1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÍ VÀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CBQL TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƯNG YÊN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.49 MB, 129 trang )


CHƢƠNG 2

THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÍ

VÀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CBQL TRƢỜNG TIỂU HỌC

HUYỆN ÂN THI, TỈNH HƢNG YÊN

2.1. Tình hình giáo dục tiểu học huyện Ân Thi giai đoạn 2008-2013

2.1.1. Vài nét về đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Ân Thi.

Ân Thi là huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Hưng Yên. Phía Bắc

giáp huyện Yên Mỹ và Mỹ Hào, phía Nam giáp huyện Phù Cừ và Tiên Lữ,

phía Tây giáp huyện Kim Động và Khoái Châu, phía Đông giáp huyện Bình

Giang và Thanh Miện của tỉnh Hải Dương.

Toàn huyện có 20 xã và 1 thị trấn. Tổng diện tích tự nhiên là 128,7 km2.

Dân số toàn huyện là 132.094 người (Niên giám năm 2012). Mạng lưới giao

thông hiện nay khá thuận tiện, trên địa bàn có Quốc lộ 38, Tỉnh lộ 199, Tỉnh lộ

200... Dự án đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng chạy qua 5 xã phía Bắc

của huyện và đường nối đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng với đường cao

tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình đang được triển khai, dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối

năm 2014. Xung quanh huyện có hệ thống sông Bắc Hưng Hải, sông Cửu Yên

và sông Điện Biên bao bọc. Đây là hệ thống sông vô cùng quan trọng đảm bảo

điều tiết nước cho toàn bộ diện tích lúa và hoa màu hằng năm của huyện, giúp

Ân Thi luôn đứng đầu về sản lúa và lương thực so với các huyện trong tỉnh.

Về vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, nhưng điều kiện và

tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội còn có nhiều khó khăn, nhất là hạ tầng cơ

sở. Tuy nhiên, bằng sự đoàn kết nhất trí, vượt qua khó khăn thử thách, Đảng bộ

và nhân dân Ân Thi đã chủ động, sáng tạo, tiếp tục đổi mới, đạt được những

kết quả tích cực trên các lĩnh vực: Kinh tế tiếp tục tăng trưởng, văn hoá xã hội

có nhiều tiến bộ, quốc phòng - an ninh được củng cố, đời sống của nhân dân

được cải thiện, dân chủ trong Đảng và nhân dân được mở rộng, công tác cải

cách hành chính, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng có chuyển biến tích

cực, tạo cơ sở vững chắc cho việc phát triển kinh tế xã hội.

Trong 5 năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 11,5%. Cơ

cấu kinh tế: Nông nghiệp: 51%; Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Xây

dựng : 19%; Dịch vụ - Thương mại: 30%. Thu nhập bình quân đầu người đạt

39



27 triệu đồng/người/năm. Tổng thu ngân sách 5 năm qua đạt trên 172,3 tỷ

đồng, tổng chi ngân sách khoảng 1.200 tỷ đồng. Lĩnh vực văn hoá xã hội có

nhiều khởi sắc, đặc biệt sự nghiệp giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển, đa

dạng hoá các loại hình trường lớp, đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, chất lượng

và hiệu quả ngày càng cao, tỷ lệ học sinh đỗ vào Đại học, Cao đẳng hàng năm

xếp ở tốp dẫn đầu trong tỉnh.

Cùng với việc tập trung phát triển KT-XH, huyện cũng đã chú trọng tới

việc giải quyết các vấn đề xã hội như: Công tác đền ơn, đáp nghĩa; thực hiện

các chính sách xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo xuống còn dưới 10 % (theo tiêu chí

mới). Đến năm 2012 toàn huyện có 84% số gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình

văn hoá; 82% làng, khu phố đạt danh hiệu làng, khu phố văn hoá; 90% cơ quan

đơn vị văn hóa; dạy nghề phổ thông cho học sinh sau tốt nghiệp THCS và

THPT; hằng năm tạo việc làm mới và thu nhập ổn định cho trên 3.000 lao

động. Công tác xã hội hoá giáo dục và khuyến học được phát triển đồng bộ. Cơ

sở vật chất các ngành học, bậc học được quan tâm và đầu tư. Tỷ lệ phòng học

kiên cố, cao tầng ngày một tăng, đến nay: Mầm non đạt 44%, Tiểu học đạt

81,3 %, THCS đạt 88,8 %. Toàn huyện hiện có 23 trường đạt chuẩn quốc gia

(Mầm non: 04, Tiểu học: 10, THCS: 07, THPT: 02)

Hệ thống chính trị và các đoàn thể nhân dân được củng cố vững chắc,

phát huy dân chủ, khơi dậy sức mạnh toàn xã hội quyết tâm phấn đấu xây dựng

huyện nhà ngày càng giầu đẹp và phát triển bền vững.

