1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

2 Một số khái niệm cơ bản liên quan vấn đề nghiên cứu.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.69 MB, 124 trang )


nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc

trưởng”.

Theo Henry Fayol (1841-1925) thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của

tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo)

và kiểm tra”. Ông đã khẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan

trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ

của mỗi cá nhân phải là mặt lưới dệt lên mục tiêu của tổ chức”. Ông đã xuất phát từ

nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành năm chức năng cơ

bản “Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp ,kiểm tra” và sau này được kết hợp

thành bốn chức năng cơ bản cuả quản lý: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Ông

đã đưa ra mười bốn nguyên tắc trong quản lý là: Phân công lao động, quyền hạn, kỷ

luật, thống nhất chỉ huy, thống nhất chỉ đạo, quyền lợi cá nhân phải phục tùng quyền

lợi chung, tiền lương xứng đáng, tập trung hoá, sợi dây quyền hạn, trật tự, bình đẳng,

ổn định đội ngũ, sáng kiến và tinh thần đồng đội…

Theo W.Taylor (1856-1915) thì: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn

muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một

cách tốt nhất và rẻ nhất”. Theo W.Taylor có bốn nguyên tắc quản lý khoa học.

1. Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định

phương pháp tốt nhất để hoàn thành.

2. Tuyển chọn người và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng phương

pháp khoa học.

3. Người quản lý phải hợp tác đầy đủ, toàn diện với người bị quản lý để đảm

bảo chắc chắn rằng họ làm theo phương pháp đúng đắn.

4. Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa người quản lý và người bị quản

lý.

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có

chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý



8



(người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được

mục đích của tổ chức’’ [10,tr.1]

Từ quan niệm của các tác giả đã nêu ,chúng ta có thể khái quát lại: “Quản lý là

hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực

và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng để đạt được mục

tiêu đề ra’’.

Các yếu tố của quản lý:

+ Phải có ít nhất một chủ thể quản lý , tác nhân tạo ra các tác động và khách

thể quản lý (ít nhất là một đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ

thể quản lý)

+ Phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục

tiêu này căn cứ để tạo ra các động lực chủ yếu.

+ Phải có hệ thống công cụ quản lý cần thiết ( hệ thống các văn bản về giáo

dục, pháp luật...

+ Tác động của chủ thể quản lý phải phù hợp với khách thể quản lý, phù hợp

với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị hoặc tổ chức. Tác động của chủ thể

có thể là một lần nhưng cũng có thể là nhiều lần.

Bất luận một tổ chức đều có mục đích gì, cơ cấu, quy mô ra sao đều cần phải

có sự quản lý của người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt mục đích của mình.

Lý luận và thực tế cho thấy quản lý không những là một môn khoa học mà

còn là một “Nghệ thuật” đòi hỏi sự vận dụng tinh tế, khôn khéo, để đạt tới mục đích.

Mục tiêu quản lý là định hướng toàn bộ hoạt động quản lý đồng thời là công

cụ để đánh giá kết quả quản lý. Để thực hiện những mục tiêu đó, quản lý phải thực

hiện bốn chức năng: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo,và kiểm tra đánh giá.

- Kế hoạch hoá (Planing): Một tổ chức không có kế hoạch sẽ như một con

thuyền không lái, chỉ chạy vòng quanh. Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu,

mục đích, tương lai của tổ chức, các biện pháp, kế hoạch, cách thức tiến hành để đạt

được mục tiêu đó. Có ba nội dung chính trong kế hoạch hoá là: Xác định mục tiêu,

9



xác định nguồn lực của tổ chức và quyết định xem cần làm gì trước, sau để đạt được

mục tiêu đó.

- Tổ chức (organizing): Là quá trình hình thành nên các cấu trúc quan hệ giữa

các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành

công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.

- Lãnh đạo (Leading): Là chỉ dẫn, liên hệ, liên kết,điều khiển người khác sao

cho họ tự nguyện, nhiệt tình phấn đấu, làm việc để đạt được các mục tiêu của tổ

chức.

- Kiểm tra (Controling): Là một chức năng của quản lý, thông qua đó một cá

nhân, tổ chức theo dõi, giám sát các kết quả công việc để tiến hành sửa chữa, uốn

nắn nếu cần thiết.

