1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.59 MB, 117 trang )


phù hợp mục tiêu của tổ chức; và là cơ sở để các cá nhân nỗ lực hoàn thành

nhiệm vụ.

Về bản chất, tổ chức là việc phân công lao động một cách khoa học, là cơ

sở để tạo ra năng suất lao động cao cho mỗi tổ chức. Trong tổ chức, những yêu

cầu cơ bản là phân công lao động, phân cấp quản lý rõ ràng, chỉ rõ nhiệm vụ,

trách nhiệm, quyền hạn của mỗi cấp và trên cơ sở đó tạo ra sự hợp tác, phối hợp

nhịp nhàng nhằm hướng tới thực hiện tốt mục tiêu chung của tổ chức.

Mỗi tổ chức đều có những thuộc tính riêng biệt như phân chia trong tổ

chức ra các bộ phận trực thuộc, chuyên môn hóa các công việc, phân cấp quản

lý, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, phạm vi quản lý và sự phối hợp giữa các bộ

phận. Trong mỗi tổ chức, các bộ phận có thể được hình thành theo những tiêu

chí khác nhau, kết quả là hình thành lên các kiểu cơ cấu tổ chức khác nhau như:

Kiểu cơ cấu tổ chức phẳng: là loại cơ cấu chỉ có một vài cấp quản lý và

hướng tới cách quản lý phi tập trung.

Kiểu cơ cấu tổ chức hình tháp: là loại cơ cấu có nhiều cấp bậc quản lý và

nó thường được sử dụng phương thức quản lý “ từ trên - xuống” theo thang bậc,

trong đó các nhà quản lý có các quyết định mang tính hành chính và kiểm soát

việc thực hiện các quyết định này theo các mệnh lệnh hành chính. Hiện nay, cơ

cấu tổ chức của các TĐH ở nước ta được tổ chức theo kiểu này.

Kiểu cơ cấu tổ chức mạng lưới: là cơ cấu trong đó mối quan hệ giữa các

thành viên (cá nhân hoặc đơn vị tổ chức) được thực hiện trên cơ sở bình đẳng.

Cơ cấu này cho phép các cá nhân, tổ chức dễ liên kết với nhau để thực hiện tốt

chức năng, nhiệm vụ và làm tăng sức mạnh của tổ chức.

1.1.2. Quản lý

1.1.2.1. Khái niệm quản lý

Khái niệm “quản lý” đã được các nhà triết học, các nhà khoa học định

nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt (1998): Quản lý là tổ

chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị. Theo Henri Fayol: Quản lý là sự dự



Formatted: Font: Italic, No underline

Formatted: Font: No underline

Formatted: Font: No underline



đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và cuối cùng là kiểm tra đây là năm chức năng cơ bản của quản lý [8, tr.12]. Còn Harold Koontz cho



Formatted: Font: No underline

Formatted: Font: No underline, Italian (Italy)

Formatted: Font: No underline



11



rằng: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực



Formatted: Font: No underline



hoạt động cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Mục tiêu của quản lý là



Formatted: Font: No underline



làm cho mỗi người hoàn thành được mục tiêu của mình, của tổ chức với thời

gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất [8, tr.13].



Formatted: Font: No underline



Xét ở nghĩa khái quát nhất: Quản lý là quá trình tác động có định hướng,

có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm khai thác, lựa chọn,

tổ chức và thực hiện các nguồn lực trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó hoạt

động có hiệu quả và đạt mục tiêu đề ra. Theo đó, mối quan hệ giữa chủ thể quản

lý và khách thể quản lý được hiểu là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng

cấp và có tính bắt buộc. Quản lý thể hiện sự tập trung trí tuệ và ý chí của chủ thể

quản lý, được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy với mục đích điều khiển, phối

hợp các hoạt động riêng lẻ của từng thành viên, tạo thành một hoạt động chung

thống nhất của tập thể và hướng hoạt động đó theo những mục tiêu định trước.