2.1.2. Tình hình giáo dục tiểu học

Ân Thi là một huyện thuần nông, kinh tế chậm phát triển, nhưng thực hiện

đường lối đổi mới của Đảng, trong những năm qua sự nghiệp giáo dục của huyện

đã được cấp uỷ Đảng, chính quyền đặc biệt quan tâm và coi trọng. Hệ thống

trường lớp phát triển, 100% các xã, thị trấn đều có trường mầm non, tiểu học và

THCS.

Năm 1994, huyện được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo

dục tiểu học và xóa mù chữ, năm 2000 được công nhận đạt chuẩn vể phổ cập

giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và năm 2001 được công nhận đạt chuẩn phổ cập

40



giáo dục THCS. Quy mô trường, lớp tương đối ổn định; các cấp học ngày càng

được đầu tư về cơ sở vật chất phục vụ dạy và học. Đội ngũ giáo viên từng

bước chuẩn hoá, đội ngũ CBQL cơ bản đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp

đổi mới. Công tác xã hội hoá giáo dục được quan tâm.

Chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao, hàng năm huy động trẻ

em trong độ tuổi vào nhà trẻ đạt 40,2%, mẫu giáo đạt 86%; Tỷ lệ huy động trẻ

6 tuổi vào lớp 1 và học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào học lớp 6 đạt

100%; Học sinh hoàn thành chương trình tiểu học đạt 99,8%; học sinh THCS

tốt nghiệp vào học THPT là 83%; học sinh tốt nghiệp THPT đạt trên 98%.

Năm học 2012- 2013 toàn huyện có 72 trường học và trung tâm, trong đó có

trường 4 trường THPT; 22 trường THCS; 21 trường tiểu học; 23 trường mầm

non, 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên và 01 Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp

- Dạy nghề. 100% các xã, thị trấn có Trung tâm học tập cộng đồng.

Trung tâm Giáo dục thường xuyên của huyện đã thường xuyên mở các

lớp bổ túc văn hoá để toàn dân được học tập nâng cao trình độ dân trí, từng

bước thực hiện phổ cập giáo dục THPT. Tỷ lệ huy động người trong độ tuổi đi

học bậc THPT đạt trên 80%.

Có thể khẳng định từ năm 2008 đến năm 2013 sự nghiệp giáo dục của

huyện Ân Thi nói chung và của cấp tiểu học nói riêng đã có những phát triển

khá toàn diện về nhiều mặt.

2.1.2.1. Quy mô giáo dục tiểu học

Huyện Ân Thi có tổng số 21 đơn vị hành chính trong đó có 20 xã và 01

thị trấn. Sau năm 1995, các trường liên xã, liên cấp đã được chia tách. Hiện

nay, tương ứng với 21 đơn vị hành chính của huyện có 21 trường tiểu học.

Cùng với sự phát triển toàn diện của mạng lưới giáo dục huyện Ân Thi

nói chung, mạng lưới các trường tiểu học được phân bố hợp lý và rộng khắp

trên địa bàn huyện. Sự phân bố như vậy tạo điều kiện cho học sinh trong huyện

không phải đi học xa, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.

Về quy mô trường, lớp, học sinh ở bậc tiểu học huyện Ân Thi qua 5 năm

học vừa qua, chúng ta có bảng tổng hợp sau:

41



Bảng số 2.1: Quy mô trƣờng, lớp, học sinh ở bậc tiểu học huyện Ân Thi

từ năm học 2008 - 2009 đến năm học 2012 - 2013

Số lớp

Năm học



Số

trường



Tổng

số



Số học sinh



Trong đó

Khối Khối Khối Khối Khối

1



2



3



4



5



Tổng

Số



Trong đó

Khối Khối Khối Khối Khối

1



2



3



4



5



2008-2009



21



297



64



60



59



55



59



8222 1599 1636 1740 1487 1760



2009-2010



21



296



64



59



60



59



54



8048 1636 1550 1625 1763 1474



2010-2011



21



299



59



60



60



60



60



8030 1583 1584 1532 1610 1721



2011-2012



21



297



63



58



60



56



60 7832 1622 1540 1574 1518 1578



2012-2013



21



296



66



61



58



57



54 7915 1705 1597 1538 1567 1508



(Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ân Thi)