1.2.2. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường :

1.2.2.1.Quản lý giáo dục :

Theo tác giả MI.Kondacop: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp kế

hoạch hoá nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo

dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về số lượng và chất lượng

Theo tác giả P.V. Khudominxky: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có

kế hoạch, ý thức,có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả

các khâu của hệ thống ( Từ Bộ giáo dục- đào tạo đến các trường học) nhằm đảm bảo

việc giáo dục Cộng Sản Chủ Nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và

hài hoà của người học trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật về giáo dục, của

sự phát triển thể chất và tâm lý trẻ em” [20, Tr.341]

Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và tác giả Nguyễn Quốc Chí thì: “ Quản lý

giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các

cấp quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống

đạt được mục tiêu cuả nó”. [8,Tr.12]

Quản lý giáo dục theo hướng tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các

lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển

10



xã hội. Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục

không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi lứa tuổi , tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo

dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục

quốc dân, các trường và cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân.[27,Tr.65]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý giáo dục thực chất là tác động có

mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm tạo cho hệ thống vận

hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt, thực hiện được những

tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà cốt lõi là quá trình Dạy-Học,

giáo dục thế hệ trẻ, tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới

[20,tr.341].

Từ những quan điểm trên , ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục: Là quá trình tác

động có tổ chức, hệ thống của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt

động của mỗi cơ sở giáo dục cũng như toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu

xác định. Đó là những tác động phù hợp quy luật khách quan, hướng tới việc thực

hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội.

1.2.2.2. Quản lý nhà trường:

Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, thực hiện các chức năng kiến tạo

các kinh nghiệm xã hội cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó.

. Ngày nay nhà trường được thừa nhận rộng rãi như một thiết chế chuyên biệt của xã

hội để Giáo dục – Đào tạo thế hệ trẻ thành những người có tri thức, sức khoẻ, phẩm

chất chung của hệ thống giáo dục. Giáo dục nhà trường giữ vai trò trọng yếu tạo ra

sức lao động mới cho xã hội đặc biệt là đòi hỏi lượng chất xám trong lao động ngày

càng cao. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó

diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác cuả hai nhân tố Thầy –

Trò.Trường học là một bộ phận cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo

dục quốc dân ,nó là đơn vị cơ sở.”[3,tr.63]

Nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết chế sư phạm đơn

thuần.Công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành “Nhân

11



cách-Sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng cả nguồn vốn con người

(human capital), vốn tổ chức (organizational capital) và vốn xã hội(social capital).

“Nhà trường là vầng trán của cộng đồng” và đến lượt mình “cộng đồng là trái tim

của nhà trường.” [24,tr.210]

Tác giả Phạm Minh Hạc đã đưa ra nội dung khái quát về khái niệm quản lý nhà

trường : “ Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm

vi trách nhiệm của mình,tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo

dục,mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học

sinh.”[20,tr.373]

Quản lý nhà trường chính là những công việc mà người cán bộ quản lý nhà trường

thực hiện những chức năng quản lý thực hiện các nhiệm vụ công tác của mình .Đó

chính là những hoạt động có ý thức,có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý

tác động tới các hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức năng ,nhiệm vụ

mà tiêu điểm là quá trình dạy và học.

Bản chất của công tác quản lý nhà trường là quá trình chỉ huy điều khiển vận động

của các thành tố ,đặc biệt là mối quan hệ giữa các thành tố.Mối quan hệ đó là do quá

trình sư phạm trong nhà trường quy định.

Quản lý nhà trường : Là tổ chức, chỉ đạo và điều hành quá trình giảng dạy của thầy

và hoạt động học tập của trò, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất và

công việc phục vụ cho dạy và học nhằm đạt được mục đích của giáo dục và đào tạo.

Quản lý trực tiếp nhà trường gồm quản lý quá trình dạy học, giáo dục, tài chính,

nhân lực, hành chính và quản lý môi trường giáo dục. Trong đó quản lý dạy họcgiáo dục là trọng tâm[20,tr.373]

Trong tác phẩm “ Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục ’’ M.I Kondacop đã

viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu quản lý nhà trường (

công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội- sư phạm chuyên biệt. Hệ thống này

đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý

đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các

12



mặt xã hội- kinh tế, tổ chức- sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang

trưởng thành.” [20,tr.373]

Trong quản lý và thực tiễn quản lý nhà trường gồm hai loại quản lý:

Một là: quản lý là chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường nhằm định hướng cho

nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển( các cấp quản lý

nhà trường và sự hợp tác, giám sát của xã hội)

Hai là: quản lý của chính chủ thể bên trong nhà trường, hoạt động tổ chức các chủ

trương, chính sách giáo dục thành các kế hoạch hoạt động, tổ chức chỉ đạo và kiểm

tra để đưa nhà trường đạt tới mục tiêu đã đề ra, (thực hiện các chức năng quản lý của

một tổ chức)

1.2.3. Đạo đức :

Cuộc sống hàng ngày, con người luôn phải giao tiếp, ứng xử… nếu thái độ, hành vi

của họ phù hợp với yêu cầu, lợi ích chung của cộng đồng thì con người đó được cho

là có đạo đức. Ngược lại, hành vi, thái độ không phù hợp, gây tổn hại tới lợi ích

người khác thì bị xã hội lên án, cho là thiếu đạo đức.

- Vậy đạo đức là gì ? Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này có thể hiểu

đạo đức ở hai góc độ:

- Ở góc độ xã hội: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, đặc biệt được phản

ánh dưới những dạng nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh, hành vi của con

người trong các mối quan hệ giữa con người với nhau và với chính bản thân mình.

- Ở góc độ cá nhân: đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của con

người phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ

trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với

người khác và với chính bản thân mình.

Theo Mác-Lênin: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động

sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phản

ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Vì vậy, tồn tại xã hội thay đổi thì ý thức xã



13



hội (đạo đức) cũng thay đổi theo, và như vậy đạo đức xã hội luôn mang tính lịch sử,

tính giai cấp và tính dân tộc”.

Theo các tác giả: Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng trình bày trong cuốn “Đạo

đức – NXB Giáo dục Hà Nội 2001 “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng

hợp những quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi

của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội

trong quan hệ với con người, giữa cá nhân và xã hội… [37, tr.7]

“Chuẩn mực đạo đức là những phẩm chất đạo đức có tính chuẩn mực, được nhiều

người thừa nhận, được dư luận xã hội xác định như một đòi hỏi khách quan, là thước

đo giá trị cần có ở mỗi người, những chuẩn mực đạo đức ấy được coi như mục tiêu

giáo dục, rèn luyện ở mọi người, ở nhiều bậc học, cấp học, lứa tuổi, ngành nghề.

Đồng thời chuẩn mực đạo đức lại có giá trị định hướng, chi phối, chế ước quá trình

nhận thức, điều chỉnh thái độ và hành vi của mỗi người “ [37, tr.8]

Các giá trị đạo đức truyền thống tồn tại và phát triển trong xã hội dưới dạng

đối lập sau:

Thiện và ác.

Có lương tâm và bất lương.

Có trách nhiệm và tắc trách.

Hiếu nghĩa và bất nghĩa.

Vinh và nhục.

Hạnh phúc và bất hạnh.

Các giá trị đạo đức kế thừa và phát triển những đức tính tốt đẹp:

Tính khiêm tốn và sự lễ độ.

Tính ngay thẳng và lòng trung thực.

Tính nguyên tắc và sự khiêm tốn.

Tính tiết kiệm và sự giản dị.

Tính hào hiệp và sự tế nhị.

Lòng dũng cảm và phẩm chất anh hùng.

14



Khái niệm đạo đức xã hội chủ nghĩa được thể hiện ở các chuẩn mực sau:

Yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội.

Yêu lao động và có thái độ lao động.

Có tinh thần tập thể, ý thức cộng đồng và tính đoàn kết kỷ luật.

Tinh thần nhân đạo.

Tinh thần quốc tế và nếp sống văn minh.

1.2.4. Giáo dục đạo đức:

1.2.4.1.Khái niệm GDDĐ:

Giáo dục đạo đức là tổ chức tác động nhằm hình thành cho con người những quan

điểm cơ bản nhất, những quy tắc, chuẩn mực đạo đức cơ bản của xã hội. Nhờ đó, con

người sử dụng khả năng của mình để lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng

đạo đức xã hội, cũng như tự đánh giá, suy nghĩ hành vi của bản thân mình.

Giáo dục đạo đức là quá trình hoạt động làm biến hệ thống các chuẩn mực đạo

đức từ chỗ là những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân, thành những đòi

hỏi bên trong cá nhân, thành niền tin, nhu cầu, thói quen của người được giáo dục.

