1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.49 MB, 138 trang )


Tác giả Geoffrey Peety nghiên cứu về dạy học ngày nay, đặc biệt công trình

nhấn mạnh vai trò lấy ngƣời học làm trung tâm.

Tác giả Sandra S.Huang nghiên cứu về Việt Nam học để dạy học trong một

xã hội tri thức, nội dung đề cập công tác chuẩn bị và đào tạo giáo viên, đặc biệt là

phát triển ĐNGV đồng thời công trình có đề cập đến định hƣớng mới trong dạy

học.

Tác giả Harld Kootz với “Những vấn đề cốt yếu về quản lý”.

Tác giả Phạm Thành Nghị nghiên cứu về quản lý chiến lƣợc, kế hoạch trong

các trƣờng Đại học và Cao đẳng. Nội dung tập chung vào hƣớng đi phù hợp với xu

thế của môi trƣờng xã hội, tận dụng tối đa cơ hội và giảm thiểu những nguy cơ và

thách thức mà các trƣờng có thể phải đối mặt trong tƣơng lai [33,tr.9].

Tác giả Đỗ Văn Minh nghiên cứu về Văn bia Quốc Tử Giám Hà Nội, công

trình đã bổ sung hoàn thiện cuốn sách “Văn bia Quốc Tử Giám Hà Nội” với đầy đủ

nội dung 82 tấm bia tiến sỹ hiện vẫn còn tồn tại. [30,tr.8].

Tập thể các tác giả Hà Sỹ Hồ, Lê Tuấn và các tác giả khác với “Những bài

giảng về quản lý trƣờng học”- NXB Giáo dục các năm 1984, 1985,1987.

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang với “Những khái niệm cƣ bản về quản lý giáo

dục”. Trƣờng Cán Bộ quản lý giáo dục Trung ƣơng I Hà Nội 1989.

Tác giả Đặng Quốc Bảo với “Một số khái niệm về quản lý giáo dục”Trƣờng Cán bộ quản lý giáo dục Trung ƣơng I Hà Nội 1997.

Tác giả Vũ Cao Đàm với “Phƣơng pháp luận nghiên cứu khoa học”. NXB

Khoa học và Kỹ thuật 2005.

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc với “Những vấn đề cơ bản về công tác quản lý

trƣờng Trung cấp chuyên nghiệp”; Bộ GD&ĐT-Ngân hàng phát triển Châu Á.

Các tác giả đã nêu lên những nguyên tắc chung của việc quản lý hoạt động

dạy học của ngành giáo dục. Từ những nguyên tắc chung đó các tác giả đó đã chỉ ra



một số biện pháp quản lý vận dụng trong QLGD đồng thời các công trình nghiên

cứu của các tác giả nêu trên đã giải quyết đƣợc vấn đề lý luận cơ bản về khoa học

quản lý nhƣ: Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, bản chất của hoạt động quản lý,

nguyên tắc, mục tiêu quản lý chức năng quản lý, thành phần, cấu trúc các giai đoạn

của hoạt động quản lý,…đồng thời các tác giả cũng chỉ ra các phƣơng pháp và nghệ

thuật quan lý.

Những năm gần đây một số luận văn thạc sỹ giáo dục đã tập chung nghiên

cứu vấn đề quản lý và phát triển đội ngũ…song chủ yếu đối tƣợng nghiên cứu là

các trƣờng phổ thông, hiện ít có công trình nghiên cứu việc quản lý phát triển đội

ngũ ở bậc Cao đẳng, Đại học.

Đối với Trƣờng Cao Đẳng Bách khoa Hƣng yên, vấn đề phát triển ĐNGV

một trƣờng còn chƣa đƣợc nghiên cứu mặc dù việc phát triển ĐNGV có tầm quan

trọng đặc biệt đối với việc xây dựng giáo dục đại học. Đặc biệt hơn cả là đối với

Trƣờng Cao Đẳng Bách khoa Hƣng Yên – một trƣờng đƣợc nâng cấp từ trƣờng

Trung cấp đƣợc 9 năm. Vì thế, đây là một vấn đề còn bỏ trống trong nhiều vấn đề

của Trƣờng Cao đẳng Bách khoa Hƣng Yên cần phải giải quyết.