Căn cứ kết quả thống kê về quy mô trường, lớp các trường tiểu học trong

những năm qua, chúng ta thấy số lượng học sinh tiểu học tương đối ổn định,

tăng cao nhất vào năm học 2008-2009 (8.222 học sinh). Đến năm học 20122013 số lượng học sinh tiểu học giữ ở mức gần 8.000 em.

Vì số học sinh tương đối ổn định nên quy mô số lớp tiểu học cũng khá ổn

định. Năm học 2008-2009 toàn huyện có 297 lớp, cao nhất trong giai đoạn này

là năm học 2010-2011 có 299 lớp, đến năm học 2012-1013 chỉ còn lại 296 lớp.

Như vậy từ năm học 2010-2011 đến năm học 2012-2013 số lớp học đã giảm

03 lớp.

Việc tăng, giảm số lớp hàng năm ở cấp tiểu học có thể không chịu sự tác

động của việc tăng hay giảm số học sinh. Vì đặc thù của bậc học, có những

thôn ở xa khu tập trung nên học sinh lớp 1 phải học ở cơ sở lẻ (gọi là lớp chân

tre) để đỡ phải đi lại, do vậy có lớp chỉ có khoảng 15 đến 20 em, dẫn đến việc

có thể tổng học sinh nhiều nhưng số lớp lại ít hơn hoặc ngược lại. Như năm

học 2008-2009 có 8.222 học sinh nhưng chỉ có 297 lớp, còn năm học 20102011 có 8.030 học sinh thì lại có 299 lớp.

Sự biến động về quy mô trường, lớp và số học sinh tiểu học chịu ảnh

hưởng trực tiếp của biến động về dân số trong độ tuổi từ 6 đến 10, đồng thời

phụ thuộc vào tỉ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến trường, việc duy trì sĩ số và

tỉ lệ học sinh lên lớp.

42



Theo thống kê của phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ân Thi, về dân số

trong tuổi từ 6 đến 10 tuổi và số lượng học sinh tiểu học qua các năm từ năm

học 2008-2009 đến năm học 2012-2013 như sau:

Bảng số 2.2: Dân số trong độ tuổi từ 6 - 10 tuổi và số lƣợng học sinh

tiểu học huyện Ân Thi từ năm học 2008-2009 đến năm học 2012-2013

Dân số trong độ



Số học sinh



Tỷ lệ học sinh Tiểu học/DS



tuổi từ 6 - 10



Tiểu học



trong độ tuổi (%)



2008-2009



8.245



8.222



99,72%



2009-2010



8.038



8.021



99,79%



2010-2011



8.049



8.030



99,76%



2011-2012



7.841



7.832



99,89%



2012-2013



7.921



7.915



99,92%



Năm học



(Nguồn: Phòng giáo dục và Đào tạo huyện Ân Thi)

Căn cứ số liệu thống kê tại Bảng 2.2, chúng ta nhận thấy tỷ lệ học sinh

được huy động đến trường học bậc học tiểu học ở huyện Ân Thi hàng năm đều

đạt gần 100%. Cao nhất năm học 2012-2013 đạt 99,92% và thấp nhất năm học

2008-2009 đạt 99,72%. Tỉ lệ nhỏ còn lại không được đến trường đều là các

cháu khuyết tật, thiểu năng trí tuệ... Mặc dù, hàng năm phòng GD&ĐT huyện

đều chỉ đạo các trường tiểu học phải huy động tối đa các cháu trong độ tuổi

đến trường, song hầu hết các em vì lý do sức khoẻ đã không thể học tập được,

dẫn đến vẫn còn một tỉ lệ nhỏ các cháu không được đến trường để hoà nhập.

Nhưng với tỉ lệ huy động đó đã thể hiện việc huy động học sinh trong độ tuổi

đến trường và công tác phổ cập tiểu học đúng độ tuổi đã được ngành giáo dục

làm rất hiệu quả. Đồng thời qua số liệu thống kê chúng ta cũng nhận thấy dân

số trong độ tuổi từ 6 đến 10 tuổi của huyện Ân Thi từ năm 2008 đến năm 2013

khá ổn định và có xu hướng giảm nhẹ. Điều này cũng phù hợp với xu thế phát

triển dân số của huyện trong những năm qua.