Quá trình quản lý được thực hiện thông qua bốn chức năng cơ bản: kế

hoạch - tổ chức - chỉ đạo - kiểm tra, nghĩa là nếu không có những hoạt động này,

thì sẽ không có hoạt động quản lý trên thực tế và chưa có cơ sở để khẳng định

hoạt động quản lý đã xảy ra.

1.1.2.2. Cơ chế quản lý

Theo Từ điển tiếng Việt (2001): Cơ chế là cách thức mà theo đó một quá

trình được thực hiện. Hiểu một cách đơn giản, “cơ chế” là muốn đạt kết quả của

một công việc nào đó, người ta phải lập ra một hình thức tổ chức phù hợp và

định ra các cách thức thực hiện công việc đó.

Thuật ngữ “cơ chế” được sử dụng rộng rãi từ cuối những năm 1970, khi

chúng ta bắt đầu chú trọng nghiên cứu về quản lý và cải tiến quản lý kinh tế, với

nghĩa là một hình thức tổ chức, kèm theo đó là chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn

và trách nhiệm của cả bộ máy, của từng bộ phận và từng cá nhân thành viên để

điều hành, thực hiện nhiệm vụ nhằm đạt được mục đích đề ra cho bộ máy đó.

Như vậy có thể hiểu: Cơ chế quản lý của một tổ chức là cách thức tổ chức

và hoạt động của tổ chức đó phù hợp với vị trí pháp lý, mục tiêu và chức năng,

nhiệm vụ của tổ chức.



12



Formatted: Font: Italic



1.1.2.3. Phân cấp quản lý

Phân cấp quản lý là quá trình chuyển đổi nhiệm vụ, quyền hạn và trách

nhiệm thuộc một số lĩnh vực từ cấp cao xuống cấp thấp hơn hoặc giữa các cá

nhân, tổ chức trong cùng hệ thống với nhau. Phân cấp quản lý được hình thành

ngay từ khi cơ cấu tổ chức được thiết lập và các nhiệm vụ được phân chia. Yếu

tố cơ bản để phân cấp quản lý là xác định các kết quả mong đợi và giao nhiệm

vụ, quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ đó. Có ba loại phân cấp quản lý cơ bản:

Phân cấp nhiệm vụ, là giao nhiệm vụ và công việc cho cấp dưới, nhưng

không chuyển đổi quyền hành.

Ủy quyền, là giao phó quyền hạn và trách nhiệm từ cấp cao xuống cấp

thấp hơn để họ thay quyền thực hiện một nhiệm vụ riêng biệt.

Trao quyền, là việc chuyển đổi quyền hạn cho đơn vị khác để hoạt động

độc lập mà không cần xin phép cấp trên.

Việc phân chia ra các cấp quản lý dựa vào việc hình thành cơ cấu tổ chức

trong mỗi hệ thống. Cấp quản lý trong mỗi tổ chức phụ thuộc vào tầm kiểm soát

và trình độ của người quản lý, tính phức tạp của hoạt động quản lý, trình độ và ý

thức tôn trọng của tổ chức cấp dưới hay sự rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn,

trách nhiệm và năng lực của hệ thống thông tin quản lý của mỗi tổ chức.

1.1.3. Quản lý nhân sự

Theo Vũ Thùy Dương, Hoàng Văn Hải (2005): Quản lý nhân sự là tổng

hợp những hoạt động quản lý liên quan đến việc tạo ra, duy trì, phát triển và sử

dụng có hiệu quả yếu tố con người trong mỗi tổ chức nhằm đạt được mục tiêu

chung của tổ chức đó. [13]

Từ khái niệm này có thể nhận thấy: Thứ nhất, quản lý nhân sự là một lĩnh

vực cụ thể của quá trình quản lý, nó được thực hiện thông qua các chức năng

quản lý như hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát một cách đồng bộ và phối

hợp chặt chẽ. Thứ hai, quản lý nhân sự được thực hiện trong mối quan hệ mật

thiết với các lĩnh vực quản lý khác. Với phương diện là hoạt động hỗ trợ, quản lý

nhân sự phục vụ cho các hoạt động quản lý tác nghiệp. Thứ ba, trách nhiệm quản

lý nhân sự liên quan đến mọi nhà quản lý trong tổ chức. Các nhà quản lý trong



13



phạm vi trách nhiệm của mình đều phải triển khai công tác này. Không nên cho

rằng quản lý nhân sự chỉ là trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức hay phòng,

ban tổ chức nhân sự. Thứ tư, quản lý nhân sự đòi hỏi tính nghệ thuật. Con người

- đối tượng của quản lý nhân sự là rất đa dạng và có thể biến đổi theo hoàn cảnh,

vì vậy nhà quản lý cần phải sáng tạo, linh hoạt trong hành động thực tiễn.

