1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

2 Một số khái niệm cơ bản

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.49 MB, 138 trang )


Quản lí là một hoạt động có từ rất lâu, nó gắn liền với sự xuất hiện loài

người. Sử gia Danien A. Wren đã nhận xét rằng: “Quản lí cũng xưa cũ như

chính con người vậy” [13, tr.23].

Trải qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài người, hoạt động quản lí

càng trở nên phổ biến và khẳng định vai trò của nó trong đời sống con người,

Nói đến quản lí , người ta hay nhắc đến ý tưởng sâu sắc của K. Mac ( 1838 –

1883 ): “Một nghệ sỹ vĩ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc

trưởng” [6]

Khi bàn đến khái niệm quản lí có nhiều cách tiếp cận khác nhau: Sau đây

là một số quan điểm.

F.W. Taylor ( 1856 – 1915), nhà khoa học quản lí người Mỹ đã định

nghĩa: “ Quản lí là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau

đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”

[12, tr 11]

Theo PGS. TS. Đặng Quốc Bảo thì:

Quản lí = quản + lí ( quản : giữ; Lí: chỉnh sửa ).

Quản lí = Ổn định và phát triển

Quản lí = Tập quyền và tán quyền

Quản lí = Nắm và buông

Quản lí = Học thuật và nghệ thuật. [7, tr.1].

Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Bản chất hoạt động quản lí gồm

hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy

trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lí” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới

hệ đưa hệ vào thế “phát triển”…Trong “quản” phải có “lí”, trong “lí” phải có

“quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: hệ vận động phù hợp, thích

ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực)

với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)”. [4, tr.14]

Còn theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lí là tác động có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động (nói chung là

khách thể quản lí ) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến" [36, tr. 35].

7



Theo GS. TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lí là quá trình đạt đến

mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch

hóa, tổ chức, chỉ đạo ( lãnh đạo ) và kiểm tra” [13, tr. 9].

Theo PGS. TS. Trần Khánh Đức thì: “Quản lí là một hoạt động có chủ đích,

có định hướng được tiến hành bởi một chủ thể quản lí nhằm tác động lên khách thể

quản lí để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lí” [19, tr.327].

Như vậy, quản lí phải bao gồm các yếu tố sau: Phải có mục tiêu đặt ra

cho cả đối tượng và chủ thể làm căn cứ định hướng cho mọi hoạt động của tổ

chức, phải có nội dung, phương pháp, phương tiện và kế hoạch hành động,

một môi trường nhất định.

Tóm lại, quản lí là một quá trình tác động có chủ đích của chủ thể

quản lí đến đối tƣợng quản lí để đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức đã đề ra.

Cấu trúc hệ thống QL có thể biểu diễn qua sơ đồ đơn giản sau:

CÔNG CỤ



CHỦ THỂ

QUẢN LÍ



KHÁCH THỂ

QUẢN LÍ



PHƢƠNG

PHÁP



Hình 1.1. Sơ đồ cấu trúc hệ thống quản lí



8



MỤC

TIÊU



Công tác QL là một trong năm tác nhân của sự phát triển kinh tế - xã

hội: vốn, tài nguyên, nguồn lao động, khoa học kỹ thuật và QL. Trong đó QL

có vai trò mang tính quyết định đến sự thành công hay thất bại. Những người

làm công tác QL phải là những người hội tụ đầy đủ kiến thức chuyên môn,

phẩm chất và được trang bị kiến thức khoa học QL, xác lập được mục tiêu rõ

ràng và có bản lĩnh, quyết tâm điều hành toàn bộ hệ thống tổ chức của mình

đi tới đích bằng hệ thống các biện pháp QL và thực hiện tốt các chức năng

của quản lí

1.2.2. Các chức năng quản lí

Có nhiều ý kiến khác nhau về phân loại chức năng quản lí, tuy nhiên tựu

trung lại có 4 chức năng cơ bản: Lập kế hoạch; tổ chức; chỉ đạo; kiểm tra, và để

thực hiện tốt các chưc năng quản lí thì thông tin quản lí cũng hết sức quan trọng

và cần thiết.