Với sự phát triển dân số tự nhiên trên địa bàn huyện luôn ổn định ở mức

dưới 1% và việc huy động học sinh trong độ tuổi đến trường được ngành giáo

dục huyện chỉ đạo và các trường thực hiện khá tốt, nên quy mô trường, lớp cấp

tiểu học của huyện Ân Thi trong những năm qua tương đối ổn định.

43



Để phản ánh thực trạng quy mô trường, lớp, học sinh bậc học tiểu học

năm học 2012 - 2013 trên địa bàn huyện Ân Thi có bảng sau:

Bảng 2.3: Số lớp, số học sinh các trƣờng tiểu học của huyện Ân Thi

Năm học 2012-2013

Số lớp



Số học sinh



Tên trƣờng



Tổng



Trong đó



Tổng



Trong đó



số



STT



Khối Khối Khố i Khối Khối

1

2

3

4

5



số



Khối Khối Khối Khối Khối

1

2

3

4

5



1 Tiểu học Phù Ủng



16



4



3



3



3



3



512 114 107 101



99



91



2 Tiểu học Bãi Sậy



16



4



3



3



3



3



486 116



90



103



87



90



3 Tiểu học Bắc Sơn



15



3



3



3



3



3



441



95



87



100



84



4 Tiểu học Đào Dương



17



4



4



3



3



3



514 107 107 103



97



100



5 Tiểu học Vân Du



15



3



3



3



3



3



437 100



82



87



85



83



6 Tiểu học Xuân Trúc



16



4



4



3



3



2



464 105 113



96



82



68



7 Tiểu học Quảng Lãng 16



3



4



3



3



3



397



80



81



71



84



81



8 Tiểu học Đặng Lễ



15



3



3



3



3



3



396



75



79



82



88



72



9 Tiểu học Cẩm Ninh



11



2



2



3



2



2



242



53



45



43



46



55



10 Tiểu học Nguyễn Trãi 13



3



3



2



3



2



317



67



66



55



68



61



11 Tiểu học H.T. Mậu



16



4



3



3



3



3



434



96



90



78



87



83



12 Tiểu học Hồng Vân



11



3



2



2



2



2



259



61



41



52



53



52



13 Tiểu học Hồng Quang 13



2



2



3



3



3



330



60



59



70



63



78



14 Tiểu học Hạ Lễ



11



3



2



2



2



2



228



57



46



46



45



34



15 Tiểu học Tiền Phong



11



3



2



2



2



2



260



61



41



42



54



62



16 Tiểu học Đa Lộc



11



2



3



2



2



2



292



53



67



54



55



63



17 Tiểu học Văn Nhuệ



10



2



2



2



2



2



280



65



57



43



66



49



18 Tiểu học H.H. Thám



15



3



3



3



3



3



402



89



82



74



71



86



19 Tiểu học Tân Phúc



11



3



2



2



2



2



279



71



57



51



54



46



20 Tiểu học Quang Vinh



16



3



3



4



3



3



345



69



67



77



60



72



21 Tiểu học TT Ân Thi



21



5



5



4



4



3



600 131 125 123 123



98



61



58



57



54 7915 1705 1597 1538 1567 1508



Tổng cộng:



296 66



75



(Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ân Thi)

Qua bảng tổng hợp thống kê số lớp và học sinh theo từng trường tiểu

học của huyện Ân Thi chúng ta nhận thấy:

Hầu hết các trường tiểu học trong huyện đều có quy mô nhỏ: Có 01 trường

chỉ có 10 lớp; có 6 trường có 11 lớp; có 02 trường có 13 lớp; có 4 trường có 15



44



lớp; có 06 trường có 16 lớp; có 01 trường có 17 lớp và trường lớn nhất có 21 lớp

là trường Tiểu học Thị trấn Ân Thi, nơi tập trung đông dân cư nhất huyện.

Nếu phân loại trường theo quy định tại Thông tư số 35/2006/TTLT BGDĐT-BNV ngày 23/8/2006 của liên Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ thì

20/21 trường tiểu học trong huyện là trường hạng 3 (dưới 18 lớp), duy nhất

trường Tiểu học thị trấn Ân Thi là trường hạng 2.