Quản lý nhân sự phải được xem xét theo quan điểm hệ thống. Việc xác

định NNL, tuyển chọn, sắp xếp, đề bạt, đánh giá nhân viên... cần được đặt trong

mối quan hệ với các lĩnh vực quản lý khác của tổ chức và sự tác động của môi

trường xung quanh. Xây dựng cơ chế quản lý nhân sự trong mỗi tổ chức một

cách khoa học, tức là phải có chiến lược, kế hoạch cụ thể sao cho phù hợp với

môi trường chính trị - xã hội, với toàn hệ thống và điều kiện cụ thể của tổ chức.

Xét cho cùng, mục tiêu của quản lý nhân sự là quản lý con người, do đó, nó phải

đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích của người lao động, của tổ chức và phải

được thực hiện đúng quy định của Nhà nước, phù hợp với quy luật khách quan.

1.1.4. Tự chủ



Formatted: Font color: Auto, English

(Australia)



Khái niệm tự chủ (autonomy) đã có từ thời Aristotle (384-322 trước công

nguyên) với nhận thức TĐH sẽ phát triển tốt hơn nếu có được



tự chủ đầ y đủ .



Theo Từ điển tiếng Việt (2001): Tự chủ là tự điều hành, quản lý mọi công việc

của mình mà không bị ai chi phối. Hiểu đơn giản thì tự chủ hàm ý khả năng hành



Formatted: Font color: Auto, English

(Australia)

Formatted: Font color: Auto, English

(Australia)

Formatted: Italian (Italy)

Formatted: Italian (Italy)



động của mô ̣t cá nhân (sinh viên, giảng viên), hay tổ chức (TĐH) mà không phải

xin phê chuẩ n hay bị kiểm soát từ bên ngoài . Đối với một cá nhân , tự chủ hàm ý

quyền tự do học thuật , tự quyết định viê ̣c học tập , nghiên cứu, giảng dạy... theo

yêu cầu của bản thân và xã hội. Với một tổ chức , tự chủ hàm ý quyền của TĐH

được tự điều hành công việc, nó được xem như điều kiện tiên quyết để một TĐH

thực hiện chức năng xã hội của mình.

Thực tế thì tự chủ có tính “điều kiện” trên cơ sở kết quả công việc, bởi

việc thực hiện nhiệm vụ của một TĐH được xác định phạm vi và phụ thuộc các

tiêu chuẩn chi phí, đầu ra hay phương thức đánh giá thành tích đã được định

trước. Theo Phạm Phụ [46], TCĐH phản ánh mối quan hệ giữa Chính phủ và

TĐH, mức độ can thiệp của Chính phủ vào những vấn đề hoạt động của TĐH.



14



Formatted: Italian (Italy)



Vì vậy, Quyền tự chủ của TĐH là quyền tự kiểm soát, tự quản lý và thực thi các

hoạt động bên trong nhà trường theo các quy định của pháp luật.

1.1.5. Trách nhiệm xã hội



Formatted: Font: Italian (Italy)

Formatted: Font: Italian (Italy)

Formatted: Font: Italian (Italy)

Formatted: Font: Italian (Italy)



Trong một số văn bản pháp quy cũng như nhiều bài viết về GDĐH, ngoài

quyền tự chủ còn khái niệm đi liền với nó là “tự chịu trách nhiệm”, tức là khi

TĐH được tự chủ trong các hoạt động, kèm theo đó nhà trường phải TCTN về

nó. Nhưng nếu ghi TCTN thành một quyền riêng, tương đương với quyền tự

chủ, thì khái niệm TCTN dễ bị hiểu nhầm là các TĐH hoàn toàn tự do hoạt

động, chỉ TCTN với chính mình chứ không chịu trách nhiệm với ai khác.