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Quản lý nhà trường

1.2.1.1 Khái niệm quản lý

Khi nghiên cứu về lý luận quản lý, các nhà nghiên cứu đã đƣa ra nhiều khái

niệm về quản lý ở những cách tiếp cận khác nhau:

Theo quan điểm duy vật của Chủ nghĩa Mác – Lê nin: “Quản lý là sự tác

động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay hệ thống khác nhau của hệ

thống xã hội, trên cơ sở vận dụng đúng đắn những quy luật và xu hƣớng khách



quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ƣu theo mục

đích đặt ra”.[26]

Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hƣớng, có

chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản

lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ

chức”.

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động, có định hƣớng, có kế

hoạch của chủ thể quản lý đến đối tƣợng bị quản lý trrong tổ chức để vận hành tổ

chức, nhằm đạt mục đích nhất định”.[23Nguyễn ,tr.7]

Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Quản lý là quá trình tác động có mục đích

của chủ thể quản lý với tƣ cách là hệ thống nhằm đạt mục tiêu quản lý”.[52]

Theo quan điểm kinh tế, F.J Taylor (1854 – 1915) ngƣời theo trƣờng phái

khoa học cho rằng: Quản lý là cải tạo mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời, giữa

ngƣời với máy móc, quản lý là một nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm

thế nào bằng phƣơng pháp tốt nhất và rẻ nhất. [8,tr.89]

Theo Henrri Fayol (1841 – 1915) Nhà kinh tế học và chỉ đạo thực tiễn trong

cuốn quản lý chung và quản lý công nghiệp thì: Quản lý hành chính là dự đoán và

lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra. [13,tr.35]

Theo quan điểm chính trị xã hội: Quản lý “là sự tác động liên tục có tổ chức,

có định hƣớng của chủ thể (đối tƣợng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội,

kinh tế, bằng một hệ thống luật lệ, chính sách, nguyên tắc, các phƣơng pháp và các

biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối

tƣợng”.[14, tr.7]

Nhƣ vậy, có thể hiểu: Quản lý là tập hợp các hoạt động lập kế hoạch, tổ

chức chỉ đạo và kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật và công

nghệ để chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng), vật



chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống, các hoạt động

để đạt được các mục đích đã định.

Quản lý là sự tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và

hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa tổ chức đạt tới

mục tiêu.



Công cụ

quan lý

Khách thể

quản lý



Chủ thể

quản lý



Mục tiêu

quản lý



Phƣơng pháp

quản lý



Hình 1.1. Sự tác động của các quá trình quản lý

Nhƣ vậy giữa chủ thể quản lý và khách thể có mối quan hệ tƣơng hỗ với

nhau; Chủ thể quản lý nảy sinh các động lực quản lý còn khách thể quản lý thì nảy

sinh các giá trị vật chất và tinh thần, đáp ứng nhu cầu của con ngƣời, thỏa mãn mục

đích của chủ thể quản lý. Công cụ quản lý là các phƣơng tiện mà các chủ thể quản

lý dùng để tác động đến đối tƣợng quản lý nhƣ: Quyết định, chỉ thị, chƣơng trình,

kế hoạch…

Quản lý là tổ chức, điều hành, tập hợp con ngƣời, công cụ, phƣơng tiện, tài

chính… kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt đƣợc mục tiêu trƣớc. Với các vấn

đề vừa nêu trên chúng ta khẳng định tầm quan trọng của việc quản lý không chỉ

mang tính khoa học, nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển trên mọi lĩnh vực. quản lý

gồm các chức năng sau:



- Chức năng kế hoạch hóa: là khởi điểm của một quá trình quản lý. Kế hoạch

hóa là quá trình vạch ra các mục tiêu và quy định phƣơng thức đạt mục tiêu (đó là

con đƣờng, cách thức, biện pháp hoạt động trong tƣơng lai).

- Chức năng tổ chức thực hiện kế hoạch: Là một quá trình phân công và phối

hợp nhiệm vụ, sắp xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực

hiện tốt các mục tiêu đề ra.

- chức năng chỉ đạo điều hành: Là phƣơng thức tác động của chủ thể quản lý

đối tƣợng quản lý, nhằm điều khiển tổ chức điều hành theo đúng kế hoạch để đạt

đƣợc mục tiêu đề ra.

- Chức năng kiểm tra đánh giá: Hoạt động kiểm tra bao gồm việc kiểm tra

giám sát, theo dõi phát hiện tình huống về kết quả hoạt động kiểm tra cũng là một

quá trình tự điều khiển.