Giáo dục đạo đức là một quá trình tổ chức giáo dục xã hội và giáo dục rèn luyện,

trong đó mỗi cá nhân vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quá trình giáo dục đạo đức

nói riêng và quá trình phát triển, hoàn thiện nhân cách nói chung. Giáo dục không

chỉ là việc riêng của nhà trường, thầy, cô giáo mà giáo dục là của toàn xã hội, mọi

lực lượng, ban ngành trong xã hội. Tuy nhiên, giáo dục đạo đức trong nhà trường đặc

biệt quan trọng. Giáo dục đạo đức đối với lứa tuổi học sinh là rất quan trọng vì lứa

tuổi 16-18 có những đặc điểm tâm lý, hiểu biết có hạn, vì vậy giáo dục đạo đức là

hình thành, phát triển những giá trị cơ bản của nhân cách sau này của các em. Ở lứa

tuổi này, các em đã bước vào lứa tuổi thanh niên, không phải là trẻ con mà chưa phải

là người lớn, đời sống tâm lý phức tạp, các em trai và gái đã bắt đầu có những tình

cảm, tình yêu khác giới, nếu không được giáo dục, định hướng đúng, các em dễ phát

triển lệch lạc, chán học, bỏ học, đua đòi, tụ tập, buông thả, bắt chước người lớn, cờ

bạc, trộm cắp…

15



Hiện nay có rất nhiều luồng văn hoá thâm nhập vào học đường, bên cạnh mặt tích

cực, còn có những ảnh hưởng không lành mạnh, văn hóa phản động, trái với bản sắc

văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Học sinh học hệ Giáo dục thường xuyên, tuyển đầu vào với phần lớn lực học

yếu, hạnh kiểm chưa tốt, việc quản lý giáo dục đạo đức góp phần nâng cao chất

lượng giáo dục học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể của quá trình giáo dục, cần

coi trọng vai trò chủ thể, định hướng, giúp đỡ, uốn nắn các em nỗ lực vươn lên, nắm

văn hoá của nhân loại, làm chủ cuộc sống, làm chủ bản thân, không lạc điệu, lạc

đường

1.2.4.2.Mục tiêu, nhiệm vụ và các con đường giáo dục đạo đức cho học sinh.

Mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển giáo dục là tiếp tục xây dựng hoàn

thiện nền giáo dục xã hội chủ nghĩa mang tính nhân dân, dân tộc, khoa học và hiện

đại. Thực hiện giáo dục toàn diện (đức, trí, thể, mỹ)ở tất cả các bậc học.Hết sức coi

trọng giáo dục chính trị,tư tưởng,nhân cách,khả năng tư duy sáng tạo và năng lực

thực hành.

Mục tiêu tiếp theo của giáo dục đạo đức là: Nhằm hình thành và phát triển ý thức đạo

đức và năng lực thực hiện hành vi đạo đức của con người.

Ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm về điều thiện, ác, tốt, xấu… về những

quy tắc đánh giá điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với

cá nhân. Ý thức đạo đức cá nhân là sự phản ánh hoạt động đạo đức của cá nhân và là

điều kiện của hoạt động đó.

Hành vi đạo đức là hoạt động của con người chịu ảnh hưởng của niềm tin, ý thức đạo

đức, là quá trình hiện thực hoá ý thức đạo đức.

Ý thức đạo đức phản ánh sự tồn tại, phát triển của xã hội. Ý thức về lương tâm, danh

dự, lòng tự trọng,… phản ánh khả năng tự chủ của con người, là sức mạnh đặc biệt

của đạo đức, là nét cơ bản thể hiện bản chất xã hội của con người. Như vậy sự phát

triển của ý thức đạo đức thông qua giáo dục đạo đức là nhân tố biểu hiện rõ nhất của

sự tiến bộ xã hội.

16



Ý thức đạo đức là hành vi đạo đức luôn đi đôi với nhau, quan hệ biện chứng, tạo nên

bản chất đạo đức của con người. Ý thức là cơ sở tâm lý cho thực hiện hành vi đạo

đức. Hành vi đạo đức là sự thể hiện ý thức đạo đức trong thực tiễn, giáo dục đạo đức

phải đạt được các tiêu chí sau:

Về mặt nhận thức:

Hiểu được bản chất của đạo đức, các nguyên tắc, nội dung, chuẩn mực đạo đức con

người Việt Nam trong thời kỳ mới phù hợp với mức độ yêu cầu của lứa tuổi, đồng

thời hiểu sự cần thiết phải tự rèn luyện mình theo các yêu cầu của chuẩn mực đạo

đức để trở thành những công dân có lối sống tốt, có tình cảm đẹp, xứng đáng là chủ

nhân tương lai của đất nước. Nâng cao nhận thức chính trị, hiểu rõ các yêu cầu của

sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nắm vững những quan điểm của

chủ nghĩa Mác-Lênin, tư, tưởng Hồ Chí Minh và vấn đề phát triển con người toàn

diện.