Lập kế hoạch



Chỉ đạo



Thông tin



Tổ chức



Kiểm tra

Hình 1.2. Sơ đồ chức năng quản lý

- Chức năng kế hoạch: Là một chức năng, một khâu quan trọng nhất

trong hoạt động quản lí , lập kế hoạch là hoạt động nhằm thiết lập các mục

tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của một tổ chức, chỉ ra các hoạt động, những

biện pháp cơ bản và các điều kiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đó. Kế

hoạch là nền tảng của quản lí , là sự quyết định lựa chọn đường lối hành động



9



của một tổ chức và các bộ phận của nó phải tuân theo nhằm hoàn thành các

mục tiêu của tổ chức.

- Chức năng tổ chức: Tổ chức là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc

quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể đạt

được các mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. Ứng với những mục tiêu

khác nhau đòi hỏi cấu trúc tổ chức đơn vị cũng khác nhau. Nhờ tổ chức hiệu

quả mà người quản lí có thể phối hợp điều phối tốt hơn nguồn nhân lực và

các nguồn lực khác. Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ phát huy được năng

lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển hoá kế hoạch thành

hiện thực.

- Chức năng chỉ đạo: Là quá trình nhà quản lí dùng ảnh hưởng của

mình tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ

lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức. Vai trò của người chỉ đạo là

phải chuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướng

mọi người trong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị.

- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản

lí, quản lí mà không kiểm tra thì coi như không có quản lí. Nhờ có hoạt động

kiểm tra mà người quản lí đánh giá được kết quả công việc, uốn nắn, điều

chỉnh kịp thời những hạn chế từ đó có biện pháp phù hợp điều chỉnh kế

hoạch, tổ chức, chỉ đạo. Kiểm tra là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm

đảm bảo cho các hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức. Kiểm tra giúp cho

người quản lí biết được mọi người thực hiện các nhiệm vụ với mức độ tốt xấu

như thế nào, đồng thời cũng cho biết các quyết định quản lí ban hành có phù

hợp với thực tế hay không để có cơ sở điều chỉnh các hoạt động, có các tác

động giúp đỡ, đôn đốc, nhắc nhở, thúc đẩy các cá nhân, các tập thể hoàn

thành mục tiêu quản lí. Với ý nghĩa như thế, chức năng kiểm tra vừa là

chức năng cuối cùng vừa là tiền đề cho một quá trình quản lí mới tiếp theo.

Trường THPT là cơ quan đơn vị giáo dục của Đảng và Nhà nước. Hiệu

trưởng là thủ trưởng cơ quan đó, nên Hiệu trưởng quản lí nhà trường, Quản lí

10



giác dục theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ

trách. Thủ trưởng chịu trách nhiệm đối với cấp trên, có quyền xử lý và ra

quyết định theo đúng quyền hạn và chức trách của mình.

Người Hiệu trưởng trước hết là người có phẩm chất chính trị tốt, biết

vận động thu hút quần chúng thực hiện tốt nhiệm vụ nhà trường, đồng thời

phải biết hy sinh quyền lợi cá nhân vì tập thể. Có chuyên môn vững, biết vận

dụng sáng tạo chủ trương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước vào

trong đơn vị phát huy tốt tinh thần dân chủ, sáng tạo đoàn kết trong việc thực

hiện nhiệm vụ quản lí chuyên môn của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất

lượng dạy học cho giáo viên. Các nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng

được quy định rõ trong: luật giáo dục năm 2005 và được sửa đổi, bổ sung một

số điều năm 2009; Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông

có nhiều cấp học, ban hành kèm theo thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày

28/3/2011 của Bộ trưởng bộ GD&ĐT.

HT là người đứng đầu, chịu trách nhiệm cao nhất trong trường học.

Điều 54 Luật giáo dục cũng nêu rõ: “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm

quản lí các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền

bổ nhiệm, công nhận” [ 29, tr. 65].

1.2.3. Các nguyên tắc quản lí

Các nguyên tắc quản lí là các quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn

hành vi mà các cơ quan quản lí, các nhà lãnh đạo phải tuân thủ trong quá

trình quản lí.