Bốn chức năng này luôn tƣơng tác với nhau tạo thành một chu trình quản lý.

Trong bốn chức năng trên thì chức năng kiểm tra là chức năng cơ bản và quan trọng

nhất của quản lý.

Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa các chức năng quản lý

Lâp kế hoạch



Kiểm tra



Thông tin quản lý

Quyết định quản lý

Chỉ đạo



1.2.1.2 Khái niệm quản lý giáo dục



Tổ chức



Cũng nhƣ quản lý xã hội nói chung, QLGD là hoạt động có ý thức của con

ngƣời nhằm theo đuổi những mục đích của mình. Nhƣ đã biết, mục đích của giáo

dục cũng chính là mục đích của quản lý. Đây chính là mục đích có tính khách quan.

Nhà quản lý cùng với đông đảo ĐNGV, học sinh, các lực lƣợng xã hội…bằng hành

động của mình hiện thực hóa mục đích đó trong hiện thực.

QLGD là hệ thống những tác động có ý thức hợp quy luật của chủ thể quản

lý ở các cấp quản lý khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự

vận hành sự ổn định của trƣờng học và các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục

nhằm đạt đƣợc mục tiêu giáo dục của nhà nƣớc.

Theo M.I.Kondakop: “QLGD là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức

và hƣớng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của

hệ thống nhằm đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận

thức và vận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và

tâm lý trẻ em”.[25,tr.35]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều

hành, phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo

yêu cầu phát triển xã hội”.[4,tr31]

Những khái niệm về QLGD nêu trên tuy diễn đạt ở những khía cạnh khác

nhau nhƣng đều thống nhất coi QLGD là sự tác động có tổ chức, có định hƣớng phù

hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý của các cấp lên đối tƣợng quản lý

nhằm đƣa hoạt động giáo dục của từng cơ sở và của toàn hệ thống giáo dục đạt tới

mục tiêu nhất định.

Trong phạm vi đề tài này có thể hiểu QLGD (theo nghĩa rộng) là sự quản lý

đối với hệ thống giáo dục quốc dân. QLGD (theo nghĩa hẹp) là sự quản lý đối với

trƣờng học.

1.2.1.3 Quản lý nhà trường



Theo GS Phạm Minh Hạc: “QLNT là thực hiện đƣờng lối của Đảng trong

phạm vi trách nhiệm của mình, đƣa nhà trƣờng vào vận hành nguyên lý giáo dục để

tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và

từng học sinh”. Ông chỉ cho rằng: “QLNT, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động

dạy học, thực hiện đƣợc tính chất của nhà trƣờng phổ thông Việt Nam xã hội chủ

nghĩa, tức là cụ thể hóa đƣờng lối giáo dục của Đảng và biến đƣờng lối đó thành

hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân, của đất nƣớc”.[20]

Theo tác giả Nguyễn Quang Ngọc: “QLGD là hoạt động dạy và học, tức là

làm sao đƣa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục

tiêu giáo dục”. [13]

QLNT gồm hai loại: (1) Tác động của những chủ thể quản lý cấp trên và bên

ngoài trƣờng học; (2) Tác động của những chủ thể quản lý bên trong trƣờng học.

- QLNT do chủ thể quản lý cấp trên và bên ngoài trƣờng học tác động bao

gồm những hoạt động quản lý của các cơ quan QLGD cấp trên nhằm hƣớng dẫn và

tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của trƣờng học. Đó là

những chỉ dẫn, quyết định từ bộ, sở giáo dục và đào tạo và của các cấp chính quyền

đoàn thể từ bên ngoài trƣờng học nhƣng có liên quan trực tiếp đến trƣờng học.

- QLNT do chủ thể quản lý bên trong nhà trƣờng tác động bao gồm: quản lý

giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học – giáo dục, quản lý cơ sở vật

chất trang thiết bị trƣờng học, quản lý tài chính trƣờng học, quản lý lớp học, quản lý

mối quan hệ trƣờng học và cộng đồng.

Sự phân chia quản lý theo hai loại nhƣ trên chỉ là tƣơng đối. Thực tế trong

quá trình quản lý thì quản lý từ cấp trên xuống các cấp trung gian và cấp thấp, từ

bên ngoài trƣờng, bên trong trƣờng đều phải đƣợc chỉ đạo, triển khai đồng bộ và kết

hợp hài hòa, xuyên suốt theo bốn chức năng quản lý: Kế hoạch – tổ chức – chỉ đạo

– kiểm tra, đánh giá.