Theo Ngô Doãn Đãi [14, tr.16-24], cùng với quyền tự chủ nên đưa vào

Luật Giáo dục hay các văn bản pháp luật khác khái niệm “trách nhiệm” hay

“trách nhiệm báo cáo, giải trình” chứ không phải là TCTN của TĐH. Điều quan

trọng không phải là quyền TCTN mà là “trách nhiệm” của TĐH với người học

và xã hội. Đây là trách nhiệm đào tạo, NCKH và phục vụ xã hội, đảm bảo xứng

đáng với sự đầu tư, quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự đóng góp của nhân dân

và phải chịu sự kiểm tra, giám sát của xã hội trong các hoạt động của mình. Để

thuận lợi cho việc nghiên cứu, trong luận văn sử dụng khái niệm “TNXH”.

TNXH (accountability) là nghĩa vụ báo cáo mang tính đạo đức và quản lý

về những hoạt động và kết quả thu được, giải thích kết quả thực hiện và thừa

nhận trách nhiệm đối với cả những kết quả không mong đợi của TĐH cho các

bên liên quan. Trách nhiệm giải trình là nhiệm vụ có tầm quan trọng đặc biệt đối

với một TĐH có quyền tự chủ cao. Khi nói tới trách nhiệm giải trình thì có hai

vấn đề đặt ra: giải trình với ai? và giải trình về nội dung gì?

Thứ nhất, giải trình với ai. TĐH liên quan trực tiếp hay gián tiếp với nhiều

bên: xã hội nói chung, các thành viên đại diện trong hội đồng trường; Chính phủ,

chính quyền các cấp, đại diện cho lợi ích toàn xã hội và cấp kinh phí cho trường;

những khách hàng, người sử dụng lao động, người học và gia đình - những

người muốn có kiến thức, kỹ năng làm việc, bằng cấp; cựu sinh viên, những

người ủng hộ quan trọng của trường; đội ngũ cán bộ, giảng viên của trường... gọi

chung là các bên liên quan (stakeholders). Đây là những đối tượng mà các nhà



15



Formatted: Font: Italian (Italy)

Formatted: Font: Italian (Italy)

Formatted: Font color: Auto, English

(Australia)

Formatted: Font color: Auto, English

(Australia)



quản lý TĐH phải giải trình. Mức độ giải trình không mang tính khuôn mẫu

nhưng cần lưu ý sự đòi hỏi quá mức (không hợp lý) sẽ hạn chế tự chủ, trở thành

“gánh nặng” và có nguy cơ làm các trường xa rời TNXH của mình nhiều hơn.

Thứ hai, giải trình về nội dung gì. TNXH thể hiện qua một số nội dung cơ

bản như: Sự công bằng trong tiếp cận GDĐH; Chất lượng đào tạo và NCKH; Sự

tương xứng giữa trình độ đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động; Sự đóng

góp cho phát triển kinh tế cũng như phổ biến các giá trị; Sự sử dụng hiệu quả

nguồn lực công và sự ổn định.

Như vậy, có thể hiểu: TNXH của TĐH là việc nhà trường phải tự đánh giá

và giám sát việc thực hiện các quy định của Nhà nước, sẵn sàng giải trình và

minh bạch hóa các hoạt động của trường và chịu trách nhiệm về các kết quả

hoạt động này trước các đối tượng có liên quan.

1.2. Cơ sở lý luận về quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của trƣờng đại học

ở nƣớc ta

1.2.1. Trường đại học - tổ chức sự nghiệp công ích

1.2.1.1. Quan niệm về trường đại học

TĐH là cơ sở GDĐH thực hiện vai trò cung cấp sản phẩm, dịch vụ đào tạo

và NCKH chất lượng cao, trình độ cao, với mục đích cơ bản là sáng tạo, phổ

biến kiến thức trong nhiều lĩnh vực. Nó trực tiếp hay gián tiếp mang lại lợi ích

công về nhiều mặt, góp phần cải thiện đời sống nhân dân và làm giàu cho xã hội,

tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế dài hạn. Các TĐH ở nước ta được

xem như là tổ chức sự nghiệp công ích, cung cấp dịch vụ GDĐH của Nhà nước.