1.2.3.1. Nguyên tắc tập trung dân chủ

Đây là nguyên tắc quan trọng tạo khả năng quản lí một cách khoa học

có sự kết hợp chặt chẽ sức mạnh của cơ quan quyền lực với sức mạnh sáng

tạo của quần chúng trong việc thực hiện mục tiêu quản lí. Tập trung trong

quản lí được hiểu là toàn bộ hoạt động của hệ thống được tập trung vào cơ

quan quyền lực cao nhất, cấp này có nhiệm vụ vạch đường lối, chủ trương,



11



phương hướng mục tiêu tổng quát và đề xuất các giải pháp cơ bản, chủ yếu để

tiến hành thực hiện.

Nguyên tắc tập trung được thể hiện thông qua chế độ một thủ trưởng người chịu trách nhiệm trước tập thể cán bộ, công nhân viên về toàn bộ hoạt

động của đơn vị, tổ chức mình. Dân chủ trong quản lí được hiểu là sự huy

động trí lực của mọi thành viên trong tổ chức để tiến hành quản lí. Dân chủ

được thể hiện ở chỗ: Các chỉ tiêu, phương án đều được tập thể tham gia bàn

bạc, kiến nghị các biện pháp thực thi trước khi đi đến quyết định. Các tổ chức

quần chúng, người lao động còn được tham gia thực hiện các chức năng quản

lí: tham gia xây dựng kế hoạch, kiểm tra, giám sát.

Tập trung và dân chủ có quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết với nhau, có

dân chủ phát huy tốt sức sáng tạo của quần chúng, động viên quần chúng tích

cực lao động và tham gia bàn bạc thống nhất hành động thì tập trung càng cao

và ngược lại. Tuy nhiên, trong thực tiễn, nguyên tắc này thường nảy sinh hai

thái cực: Tập trung quá dẫn tới quan liêu, độc đoán, chuyên quyền và dân chủ

quá dẫn tới vô chính phủ. Cả hai thái cực này dẫn đến làm suy yếu hiệu lực

quản lí . Bởi vậy, để thực hiện tốt chức năng lãnh đạo, người quản lí phải phối

hợp hài hoà nguyên tắc tập trung và dân chủ.

1.2.3.2.Nguyên tắc kết hợp hài hoà các lợi ích xã hội

Quản lí trước hết là quản lí con người. Con người có những lợi ích,

những nguyện vọng và những nhu cầu nhất định, do đó một trong những

nhiệm vụ quan trọng của quản lí là chú ý đến lợi ích của con người để

khuyến khích, kích thích tính tích cực của họ. Lợi ích là một động lực to

lớn nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của con người vì vậy trong

quản lí phải kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và lợi ích

chung toàn xã hội.

1.2.3.3.Nguyên tắc hiệu quả

Hiệu quả là cơ sở kinh tế cho sự tồn tại và phát triển của một tổ

chức. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để một cơ sở vật chất kỹ thuật, một

12



nguồn tài sản, một lực lượng lao động hiện có của tổ chức có thể tạo ra

một thành quả lớn nhất, chất lượng tốt nhất và hiệu quả cao nhất. Hiệu

quả không những là nguyên tắc quản lí mà còn là thước đo trình độ tổ

chức, lãnh đạo và tài năng quản lí.

1.2.3.4.Nguyên tắc nắm khâu trọng yếu

Nguyên tắc này đòi hỏi người quản lí phải có khả năng phân tích chính

xác các tình thế của hệ thống trong quá trình xây dựng và phát triển để tìm ra

các khâu, các việc chủ yếu, những vấn đề then chốt có ý nghĩa quan trọng

trong sự thành bại của tổ chức. Nắm vững nguyên tắc này người quản lí khắc

phục được tình trạng dàn trải chung chung, tập trung vào những vấn đề then

chốt quyết định trong việc quản lí tổ chức thực hiện mục tiêu.