Nhƣ vậy, xét về cách chung nhất: QLNT thực chất là những tác động có định

hƣớng, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực bằng nhiều hình

thức bằng đẩy mạnh hoạt động của nhà trƣờng theo nguyên lý giáo dục và tiến tới

mục tiêu giáo dục mà trọng tâm của nó là đƣa hoạt động dạy học tiến lên trạng thái

mới về chất, tức là tiến lên tầm cao hơn, xa hơn, chất lƣợng tốt hơn.

1.2.2 Đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng – Đại học

1.2.2.1 Trường Đại học và quản lý trường Đại học và Cao đẳng

Theo luật giáo dục nƣớc CHXHCN Việt Nam năm 2005 tại điều 39 có quy

định:

- Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo ngƣời học có phẩm chất chính trị,

có đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực hành nghề tƣơng

xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe đáp ứng đƣợc yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ

quốc.

- Đào tạo trình độ đại học giúp cho sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ

năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết các

vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạo.

Trƣờng đại học nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân nên ngoài việc thực

hiện theo đúng nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trƣờng nói chung thì trƣờng đại học

còn có nhiệm vụ và quyền hạn riêng đƣợc quy định trong điều 59 luật giáo dục

2005 nhƣ sau:

- Nghiên cứu khoa học; ứng dụng và chuyển giao công nghệ; tham gia giải

quyết những vấn đề KT-XH của địa phƣơng và đất nƣớc;

- Thực hiện dịch vụ khoa học, sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp

luật



- Đƣợc nhà nƣớc giao cho thuê đất, giao cho hoặc thuê cơ sở vật chất, đƣợc

miễn giảm thuế, vay tín dụng theo quy định của pháp luật.

- Liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao, y tế,

nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục, gắn đào tạo với sử dụng

phục vụ sự nghiệp phát triển KT-XH, bổ sung nguồn tài chính cho nhà trƣờng.

- Sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tƣ xây dựng cơ sở vật chất

của nhà trƣờng, mở rộng sản xuất , kinh doanh và chi cho các hoạt động giáo dục

theo quy định của pháp luật.

Vì vậy quản lý trƣờng đại học là phải quản lý toàn diện cụ thể là:

- Quản lý toàn thể đội ngũ các phòng, khoa, trrung tâm, các tổ bộ môn, các tổ

chuyên trách nhà trƣờng

- Quản lý ĐNGV

- Quản lý quá trình dạy học, quá trình giáo dục

- Quản lý công tác NCKH

- Quản lý hành chính, tài chính, cơ sở vật chất của nhà trƣờng

- Thiết lập mối quan hệ giữa nhà trƣờng với cộng đồng xã hội

- Rà soát toàn bộ công việc trong từng bộ phận, từng cán bộ phụ trách từng

công việc.

- Nắm rõ đặc điểm của từng đối tƣợng nhƣ: trình độ nhận thức, nhu cầu, tuổi

tác, ý chí vƣơn lên, cầu tiến của mỗi cán bộ công chức cũng nhƣ từng đơn vị trong

trƣờng để có những giải pháp thích hợp đƣa nhà trƣờng không ngừng phát triển.

1.2.2.2. Đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng – Đại học

Khái niệm về đội ngũ

Đội ngũ là tập hợp một số đông ngƣời cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề

nghiệp hợp thành lực lƣợng hoạt động trong một hệ thống (tổ chức) nhất định.



Đội ngũ của một tổ chức cũng chính là nguồn nhân lực trong tổ chức đó.

Chính vì vậy, các đặc trƣng về phát triển đội ngũ gắn liền với những đặc điểm phát

triển tổ chức nói chung và đặc trƣng của công tác cán bộ nói riêng.

Một số đặc trƣng của đội ngũ

Các tính chất của việc phát triển đội ngũ

- Tính hiệu quả: Thể hiện với số lƣợng bộ phận ít nhất và số ngƣời ít nhất mà

đáp ứng đƣợc sứ mạng (chức năng và nhiệm vụ) của tổ chức.

- Tính linh hoạt: Có thể thay đổi, chuyển vị trí hoạt động của các thành viên

tùy theo mục tiêu và nhiệm vụ của tổ chức.