TĐH thường do Nhà nước thành lập hoặc cho phép thành lập nên đa số

TĐH được quản lý theo kiểu kiểm soát Nhà nước, được Nhà nước cấp kinh phí

hoạt động và công nhận văn bằng một cách chính thức. Địa vị pháp lý hay mức

độ độc lập của một TĐH còn phụ thuộc vào khả năng tài chính của nó.

Các ĐHQG có địa vị pháp lý đặc biệt, chỉ chịu sự QLNN mà không chịu

sự quản lý chủ quản, hoạt động theo cơ chế TC&TNXH cao, dưới sự quản lý

trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ. Với ưu thế này, các ĐHQG phần nào đáp

ứng yêu cầu khách quan cải tiến cơ chế quản lý GDĐH phù hợp và phục vụ tốt



16



quá trình đổi mới KT-XH cũng như xoá bỏ những bất hợp lý đang tồn tại trong

hệ thống GDĐH. Tuy nhiên, do chưa có vị trí pháp lý đầy đủ nên trong một số

trường hợp, các ĐHQG trở thành tầng quản lý trung gian.

Nhìn chung, địa vị pháp lý của các TĐH chưa bảo đảm tính độc lập cao

cần có, nó được xác lập theo cách riêng biệt và chưa rõ ràng nên không chỉ hạn

chế sự tự chủ mà còn tạo ra bất bình đẳng giữa các trường.

1.2.1.2. Cấu trúc trường đại học

Hiện nay, cấu trúc tổ chức TĐH ở nước ta về cơ bản vẫn theo cấu trúc tổ

chức của các TĐH ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu, được tổ chức trên cơ

sở khoa và bộ môn, với nhiều cấp bậc quản lý (cấp hiệu trưởng, cấp phòng ban

chức năng và cấp khoa, bộ môn) và với phương thức quản lý theo kiểu “từ trên xuống”, quyền lực quản lý tập trung chủ yếu vào hiệu trưởng nhà trường. Theo

Điều lệ TĐH, cơ cấu tổ chức của TĐH gồm có:

- Hội đồng trường;

- Hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng;

- Hội đồng khoa học và đào tạo; các Hội đồng tư vấn khác;

- Các phòng/ban chức năng;

- Các khoa, bộ môn trực thuộc trường; các bộ môn thuộc khoa;

- Các tổ chức NCKH; các đơn vị sản xuất và dịch vụ.

Hội đồng trường là tổ chức quản trị, đại diện chủ sở hữu nhà trường. Hội



Formatted: No underline



đồng trường quyết nghị các chủ trương lớn giúp thực hiện quyền TC&TNXH

của TĐH; tư vấn cho hiệu trưởng trong các vấn đề về chính sách, quy chế,

chương trình đào tạo, cơ cấu tổ chức nhà trường. Nó làm cầu nối giữa chủ sở

hữu và xã hội với nhà trường; xây dựng các chủ trương chính sách, đảm bảo sự

hoàn thành nhiệm vụ của nhà trường.

Hiệu trưởng là người đại diện theo pháp luật của trường, chịu trách nhiệm



Formatted: No underline



trực tiếp quản lý và điều hành các hoạt động của trường theo các quy định hiện

hành. Hiệu trưởng triển khai thực hiện các quyết nghị của hội đồng trường.

Hội đồng khoa học và đào tạo có chức năng tư vấn cho hiệu trưởng về

công tác đào tạo, NCKH và các công việc khác của nhà trường.



17



Formatted: No underline



Các phòng/ban chức năng có nhiệm vụ tham mưu và giúp việc hiệu



Formatted: No underline



trưởng trong quản lý và tổ chức thực hiện các công việc của trường.