1.2.3.5.Nguyên tắc kiên định mục tiêu

Đây là nguyên tắc đòi hỏi người quản lí các tổ chức có ý chí kiên định

thực hiện cho được mục tiêu đã xác định. Bởi vì một tổ chức dù có mục tiêu

đúng đắn nhưng không phải lúc nào cũng được xã hội chấp nhận, đồng tình

ủng hộ. Nếu người quản lí thiếu tự tin, không quyết tâm thì mục tiêu không dễ

đạt được.

1.2.4. Khái niệm quản lí giáo dục

Khái niệm QL giáo dục hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau:

Theo tác giả M.I Kônđacốp cho rằng: “Quản lí giáo dục là tập hợp

những biện pháp kế hoạch hóa, nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của

cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống cả về

số lượng cũng như chất lượng”. [30, tr. 93].

Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc: “Quản lí giáo dục là tổ chức các

hoạt động dạy học. Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện

được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa,

mới quản lí được giáo dục, tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của

Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân

dân, của đất nước” [32, tr.9].

13



Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm quản lí giáo dục là khái

niệm đa cấp (bao hàm cả quản lí hệ giáo dục quốc gia, quản lí các phân hệ của

nó, đặc biệt là quản lí trường học).

“Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế

hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làm cho hệ vận hành theo

đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của

nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái

mới về chất”. [19, tr.341 ].

Hay: “Quản lí giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế

hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lí ở mọi cấp khác nhau

đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự

hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình

giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em”. [19, tr.341].

Còn văn kiện hội nghị lần thứ II ban chấp hành Trung ương Đảng

khoá IX viết “Quản lí giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí

tới khách thể quản lí nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt

tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [17]

Như vậy, quản lí giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng

của nhà quản lí trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của

kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác động này có tính

khoa học đến nhà trường làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có

kế hoạch trong việc dạy và học theo mục tiêu đào tạo chung.

Khái quát lại, nội hàm của khái niệm quản lí giáo dục chứa đựng những

nhân tố đặc trưng bản chất sau: Phải có chủ thể quản lí giáo dục, ở tầm vĩ mô

là quản lí của nhà nước mà cơ quan trực tiếp quản lí là Bộ, Sở, phòng giáo

dục, ở tầm vi mô là quản lí của hiệu trưởng nhà trường.

Phải có hệ thống tác động quản lí theo một nội dung, chương trình

kế hoạch thống nhất từ trung ương đến địa phương nhằm thực hiện mục

14



đích giáo dục trong mỗi giai đoạn cụ thể của xã hội phải có một lực lượng

đông đảo những người làm công tác giáo dục cùng với hệ thống cơ sở vật

chất tương ứng.

Quản lí giáo dục có tính xã hội cao. Bởi vậy, cần tập trung giải quyết

tốt các vấn đề xã hội: Kinh tế, chính trị, văn hoá, an ninh quốc phòng phục vụ

công tác giáo dục.

Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lí giáo dục,

trong đó đội ngũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lí quan trọng nhất.

1.2.5. Quản lí nhà trường

Vấn đề cơ bản của quản lí giáo dục là quản lí nhà trường vì nhà trường

là cơ sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục. Khi nghiên cứu về

nội dung khái niệm quản lí giáo dục thì khái niệm trường học được hiểu là tổ

chức cơ sở mang tính nhà nước - Xã hội trực tiếp làm công tác giáo dục- đào

tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước.

Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác giáo dục

và đào tạo. Nó chịu sự quản lí trực tiếp của các cấp QLGD đồng thời nhà

trường cũng là một hệ thống độc lập, tự quản. Việc quản lí nhà trường phải

nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục và phát triển nhà

trường.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo “ Nhà trường là cầu nối của giáo dục vĩ

mô ( nền giáo dục, hệ thống giáo dục quốc dân) với giáo dục vi mô (quá trình

dạy học, sự phát triển nhân cách học sinh).” [8, tr. 5]

Theo Phạm Minh Hạc “ Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối của

Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành

theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục - đào tạo đối với ngành

giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh”. [21, tr.71]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí nhà trường là tập hợp

những tác động tối ưu của chủ thể quản lí đến tập thể giáo viên, học sinh và

cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng

15



xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có. Hướng vào việc đẩy

mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế

hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường

tiến lên trạng thái mới".[37, tr.43].