- Tính chính xác: Việc sắp xếp nhân sự đúng với trình độ, năng lực và

chuyên môn nhằm đảm bảo thực các chức năng và nhiệm vụ của tổ chức.

Những tính chất của việc phát triển đội ngũ nêu trên đòi hỏi nhà quản lý phải đề cao

tính hiệu quả của tổ chức, phải quan tâm với việc xây dựng đội ngũ mà tiềm năng

của họ luôn thích ứng với công việc thay đổi luân chuyển vị trí hoạt động theo mục

tiêu và nhiệm vụ của tổ chức khi thấy cần thiết, đồng thời sắp xếp đúng con ngƣời

với những phẩm chất năng lực nhất định vào các vị trí thích hợp để tạo điều kiện

phát triển cho mỗi cá nhân và toàn thể đội ngũ.

Một số quy luật về tổ chức vận dụng vào phát triển đội ngũ

- Quy luật mục tiêu phải rõ ràng và hiệu quả: Trong quá trình hoạt động, mỗi

con ngƣời hay từng tập thể đều xác định cho mình và mục tiêu công việc và mục

tiêu phát triển cá nhân cần đạt tới. Nếu mục tiêu của tổ chức càng rõ ràng thì mỗi cá

nhân và tập thể sẽ hoạt động hiệu quả hơn vì tính định hƣớng phấn đấu đã cụ thể và

mỗi thành viên đều nhận thức rõ. Vì vậy, không nên đặt ra mục tiêu phát triển cá

nhân cao hơn khả năng đạt tới nó và các nhà quản lý phải coi việc đặt ra mục tiêu

một cách đúng đắn cho tổ chức và mỗi thành viên của mình là công việc có ý nghĩa

quan trọng hàng đầu của công tác quản lý cán bộ.



- Quy luật hệ thống – phân tử: Quy luật này xác định bất kỳ một tổ chức nào

cũng đƣợc coi nhƣ một hệ thống và nó lại là một phần tử của một hệ thống lớn hơn

hệ thống ấy.

Hệ thống hoạt động có hiệu quả là hệ thống vận hành êm ả, có độ bất định

giảm thiểu tối đa và luôn luôn phát triển.

Quá trình hoạt động của một hệ thống (hay một tổ chức) là quá trình điều

khiển để biến cái vào thành cái ra. Nói cách khác là làm cho trạng thái tổ chức thay

đổi đến mức cái ra đích thực là mục tiêu.

Cần phải xem mỗi thành viên trong đội ngũ là một phần tử của hệ thống, xác

định đứng đầu từng thành viên (chức năng phẩm chất và điều kiện phát triển), đầu

vào của tổ chức (độ tuổi, sức khỏe, trình độ và năng lực chung, các điều kiện phát

triển) của tổ chức nói chung đồng thời phát triển đến từng cá nhân nói riêng.

- Quy luật cấu trúc đồng nhất và đặc thù: Quy luật này xác định hệ thống nào

cũng đƣợc cấu trúc bởi các phần tử đồng nhất. Một tổ chức có cấu trúc lý tƣởng là

các thành viên có cùng lý tƣởng phấn đấu theo mục tiêu, có sự phối hợp hài hòa

giữa sự phát triển của mỗi cá nhân với sự phát triển của cả tổ chức, có sự hiểu biết

chuyên sâu về các hoạt động theo chức năng nhiệm vụ chung của cả tổ chức, và

riêng từng bộ phận của mỗi cá nhân trong tổ chức đó. Chính vì vậy khi xây dựng tổ

chức nếu ghép tổ hợp các phần tử không đồng nhất với nhau.

- Quy luật vận động mỗi tổ chức là khi thành lập, cùng với chức năng, nhiệm

vụ của nó thì tổ chức sẽ hoạt động ngay, hoạt động không ngừng và liên tục. Vì

vậy, nếu không có định hƣớng bằng chức năng, nhiệm vụ đã ấn định chính xác có

giới hạn cụ thể và theo quy trình thì sẽ dẫn đến hậu quả hoạt động của tổ chức

không đạt đƣợc mục tiêu và mỗi thành viên thậm chí cả đội ngũ sẽ tự vận động lệch

hƣớng. Khi xây dựng tổ chức tuyển chọn, sắp xếp, đào tạo, bồi dƣỡng, sử dụng đội

ngũ phải xây dựng cơ chế vận hành của nó. Phát triển đội ngũ cả về trình độ và



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (138 trang)

×