1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÍ TRƯỜNG TIỂU HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.49 MB, 129 trang )


Nghị quyết số 42-NQ/TƯ ngày 30 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị

về công tác quy hoạch, phát triển cán bộ lãnh đạo, quản lí thời kì đẩy mạnh

CNH-HĐH đất nước đã nêu rõ: “Tạo sự chủ động, có tầm nhìn chiến lược

trong công tác cán bộ; khắc phục tình trạng hẫng hụt trong đội ngũ cán bộ

lãnh đạo, quản lí, bảo đảm tính kế thừa, phát triển và sự chuyển tiếp liên tục,

vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, giữ vững đoàn kết nội bộ và sự ổn định

chính trị. Chuẩn bị từ xa và tạo nguồn cán bộ dồi dào làm căn cứ để đào tạo,

bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ đảm nhận các chức danh lãnh đạo, quản

lí các cấp trong hệ thống chính trị vững vàng về chính trị, trong sáng về đạo

đức, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có trình độ và năng lực, nhất là

năng lực trí tuệ và thực tiễn tốt, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng

yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng do Tổng bí thư Nông Đức Mạnh trình bày

ngày 18 tháng 4 năm 2006 cũng khẳng định chúng ta phải “Xây dựng đội ngũ

cán bộ đồng bộ, có cơ cấu hợp lí, chất lượng tốt, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh

đạo kế tiếp vững vàng. Có cơ chế, chính sách bảo đảm phát hiện, đánh giá,

tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có

đức, có tài dù là đảng viên hay người ngoài Đảng”.

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020, về giáo

dục - đào tạo, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI cũng chỉ rõ: “Phát triển

giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt

Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập

quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo

viên và cán bộ quản lý là khâu theo chốt ” [19, 119]

Qua các Nghị quyết của Đảng cho thấy tầm quan trọng cũng như sự

quan tâm, chú trọng của Đảng và nhà nước ta về công tác cán bộ. Đối với

ngành Giáo dục và Đào tạo, việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lí là một

nhiệm vụ hết sức cần thiết và đòi hỏi phải dựa trên cơ sở khoa học. Xuất phát

từ quan điểm con người là động lực trực tiếp của sự phát triển, mà giáo dục và

đào tạo lại là môi trường để xây dựng đội ngũ nhân lực cho toàn xã hội. Chính

vì vậy, trong các Chiến lược phát triển giáo dục đã đưa ra nhiều giải pháp

9



nhằm chấn hưng và phát triển nền giáo dục nước nhà, trong đó nhấn mạnh giải

pháp đổi mới quản lí giáo dục. Một trong những giải pháp cụ thể là: Xây dựng

và thực hiện chuẩn hoá đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục. Đào tạo và bồi dưỡng

thường xuyên đội ngũ cán bộ quản lí giáo dục các cấp về kiến thức, kĩ năng

quản lí và rèn luyện phẩm chất đạo đức; đồng thời điều chỉnh, sắp xếp lại cán

bộ theo yêu cầu mới phù hợp với năng lực và phẩm chất của từng người.

Ở Việt Nam, từ những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ trước cho đến nay

đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục có đề cấp đến

vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục như: “Một số vấn đề về quản

lý và khoa học giáo dục” của tác giả Phạm Minh Hạc (1986); “Khoa học quản

lý nhà trường phổ thông” của tác giả Trần Kiểm (2003); “Tập bài giảng lý luận

đại cương về quản lý” của tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc

(Hà Nội 1998); “Khoa học tổ chức và quản lý một số vấn đề lý luận và thực

tiễn” của Trung tâm nghiên cứu khoa học tổ chức quản lý (NXB thống kê Hà

Nội 1999); “ Tâm lý xã hội trong quản lý” của Ngô Công Hoàn (NXB ĐHQG

Hà Nội năm 2002); “Giáo trình khoa học quản lý” của tác giả Phạm Trọng

Mạnh (NXB ĐHQG Hà Nội năm 2011)...