Thực chất, việc quản lí nhà trường là quản lí hoạt động dạy và học,

làm cho hoạt động dạy và học từ trạng thái này sang trạng thái khác để tiến

tới mục tiêu giáo dục. Hoạt động cơ bản của trường phổ thông là dạy và học,

mọi hoạt động khác đều nhằm phục vụ cho hoạt động trên.

Như vậy QL nhà trường là những hoạt động của chủ thể QL nhà trường

(Hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ

học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện

có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.

1.2.6. Hoạt động dạy học

Dạy học là hoạt động then chốt, cơ bản của nhà trường. Dạy học chính

là con đường chủ đạo hinh thành phát triển nhân cách. Hoạt động dạy học

được thực hiện trên lớp và thực hiện ngoài giờ lên lớp.

Hoạt động dạy học là quá trình gồm hai hoạt động thống nhất biện

chứng: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Trong đó

dưới sự lãnh đạo, tổ chức, điều khiển của giáo viên, người học tự giác, tích

cực tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện

những nhiệm vụ dạy học. Trong quá trình dạy học, hoạt động dạy của giáo

viên có vai trò chủ đạo, hoạt động học của học sinh có vai trò tự giác, chủ

động, tích cực. Nếu thiếu một trong hai hoạt động trên, quá trình dạy học

không diễn ra.

Hoạt động dạy và hoạt động học gắn liền với hoạt động của con người

có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở mối quan hệ tương tác giữa các

thành tố : mục tiêu, nội dung, phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động

học. Hai hoạt động dạy và học thống nhất với nhau nhờ sự cộng tác, hợp tác

thầy và trò.

16



Cùng với hoạt động học tập, hoạt động dạy là hoạt động trung tâm

và đặc trưng nhất ở trường phổ thông. Hoạt động giáo dục được tiến hành với

mục đích tổ chức - điều khiển nhằm tối ưu hoá hoạt động học, giúp người

học chiếm lĩnh tri thức khoa học và qua đó hình thành nhân cách. Quản lí

hoạt động dạy học chính là điều khiển quá trình dạy học, cho quá trình đó vận

hành có khoa học, có tổ chức theo những quy luật khách quan và được sự chỉ

đạo, giám sát thường xuyên nhằm thực hiện mục tiêu dạy học.

1.2.7. Quản lí quá trình dạy học

Nói đến dạy học là nói đến hoạt động dạy và học của thầy và trò trong

nhà trường. Nói đến dạy học là nói đến một quá trình cần có thời gian và được

biểu hiện bằng sự phát triển.

Theo PGS.TS. Phạm Viết Vượng thì: “Quá trình dạy học là một hệ

thống có nhiều thành tố tham gia (Mục tiêu dạy học; Giáo viên và học sinh;

Chương trình, nội dung dạy học; Phương pháp dạy học; Phương tiện dạy học;

Môi trường dạy học), mỗi thành tố có vai trò riêng và chúng vận động theo

quy luật chung của toàn hệ thống”. [45, tr.116].

Theo Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt: "Quá trình dạy học là một quá trình

sư phạm bộ phận, một phương tiện để trau dồi học vấn, phát triển giáo dục và

giáo dục phẩm chất, nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy

và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức

khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, nhận thức và thực hành".[34, tr.25]

Về bản chất, quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của

người học dưới sự hướng dẫn, tổ chức, điều khiển của người dạy thông qua

việc lựa chọn nội dung, phương pháp và các hình thức dạy học phù hợp.

Như vậy: Quá trình dạy học là hệ thống những hành động liên tục và

thâm nhập vào nhau của thầy và trò dưới sự hướng dẫn của thầy, nhằm đạt

được mục đích dạy học và qua đó phát triển nhân cách của trò.

Còn quản lí quá trình dạy học, theo tác giả Đỗ Bích Ngọc thì “ Quản lí

quá trình dạy học là một bộ phận cấu thành chủ yếu của toàn bộ hệ thống

17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (138 trang)

×