẹ, người



1,1



1,5



1,4



1,9



1,4



1,3



lớn tuổi

5



Đánh nhau trong và ngoài Trung

tâm



6



Gian lận trong kiểm tra, thi cử



0,7



1,2



0,9



7



Nhuộm tóc màu



0,9



0,7



0,2



8



Đua xe máy, lạng lách ngoài



1,7



1,9



1,1



1,2



1,7



1,3



đường

9



Yêu đương, quan hệ không lành

mạnh



10



Có hiện tượng phá thai



0,3



0,4



0,2



11



Xem băng đĩa cấm



0,7



0,8



0,8



12



Hút thuốc lá, uống rượu bia



2,3



2,4



2,4



13



Không tham gia các hoạt động



1,2



1,3



1,0



tập thể

14



Chơi cờ bạc, trộm cắp



1,1



1,2



1,1



15



Phá hoại của công



0,6



0,6



0,6



Tổng hợp



27



29,4



31



Kết quả bảng 2.5. cho ta thấy rằng số học sinh vi phạm đạo đức ngày càng

tăng. Thật đáng lo ngại. Năm học 2010-2011 có 426/1553 chiếm 27% tổng số học

sinh 2 Trung tâm; Năm học 2011-2012 có 404/1290 chiếm 29,4%. Năm học 201241



2013 có 360/1139 chiếm 31%



.Học sinh vi phạm nhiều nhất là không học bài,



không thuộc bài, bỏ tiết, bỏ học, hút thuốc lá, uống rượu bia, gây gổ đánh nhau. Đây

là những học sinh chưa có ý thức học tập,thiếu sự quan tâm của gia đình,học

yếu,ham chơi,hay bị các bạn bè xấu ngoài trung tâm lôi kéo dẫn đến vi phạm nội

quy,quy chế .Hiện nay học sinh có hành vi gây gổ đánh nhau ngày càng nhiều, không

chỉ có học sinh nam mà còn có cả học sinh nữ. Nguyên nhân chủ yếu là tuyển đầu

vào lớp 10 học sinh có ý thức yếu,lực học yếu,không phải thi đầu vào,học sinh hư, cá

biệt vẫn được vào học ở các trung tâm GDTX.Đây là vấn đề khó khăn mà các cán

bộ quản lý cũng như các thầy cô giáo phải dày công tìm ra các biện pháp GDĐĐ nói

riêng và nâng cao chất lượng văn hoá nói chung .Nguyên nhân nữa là do quan hệ

tình bạn, tình yêu không được đáp ứng, bị bạn bè trong và ngoài Trung tâm lôi kéo,

do các luồng văn hoá ảnh hưởng phim, ảnh, thích thể hiện mình là anh hùng, nổi bật

để bạn khác giới phải nể sợ. Chính vì ý nghĩ không đúng mà kéo theo hành vi sai

lầm. Các tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Công đoàn, Ban phụ huynh học sinh,

Tổ tự quản… cần chú ý giáo dục ý thức, hành động cư xử sao cho đúng, giáo dục

tình bạn, giới tính, sức khoẻ sinh sản vị thành niên, giáo dục tình yêu trong sáng để

cùng nhau tiến bộ trong học tập, hạn chế hành vi bạo lực trong và ngoài Trung tâm.

Thực tế cho thấy thời gian học sinh học tập và rèn luyện tu dưỡng đạo đức trong

Trung tâm không xảy ra bạo lực, chỉ khi các em ra khỏi cổng Trung tâm hành động

xấu mới xảy ra. Như vậy không chỉ có Trung tâm, giáo viên có trách nhiệm giáo dục

đạo đức cho các em mà phải toàn xã hội, các lực lượng trong xã hội tham gia, giáo

dục uốn nắn cho các em trở thành những công dân tốt.

2. 2.4. Thực trạng nhận thức của CBQL,GV về tầm quan trọng của GDDĐ.

Bảng 2.6. Ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên về tầm quan trọng của giáo dục

đạo đức.



42



T



Quan niệm



Số ý kiến



Tỉ lệ



Giáo dục đạo đức và dạy văn hoá quan trọng như



55



92%



T

1



nhau

2



Dạy văn hoá quan trọng hơn giáo dục đạo đức



2



3%



3



Giáo dục đạo đức quan trọng hơn dạy văn hoá



3



5%



Biểu đồ : 2.3. Ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên về tầm quan trọng của giáo

dục đạo đức.

Từ kết quả khảo sát này, các nhà quản lý, giáo viên, cán bộ nhân viên thấy rằng dạy

văn hoá và giáo dục đạo đức là quan trọng như nhau, giáo dục đạo đức cung cấp kiến

43



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (124 trang)

×