Khoa và bộ môn trực thuộc là đơn vị quản lý hành chính, thực hiện các



Formatted: No underline



nhiệm vụ: xây dựng chương trình, kế hoạch giảng dạy, học tập, quản lý chất

lượng và chủ trì tổ chức đào tạo một hoặc một số ngành do khoa, bộ môn đảm

trách; tổ chức hoạt động NCKH, phối hợp với các doanh nghiệp, cơ sở sản

xuất… để gắn đào tạo, NCKH với sản xuất kinh doanh và nhu cầu xã hội.

Bộ môn thuộc khoa là tế bào của trường, chịu trách nhiệm về học thuật



Formatted: No underline



trong các hoạt động đào tạo và NCKH. Bộ môn có nhiệm vụ: đảm bảo nội dung,

chất lượng, tiến độ giảng dạy, học tập một số môn học trong chương trình, kế

hoạch của trường, khoa.

Các tổ chức NCKH và các đơn vị sự nghiệp được tổ chức theo hình thức

viện, trung tâm, phòng… nhằm nghiên cứu, phát triển KH&CN, triển khai các



Formatted: No underline

Formatted: No underline



hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi

dưỡng, và ứng dụng tri thức vào thực tiễn.

Các tổ chức sản xuất, dịch vụ và phục vụ có nhiệm vụ phục vụ công tác

đào tạo và NCKH của trường, như: hệ thống thông tin - thư viện, xuất bản, in ấn,

trường thực hành, phòng truyền thống, nhà văn hóa - thể thao, ký túc xá…

Thực tiễn đổi mới GDĐH trên thế giới cho thấy nhiều TĐH đã liên kết với

nhau tạo thành những “Hệ thống ĐH - một thực thể tập hợp nhiều TĐH gắn kết

chặt với nhau và thường nằm ở nhiều khu vực địa lý khác nhau”. Về mặt quản

trị, các TĐH thuộc một hệ thống ĐH được lãnh đạo bởi một cơ quan quản lý là

hội đồng quản trị. Về lý luận và thực tiễn, mô hình hệ thống là cần thiết và phù

hợp khi phải quản lý tập hợp các TĐH được giao quyền TC&TNXH cao.

Ở nước ta, hai ĐHQG được Chính phủ thành lập với mục đích xây dựng

thành những trung tâm đào tạo, nghiên cứu và triển khai ứng dụng KH&CN đa

ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Với

cơ cấu đa ngành, đa lĩnh vực, ĐHQG đã tạo được sự kết hợp chặt chẽ những thế

mạnh của các ngành, lĩnh vực trong đào tạo, NCKH và giải quyết những vấn đề

khoa học, kinh tế, xã hội, môi trường... có tính liên ngành, liên lĩnh vực. Mô hình



18



Formatted: No underline



“hệ thống” của hai ĐHQG được lãnh đạo, điều hành bởi BCH Đảng bộ, Hội

đồng và Ban Giám đốc ĐHQG. Hệ thống ĐHQG bao gồm nhiều đơn vị trực

thuộc không khép kín về hoạt động chuyên môn, đội ngũ CBVC và cơ sở vật

chất; được trao quyền tự chủ cao trong tổ chức và hoạt động, phát triển trong xu

thế cải cách GDĐH theo hướng tăng cường TC&TNXH cho TĐH. Đây là tiền

đề và xuất phát điểm của yêu cầu tồn tại và phát triển ĐHQG, đồng thời cũng là

mô hình thí điểm của việc giao quyền TC&TNXH cao cho TĐH, từ đó làm tiền

đề nhân rộng ra cho các TĐH khác trong hệ thống GDĐH nước ta.

1.2.1.3. Cơ chế chủ quản và sự phân phối thẩm quyền quản lý trường đại học

 Cơ chế chủ quản

Cơ chế chủ quản được hình thành từ sự phân cấp ngang trong quản lý, hản

ánh quan hệ sở hữu và sự can thiệp của cơ quan QLNN vào TĐH. Với quyền

chủ sở hữu, các cơ quan chủ quản can thiệp nhiều mặt vào TĐH và thường đồng

nhất quyền này với quyền quản lý vĩ mô. Hệ quả là các TĐH phải hoạt động

trong hệ thống quản lý kép, tầng nấc nhiều hơn mức cần thiết. Sự không tách

bạch các quyền trên làm lẫn lộn thẩm quyền quản lý và các trường thiếu sự tự

chủ hơn. Với cơ chế chủ quản, các bộ, ngành thực hiện cùng lúc hai chức năng:

vừa QLNN, vừa quản lý trực tiếp và quyết định hầu hết các công việc then chốt

của TĐH. Hiệu trưởng chỉ là người đại diện, thực hiện quản lý nhà trường theo

sự chỉ đạo của cơ quan chủ quản và nhận kinh phí hoạt động do Nhà nước cấp



.