Với từng công trình nghiên cứu, các tác giả đã tập trung phân tích thực

trạng của công tác phát triển CBQL, quy hoạch giáo viên, đưa ra các biện pháp

cần thiết, khả thi phù hợp với đặc điểm tình hình ở mỗi địa phương. Từ đó giúp

cho việc thực hiện tốt hơn công tác phát triển cán bộ quản lí, giáo viên của các

nhà trường ở từng địa phương. Mỗi địa phương có những đặc điểm tự nhiên,

điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, vì vậy không thể vận dụng máy móc, cứng

nhắc kinh nghiệm công tác phát triển CBQL ở nơi này vào nơi khác mà phải

vận dụng linh hoạt, sáng tạo phù hợp thực tiễn của mỗi địa phương. Đề tài

“Biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lí các trường tiểu học huyện Ân

Thi, tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2013-2020 ” nhằm phân tích có cơ sở khoa học

thực trạng giáo dục, công tác phát triển CBQL các trường tiểu học trong huyện,

từ đó đề xuất phương án và đưa ra các biện pháp có tính cần thiết, khả thi cao về

phát triển đội ngũ CBQL các trường tiểu học huyện Ân Thi giai đoạn 20132020, phù hợp với thực tiễn địa phương, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự

nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá,

hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

10



1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Biện pháp, phát triển.

* Khái niệm “biện pháp”.

Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1992 của Viện Khoa học xã hội Việt Nam

thì biện pháp có nghĩa là: Cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.

* Khái niệm “phát triển”.

Theo Từ điển Tiếng Việt, phát triển là “Biến đổi hoặc làm cho biến đổi

từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [33, 37].

Phát triển là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như

phát triển kinh tế, phát triển xã hội, phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội

ngũ... Còn theo quan điểm triết học, phát triển là khái niệm biểu hiện sự thay

đổi tăng tiến cả về chất, cả về không gian lẫn thời gian của sự vật, hiện tượng

và con người trong xã hội. Như vậy, phát triển được hiểu là sự tăng trưởng, là

sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực, tiến lên.

Theo tác giả Đặng Bá Lãm: “Phát triển là một quá trình vận động từ

thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, theo đó cái cũ chuyển biến mất và cái

mới ra đời... Phát triển là một quá trình nội tại: bước chuyển từ thấp lên cao

xảy ra bởi vì trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm tàng những khuynh

hướng dẫn đến cái cao. Còn cái cao là cái thấp đã phát triển”. [28,20].

1.2.2. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường.

* Khái niệm “quản lý”

Thực tiễn quản lý phát triển xã hội cho thấy quản lý gắn liền với hoạt

động của con người trong cuộc sống, là một chức năng lao động xã hội bắt

nguồn từ tính xã hội của lao động. Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có

mục đích của con người. Trong đời sống kinh tế - xã hội, vấn đề quản lý trở

nên hết sức phức tạp. Chính sự đa dạng, phong phú và phức tạp đó nên khi nói

về quản lý đã có nhiều cách khái niệm khác nhau.

Ngay từ thời Khổng Tử, ông đã đề cao và xác định rõ vai trò cá nhân của

người làm công tác quản lý, đó là: Người quản lý mà chính trực thì không cần

nhiều công sức mà vẫn khiến người ta làm theo; người quản lý mà không chính

trực thì vất vả mấy cũng không ai làm theo.

11



Các Mác cũng đã nói đến sự cần thiết của quản lý, coi quản lý là một

đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Ông viết: “Tất

cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô

tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những

hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận

động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác nhau với sự vận động của những khí

quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình,

còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [9,29].

* Quan điểm của các tác giả nước ngoài về quản lý

Theo Afanaxev: “Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta, sao

cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng những yêu cầu của xã

hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân, thúc đẩy sự tiến

bộ của cả xã hội đến cá nhân”. [1,27]

Aunapu (người Nga) cho rằng: “Quản lý hệ thống xã hội là một khoa

học, nghệ thuật tác động vào hệ thống mà chủ yếu là những con người trong hệ

thống đó nhằm đạt được những mục tiêu quản lý mà trong đó mục tiêu kinh tế

- xã hội là cơ bản”. [2,24]

Theo Paul Hersey và Ken Blanc Hard: “Quản lý như quá trình làm việc

cùng và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để

hình thành các mục đích của tổ chức”. [31,68]

Theo Henri Fayol, người đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ điển cho

rằng: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”.