Về kiến thức:

Hiểu biết về khoa học, về thế giới, quy luật phát triển tự nhiên, xã hội, con

người.Hiểu những yêu cầu về đạo đức và ý thức tuân thủ pháp luật trong cuộc sống

hàng ngày.Hiểu các vấn đề quốc tế cấp thiết: hoà bình, dân số, HIV, AIDS… mà con

người đang đối mặt.Hiểu về nội dung cơ bản Hiến pháp và các luật, quyền và nghĩa

vụ của công dân.Hiểu về lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, văn hoá

truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Về kỹ năng:

Biết nhận ra và trân trọng các giá trị đích thực của xã hội, cộng đồng, gia

đình, con người, lao động và thiên nhiên.Biết sống và ứng xử theo các giá trị đạo đức

đã học.Biết và thực hiện theo pháp luật.Biết tự hoàn thiện nhân cách đạo đức của bản

thân, biết sống, học tập, làm



việc trong môi trường đoàn kết, tôn trọng nhau, thể



hiện hành vi ứng xử có văn hoá.



17



Về thái độ:

Thẳng thắn, trung thực, tôn trọng sự thật, đấu tranh cho cái mới, cái tiến bộ,sáng

tạo,…Yêu thương,tôn trọng mọi người xung quanh.Có ý thức học tập và vận dụng

kiến thức đã học vào thực tiễn.Có ý thức rèn luyện than thể, giữ gìn vệ sinh ,bảo vệ

môi trường.Bảo vệ và tự thể hiện hoài bão, lý tưởng của cá nhân, phấn đấu thực hiện

được hoài bão, lý tưởng cao đẹp thành sự thật.Rèn luyện tinh thần yêu nước, lòng tự

hào dân tộc, sống có ý chí, nghị lực, quyết tâm vươn lên, lạc quan, không chạy theo

hưởng thụ, mắc các tệ nạn xã hội.Luôn tự rèn luyện đạo đức: nhân ái, trung thực,

cần, kiệm, liêm, chính, ham học, ham làm, dũng cảm, tự trọng, khiêm tốn… trong

học tập và lao động, trong tình bạn và tình yêu, ở gia đình, nhà trường và xã hội.Tích

cực tham gia các hoạt động tập thể,hoạt động xã hội phù hợp với khả năng của mình.

Các con đường giáo dục đạo đức cho học sinh:

Con đường thứ nhất:

Giáo dục thông qua dạy học :Một trong những con đường quan trọng nhất để giáo

dục thế hệ trẻ là đưa học sinh vào học tập trong nhà trường .Nhà trường là một tổ

chức giáo dục chuyên nghiệp có nội dung trương trình ,có phương tiện và phương

pháp hiện đại ,do một đội ngũ các nhà sư phạm đã được đào tạo bài bản.Nhà trường

là môi trường giáo dục thuận lợi có một tập thể HS cùng nhau học tập rèn luyện và tu

dưỡng.Trong nhà trường ,HS được trang bị một khối lượng lớn tri thức khoa

học,được tiếp thu những khái niệm đạo đức,văn hoá,thẩm mĩ,những quy tắc,những

chuẩn mực xã hội thông qua các môn học .Nhờ học tập và thực hành theo những

chương trình nội ,ngoại khoá mà kỹ năng lao động trí óc chân tay được hình thành,trí

tuệ được mở mang ,nhân cách được hoàn thiện. Dạy học là con đường giáo dục chủ

động,ngắn nhất và có hiệu quả,giúp thế hệ trẻ tránh được những mò mẫm,vấp váp

trong cuộc đời .Con người được đào tạo bài bản bao giờ cũng thành đạt hơn những

người không được học tập chu đáo.Dạy học là con đường quan trọng nhất trong tất

cả các con đường giáo dục.



18



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (124 trang)

×