2.1.2.2. Chất lượng giáo dục tiểu học

Trong những năm qua ngành giáo dục và đào tạo huyện Ân Thi đã tích

cực chỉ đạo để củng cố, nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng

bậc Tiểu học nói riêng. Tăng cường chỉ đạo hoạt động thanh tra giáo dục,

thường xuyên tổ chức thăm lớp dự giờ, đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo

viên, phối hợp chặt chẽ với Đoàn TNCS Hồ Chí Minh huyện tích cực chỉ đạo

hoạt động đoàn đội trong nhà trường. Vì vậy kết quả học tập và kết quả xếp

loại hạnh kiểm của học sinh ngày một chất lượng hơn.

* Về kết quả xếp loại học lực, hạnh kiểm của học sinh và tỷ lệ học sinh

lên lớp, lưu ban, bỏ học, hoàn thành chương trình tiểu học từ năm học 20082009 đến năm học 2012 - 2013 được thể hiện ở các bảng sau:

Bảng số 2.4: Kết quả xếp loại Giáo dục - Hạnh kiểm

của học sinh tiểu học huyện Ân Thi

Hạnh kiểm

Năm học



Tổng số Hoàn thành

học

đầy đủ

sinh



Xếp loại giáo dục



Chưa



Giỏi



HTĐĐ



Khá



Yếu



TB



Số



Tỷ lệ



Số



Tỷ lệ



Số



Tỷ lệ



Số



Tỷ lệ



Số



Tỷ lệ



lượng



%



lượng



%



lượng



%



lượng



%



lượng



%



Số



Tỷ lệ %

lượng



2008-2009 8.222 8176 99,44 46



0,56 2267



27,6 3415 41,5 2216



27,0 324



3,9



2009-2010 8.021 7980 99,49 41



0,51 2316



28,9 3375 42,1 2172



27,1 158



2,0



2010-2011 8.030 7995 99,56 35



0,44 2384 29,7 3402 42,4 2036 25,4 208



2,6



2011-2012 7.832 7797 99,55 35



0,45



2331 29,8 3316 42,3 1978 25,3 207 2,6



2012-2013 7.915 7892 99,71 23



0,29



2375 30,0 3412 43,1 1997 25,2 131 1,7



(Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ân Thi)

Được sự quan tâm lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự chỉ

đạo sâu sát của ngành giáo dục và đào tạo, giáo dục tiểu học của huyện Ân Thi

đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. Chất lượng giáo dục tiểu học ngày càng được

45



củng cố và nâng cao. Qua bảng tổng hợp kết quả hạnh kiểm và xếp loại giáo

dục của học sinh tiểu học trong 5 năm cho thấy, chất lượng giáo dục cấp tiểu

học của huyện tương đối ổn định và phát triển vững chắc. Số lượng học sinh

xếp loại hạnh kiểm ở mức hoàn thành đầy đủ gần như chiếm 100%; số học

sinh đạt học lực giỏi và khá chiếm tỉ lệ cao và ngày càng tăng.

Do đặc thù cấp tiểu học nhiều năm nay không tổ chức thi học sinh giỏi

cấp huyện, song ở các cuộc thi do Bộ GD&ĐT tổ chức như: Violympic Tiếng

Anh, Giải toán qua mạng internet... hàng năm đều có nhiều học sinh đạt giải

cấp tỉnh và cấp quốc gia.

Bảng số 2.5: Tỷ lệ học sinh lên lớp, lƣu ban, bỏ học

và hoàn thành chƣơng trình tiểu học

Tổng

số

Học

sinh



Số

lượng



Tỷ lệ

%



Số

lượng



2008-2009 8.222



8.157



99,21



65



0,79



0



0



1751/1758 99,6 %



2009-2010 8.021



7.989



99,60



32



0,4



0



0



1474/1475 99,9 %



2010-2011 8.030



7.990



99,50



40



0,5



0



0



1722/1723 99,9 %



2011-2012 7.832



7.791



99,48



41



0,52



0



0



1569/1573 99,7 %



2012-2013 7.915



7.872



99,46



43



0,54



0



0



1509/1509 100 %



Năm học



Lên lớp



Lưu ban



Bỏ học



Tỷ lệ Số Tỷ lệ

% lượng %



Công nhận hoàn

thành CT TH

Số lượng



Tỷ lệ

%



(Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ân Thi)