H.Koontz thì khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm

bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của

nhóm”. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con

người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất

và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Quản lý là một trong những loại hình lao động

quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Quản lý đúng tức là con

người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được thành

công theo ý muốn.

12



* Quan điểm của các tác giả trong nước

Tác giả Nguyễn Bá Dương cho rằng: “Hoạt động quản lý là sự tác động

qua lại một cách tích cực giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý qua con

đường tổ chức, là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của

các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào hoàn thành những mục tiêu

nhất định của tập thể xã hội”. [12,55]

Trong giáo trình “Quản lý giáo dục” do Bùi Minh Hiền chủ biên, định

nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý

tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”. [22,36]

Theo tác giả Phan Văn Kha: “Quản lý là một tập hợp các hoạt động lập

kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa

học, kĩ thuật và công nghệ để chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực

(hiện hữu và tiềm năng) vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành

viên thuộc hệ thống, các hoạt động để đạt được các mục đích đã định”. [24,10]

Theo tác giả Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động của chủ thể

quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình tâm lý và hành động

của con người nhằm đạt được mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp

với quy luật khách quan”. [32,1]

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu

cầu nhất định”. [33,22]

Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng

của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã

hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối

tượng theo những mục tiêu đã định.

Như vậy: Quản lý là hệ thống những tác động có chủ định, phù hợp với

quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác

và vận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội của đối tượng quản lý để đạt

được mục tiêu quản lý trong một môi trường luôn biến động.

Trong các định nghĩa trên, tuy cách diễn đạt có khác nhau nhưng đều

chứa đựng những dấu hiệu chung:

13



- Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình, mọi hoạt động

xã hội loài người. Người lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho

xã hội con người tồn tại và phát triển.

- Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.

- Hoạt động quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận gắn bó chặt

chẽ với nhau là chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.

- Yếu tố con người (người quản lý và người bị quản lý) giữa vai trò

trung tâm trong hoạt động quản lý.

Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức và điều

khiển) hợp quy luật của chủ thể quản lý dựa trên các nguồn lực, điều kiện có

thể có nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu của tổ chức, đơn vị đề ra.

Thực chất nó là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể) đến

người bị quản lý (đối tượng) nhằm đạt được mục tiêu chung thông qua các

công cụ và phương pháp quản lý.

- Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức;

- Đối tượng quản lý là những con người cụ thể, nhóm người ....

- Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý đến đối

tượng quản lý, như: mệnh lệnh, quyết định, chính sách...

- Phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thể quản lý tới đối

tượng quản lý;

Hoạt động quản lý có thể thể hiện qua sơ đồ sau:



Công cụ quản lý

Khách thể

quản lý



Chủ thể

quản lý

Phƣơng pháp quản lý



Môi trƣờng quản lý



Sơ đồ 1: Sơ đồ về hoạt động quản lý

14



Mục tiêu

quản lý



Khái niệm quản lý đã chỉ rõ: Hệ thống quản lý gồm 2 hệ liên kết với

nhau, đó là sự liên kết giữa chủ thể quản lý với đối tượng (khách thể) quản lý.

Khi chỉ ra chủ thể quản lý thì phải chỉ ra đối tượng quản lý và ngược lại.

Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua

lại tương hỗ nhau. Chủ thể quản lý nảy sinh các tác động, còn khách thể quản

lý thì làm nảy sinh các giá trị và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của con người,

thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý.

Xét dưới góc độ hoạt động thì quản lý có 4 chức năng cơ bản:

Lập kế hoạch: Bao gồm xác định mục tiêu của tổ chức, thiết lập chiến

lược tổng thể để đạt được mục tiêu đó.

Tổ chức (công việc và các nguồn lực): Là quá trình sắp xếp, phân bổ

công việc, quyền hành và nguồn lực cho các bộ phận, các thành viên của tổ

chức để họ có thể hoạt động và đạt được mục tiêu của tổ chức một cách hiệu

quả. Các nội dung cụ thể là:

- Phân tích công việc bằng nhiệm vụ;

- Lựa chọn người thực hiện từng công việc;

- Phân bổ các nguồn lực;

- Xây dựng cơ chế làm việc.