Qua bảng thống kê cho thấy: 5 năm vừa qua cấp học không có học sinh

bỏ học; số học sinh lưu ban vẫn còn song chiếm tỉ lệ thấp; tỷ lệ học sinh tiểu

học hoàn thành chương trình tiểu học đạt cao, hàng năm đầu đạt trên 99,5 %,

năm học 2012-2013 đạt 100%. Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi tiếp tục

được duy trì và được củng cố vững chắc. Toàn huyện có 100% số xã, thị trấn

đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi với các tiêu chuẩn đều đạt ở

mức cao; trong đó có 3/21 xã, thị trấn đã hoàn thành phổ cập tiểu học đúng độ

tuổi mức độ 2.

Công tác giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục truyền thống, giáo dục pháp

luật cho học sinh tiểu học luôn được nhà trường, gia đình và toàn xã hội quan

tâm. Vì vậy ý thức tổ chức kỷ luật học sinh ngày càng được nâng lên.

46



2.1.2.3. Tình hình đầu tư kinh phí cho giáo dục tiểu học

Để có thể nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục cần đến nhiều nguồn lực,

đó là nhân lực, tài lực và vật lực. Trong những năm qua, các cấp tỉnh, huyện và

địa phương đã có nhiều quan tâm, đầu tư kinh phí cho giáo dục và đào tạo,

thực sự coi “giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư

cho sự phát triển”.

Chúng ta có bảng thống kê tình hình đầu tư nguồn kinh phí từ Ngân sách

nhà nước cho giáo dục huyện Ân Thi giai đoạn 2008 - 2013 như sau:

Bảng số 2.6: Thống kê nguồn kinh phí đầu tƣ cho giáo dục tiểu học

giai đoạn 2008 - 2013

Đơn vị: Triệu đồng

Năm học



Tổng kinh



Trong đó

Chi sửa

chữa

832



Chi mua sắm

trang thiết bị

dạy học

462



Chi các

Chi lương

hoạt động

phụ cấp,

chuyên môn BHXH, BHYT

1.382

16.730



2008-2009



24.030



Chi xây

dựng

mới

4.624



2009-2010



25.206



2.972



399



389



904



20.542



2010-2011



30.809



1.150



1.508



1.492



1.757



24.902



2011-2012



46.784



4.460



1.788



1.972



13.359



25.205



2012-2013



43.452



1.150



1.820



1.500



11.257



27.725



Tổng 5 năm



170.281



14.755



5.948



5.815



28.659



115.104



phí đầu tư



(Nguồn: Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Ân Thi)

Nhận xét: Qua bảng thống kê số liệu trên chúng ta thấy việc đầu tư cho

giáo dục tiểu học của huyện Ân Thi đã phần nào được quan tâm. Ngoài phần

chi lương, phụ cấp BHXH, BHYT theo chế độ quy định thì phần kinh phí chi

cho các hoạt động chuyên môn và mua sắm trang thiết bị được đầu tư đáng kể.

Tuy nhiên việc đầu tư cho xây dựng mới và sửa chữa cơ sở vật chất còn có

phần hạn chế. Một huyện có tới 21 trường tiểu học với hệ thống cơ sở vật chất

còn khá nghèo nàn thì lượng kinh phí đầu tư cho công tác xây dựng mới và sửa

chữa cơ sở vật chất như vậy là quá khiêm tốn; điều đó cũng là một cản trở

không nhỏ cho việc thực hiện xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia theo kế

hoạch mà ngành và huyện đã xây dựng cũng như theo Đề án xây dựng trường

đạt chuẩn quốc gia của tỉnh Hưng Yên.

47



2.1.2.4. Công tác xã hội hoá giáo dục tiểu học

Công tác xã hội hoá giáo dục được cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ

quốc, các đoàn thể và cá nhân ngày càng quan tâm và có nhiều hoạt động tích

cực phối hợp với ngành giáo dục tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc

như xây dựng cơ sở vật chất nhà trường, lập quỹ khuyến học, tham gia công

tác phổ cập giáo dục, vận động học sinh bỏ học tiếp tục đến trường, vận động

ủng hộ, giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Từ năm học 2008-2009 đến năm học 2012-2013 nhân dân trong huyện đã

đóng góp được 4.615,5 triệu đồng để xây dựng mới và tu sửa trường, lớp học.

Công tác khuyến học được quan tâm: Thực hiện Chỉ thị số 50-CT/TW

ngày 24/8/1999 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo

của Đảng đối với Hội Khuyến học Việt Nam và Chỉ thị số 19/1999/CT-TTg

ngày 15/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ, cấp uỷ và chính quyền các cấp đã

thường xuyên quan tâm đến tổ chức và hoạt động của Hội Khuyến học, trong

đó đặc biệt quan tâm đến phương hướng hoạt động của Hội là xã hội hoá

phong trào “Toàn dân học tập, học tập suốt đời, học tập với động cơ trong

sáng” từng bước hình thành một xã hội học tập, đưa sự nghiệp giáo dục lên

ngang tầm đòi hỏi của sự nghiệp CNH-HĐH.

Đến nay 21/21 xã, thị trấn của huyện đã thành lập Hội Khuyến học cơ sở

và đi vào hoạt động ổn định. Hoạt động khuyến học từ huyện đến cơ sở đã có

tác dụng to lớn trong việc gắn kết giáo dục giữa gia đình với nhà trường và xã

hội, khơi dậy truyền thống hiếu học của quê hương. Các mô hình: gia đình hiếu

học, dòng họ hiếu học, cộng đồng khuyến học…ngày một phát triển và hoạt

động có chiều sâu, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo. Quỹ

khuyến học của các cấp Hội đã phát huy tác dụng tốt và có ý nghĩa tích cực

trong việc xây dựng các mô hình học tập cần thiết trong cấu trúc xã hội học tập

ở huyện nhà.

Có thể nói, công tác xã hội hoá giáo dục ở Ân Thi đã thực sự góp phần

vào việc phát triển quy mô và nâng cao chất lượng giáo dục nhất là trong tình

hình ngân sách của tỉnh, huyện còn nhiều khó khăn, giải pháp tăng cường xã

hội hoá giáo dục thật sự có hiệu quả.

48



Tuy nhiên, ngành giáo dục và đào tạo huyện cũng có gặp nhiều khó

khăn. Việc đầu tư xây dựng kiên cố hoá trường học gắn với xây dựng trường

chuẩn quốc gia còn chậm do khả năng đầu tư kinh phí còn thấp, chưa tương

xứng với sự phát triển về quy mô; cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu nâng

cao chất lượng, hiệu quả dạy và học.

2.1.2.5. Cơ sở vật chất và phương tiện dạy học ở các trường tiểu học

Về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật cho việc giảng dạy của giáo

viên và học tập của học sinh chúng ta có bảng tổng hợp sau:

Bảng số 2.7: Thống kê tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật

các trƣờng tiểu học của huyện Ân Thi

Tổng số

Năm học



phòng

học



2008-2009



Số

phòng

học

KCCT



Hệ thống phòng chức năng

Số

phòng

học bộ

môn



Phòng

thư

viện



Phòng

thiết bị,

đồ dùng

dạy học



Phòng

truyền

thống



Phòng

làm việc

của

BGH



Phòng

họp Hội

đồng



2011-2012



273

277

279

285



208

219

224

238



2

5

8

11



21

21

21

21



21

21

21

21



6

8

12

13



26

30

35

37



21

21

21

21



2012-2013



296



256



13



21



21



15



40



21



2009-2010

2010-2011



(Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Ân Thi)

Trong những năm qua, việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật

cho các nhà trường nói chung và các trường tiểu học nói riêng đã được các cấp

uỷ Đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở quan tâm. Nhiều địa phương đã tích

cực và chủ động đầu tư xây dựng trường, lớp khang trang mua sắm trang thiết

bị phục vụ cho việc dạy của giáo viên và học tập của học sinh. Tích cực khai

thác mọi nguồn lực để xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất trường học theo

hướng kiên cố hoá, hiện đại hoá, gắn với trường đạt chuẩn quốc gia. Đến nay

toàn huyện có 296 phòng học, trong số đó phòng học kiên cố và cao tầng là

256 phòng (chiếm 86,5%) tăng so với năm học 2008-2009 là 23 phòng; 21/21

trường tiểu học của huyện có phòng thư viện, phòng thiết bị, đồ dùng dạy học.

Các trường đều có đủ phòng làm việc của Ban giám hiệu nhà trường, các tổ

chuyên môn cũng như các đoàn thể của trường.

49



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (129 trang)

×