Lãnh đạo (chỉ đạo): Là quá trình tác động đến các thành viên của tổ

chức làm cho họ gắn kết, nhiệt tình, tự giác và nỗ lực phấn đấu đạt được mục

tiêu của tổ chức đề ra. Chức năng lãnh đạo gồm các nội dung:

- Ra quyết định;

- Thông báo, hướng dẫn;

- Điều phối;

- Động viên.

Kiểm tra: Là các hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tìm ra những ưu

điểm và hạn chế trong quá trình thực hiện để đạt được mục đích qua đó đánh

giá, điều chỉnh và xử lý các kết quả của quá trình vận hành tổ chức, làm cho

mục tiêu của quản lý được thực hiện đúng hướng và có hiệu quả. Nội dung chức

năng kiểm tra là:

- Xác định tiêu chí (chuẩn mực, đạo đức);

- Sử dụng phương pháp phù hợp;

15



- Phân tích thông tin và đánh giá;

- Sử dụng kết quả đánh giá sao cho có lợi.

Các chức năng quản lý làm nên bản chất quản lý. Nó nâng cao hiệu quả

hoạt động của bộ máy và là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của tổ chức.

Các chức năng quản lý liên hệ mật thiết với nhau và thể hiện qua sơ đồ:

Kế hoạch



Kiểm tra



Thông tin



Tổ chức



Chỉ đạo

Sơ đồ 2: Sơ đồ về mối liên hệ giữa các chức năng quản lý

* Khái niệm “quản lý giáo dục”

Quản lý giáo dục là một loại hình quản lý xã hội, tức là quản lý mọi hoạt

động giáo dục trong xã hội. Dựa vào khái niệm “quản lý” một số nhà nghiên

cứu về giáo dục đưa ra về khái niệm về quản lý giáo dục như sau:

* Quan điểm của các nhà nghiên cứu nước ngoài

Theo M.I.Kônđacôp: “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp tổ

chức, cán bộ, kế hoạch hoá, tài chính cung tiêu...nhằm đảm bảo vận hành bình

thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng

hệ thống cả về mặt số lượng lẫn chất lượng” [27, 22] .[19]

V.Khuđôminxky: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế

hoạch, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các

khâu của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa

cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của học sinh”.

* Quan điểm của các nhà nghiên cứu Việt Nam

Tác giả Đặng Quốc Bảo trong tập bài giảng: “Những vấn đề cơ bản về

quản lý giáo dục” có nêu: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều

hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo

yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh giáo dục phát triển

16



thường xuyên, quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành thống nhất giáo dục

quốc dân”. [4,8]

Tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế

hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm

mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức

và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản

lý giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em”. [25,24]

Khi nói đến khái niệm quản lý giáo dục các tác giả tuy có cách diễn đạt

khác nhau nhưng đều toát lên được quản lý giáo dục là tác động có tổ chức, có

quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống

giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.

Như vậy: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có chủ định của

chủ thể quản lý giáo dục đến đối tượng quản lý trong hệ thống giáo dục nhằm

khai thác và tận dụng tốt nhất những tiềm năng và cơ hội để đạt được mục tiêu

giáo dục trong môi trường luôn biến động.

* Khái niệm “quản lý nhà trường”

* Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở mang tính Nhà nước - Xã

hội, diễn ra những tác động qua lại giữa các nhân tố trong và ngoài nó.

Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, thực hiện chức năng

kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định của xã

hội đó. Nhà trường được tổ chức sao cho việc sáng tạo, kiến tạo kinh nghiệm xã

hội nói trên đạt được các mục tiêu mà xã hội đó đặt ra cho nhóm dân cư được

huy động vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm của xã hội.

Như vậy, trường học là nơi tiến hành công tác giáo dục, đào tạo toàn

diện hay một lĩnh vực chuyên môn nào đó cho những tập thể học sinh, sinh

viên. Trường học là cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân, được tổ

chức theo các loại hình sau đây:

- Trường công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật

chất, đảm bảo kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên.

- Trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây

dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động.

17



- Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ

chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm

bảo kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước.

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối

giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường

vận hành theo nguyên tắc giáo dục của Đảng để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục

tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, đối với thế hệ trẻ và đối với từng học

sinh”.[21,22]

Trường học là một tổ chức giáo dục ở cơ sở nằm trong hệ thống giáo

dục quốc dân. Trong nhà trường hoạt động trung tâm là hoạt động trung tâm là

hoạt động dạy và học, tất cả các hoạt động đa dạng khác đều hướng tới làm

tăng hiệu quả của quá trình dạy và học. Vì vậy, quản lý trường học nói chung

và quản lý trường tiểu học nói riêng bản chất là; “Quản lý hoạt động dạy - học,

tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần

dần tiến tới mục tiêu giáo dục”.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong

đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân

tố thày - trò. Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy

của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở”. [4,63]

Trường học vừa là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, vừa là

một bộ phận cấu thành xã hội; nó thực hiện thể chế chuyên biệt của xã hội, của

nhà nước có chức năng đào tạo thế hệ trẻ, có mục tiêu rõ ràng, có tổ chức chặt

chẽ, được Nhà nước cung cấp các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các

chức năng của mình. Trường học có mối quan hệ mật thiết với môi trường kinh

tế - chính trị, văn hoá - xã hội. Với tư cách là một bộ phận trong hệ thống giáo

dục quốc dân nên trường học có nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định của

Luật Giáo dục.

Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác đào tạo

thực hiện việc giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ. Thành tích tập trung nhất

của trường học là chất lượng và hiệu quả giáo dục, được thể hiện ở sự tiến bộ

của học sinh, ở việc đạt mục tiêu giáo dục của nhà trường. Quản lý nhà trường

18



là yếu tố rất cơ bản và hết sức quan trọng, nhằm đảm bảo tổ chức tốt các hoạt

động giáo dục toàn diện trong nhà trường.

Trong chừng mực nhất định, quản lý nhà trường chính là quản lý giáo

dục. Dựa vào phạm vi quản lý, người ta đưa ra 2 loại QLGD:

- Quản lý hệ thống giáo dục: QLGD được diễn ra ở tầm vĩ mô, trong

phạm vi toàn quốc, trên địa bàn lãnh thổ địa phương.

- Quản lý nhà trường: QLGD ở góc độ vi mô, trong phạm vi một đơn vị,

một sơ sở giáo dục.

Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch,

hợp quy luật của chủ thể quản lý (các cấp QLGD) nhằm làm cho nhà trường vận

hành theo quy luật giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra trong từng thời

kỳ phát triển của từng địa phương nói riêng và của đất nước nói chung.

Tác giả Konđacốp định nghĩa: Quản lý nhà trường là một hệ thống xã

hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế

hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà

trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt kinh tế, xã hội, tổ chức

sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên.

Nhà trường là một thể chế xã hội hoàn chỉnh, một cơ quan giáo dục

chuyên biệt thực hiện chức năng giáo dục, đào tạo của nhà nước, của cộng

đồng xã hội, chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào cuộc sống. Quản lý nhà trường

là một phạm vi cụ thể của quản lý hệ thống giáo dục. Quản lý nhà trường thực

chất là quản lý hoạt động giáo dục trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan

đến hoạt động GD&ĐT trong phạm vi một nhà trường.

Về mặt bản chất của công tác quản lý nhà trường là quá trình chỉ huy

điều khiển vận động của các thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố. Mối

quan hệ đó do quá trình sư phạm trong nhà trường quy định, thông qua các văn

bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và của ngành.

Công tác quản lý trường học chính là những công việc của nhà trường

mà người CBQL trường học thực hiện những chức năng quản lý theo yêu cầu

và nhiệm vụ quy định. Đó là các hoạt động có ý thức, có kế hoạch và có định

hướng của chủ thể quản lý tác động tới các hoạt động của nhà trường nhằm

19



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (129 trang)

×