Ngoài ra , còn có cơ quan không phải cơ quan QLNN nhưng cũng quản lý trực

tiếp các trường và được xem như cơ quan “bán chủ quản”, đó là các ĐHQG.

Mặt tích cực của cơ chế chủ quản là tạo thuận lợi cho cơ quan Nhà nước

trong quản lý, tập trung đầu tư hoặc thực hiện các chính sách ưu tiên và kiểm

soát chặt chẽ các TĐH. Tuy nhiên, nó cũng bộc lộ những hạn chế như:

Thứ nhất, dẫn đến sự phân tán và chồng chéo, làm giảm hiệu lực và hiệu

quả cả trong quản lý vĩ mô và vi mô, xa rời các nguyên tắc quản trị. Quan hệ chủ

quản làm cho chức năng QLNN bị lẫn lộn và việc xác định trách nhiệm của các

chủ thể quản lý gặp khó khăn. Mặt khác, việc một trường bị chi phối cùng lúc

của nhiều cơ quan, làm khả năng tự chủ của nó bị hạn chế.



19



Thứ hai, các Bộ , ngành sa đà vào các công viê ̣c có tính sự vu ̣



của TĐH



thay vì phải tập trung vào quản lý vĩ mô, nhất là khó tránh khỏi sự can thiệp sâu

của các cơ quan chủ quản làm sự quyết đoán, sáng tạo của các trường bị hạn chế.

Thứ ba, tạo sự khép kín và cục bộ trong một cơ quan chủ quản, sự lệ thuộc

của TĐH vào cơ quan chủ quản - đây là mầm móng của hiện tượng “xin - cho”.

Hiện nay, cơ chế chủ quản vẫn chưa được tháo gỡ, một phần do quán tinh

́

của cơ chế quản lý kinh tế tâ ̣p trung quan liêu bao cấ p , một phần do mối quan hệ

hai chiều với những lợi ích thiết thực, cụ thể và sự phân chia quyền lực rất chặt

chẽ cho cả hai phía: cơ quan chủ quản và các TĐH.

 Sự phân phối thẩm quyền quản lý trường đại học

Cách thức phân phối thẩm quyền ra quyết định ảnh hưởng tới cách vận

hành của hệ thống GDĐH và của từng TĐH. Nó bị chi phối bởi chiến lược

QLNN đối với GDĐH nói chung và TĐH nói riêng. Phương thức quản lý trung

ương tập quyền hạn chế sự trao quyền cho TĐH. Điều này đồng nghĩa với việc

hạn chế sự linh hoạt hay sáng tạo của TĐH. Mặt khác, các yếu tố bên ngoài cũng

ảnh hưởng tới sự phân phối thẩm quyền ra quyết định và việc quản lý TĐH.

Khả năng hành động chủ động hay sáng tạo của một TĐH phụ thuộc vào

hai yếu tố dưới đây:

Thứ nhất, sự phân phối thẩm quyền ra quyết định. Nếu xét thẩm quyền ra

quyết định ở ba cấp độ là: 1) Bộ máy của Chính phủ/Bộ; 2) Hội đồng trường/Ban

giám hiệu (cấp trường); và 3) Khoa/bộ môn thuộc trường, có thể thấy một số

cách phân phối thẩm quyền có tính bao quát như: i) Kiểu đặc trưng cho các TĐH

ở châu Âu: quyền hạn chủ yếu được giao cho khoa/bộ môn và đội ngũ giảng

viên, tiếp đến là bộ máy hành chính của Chính phủ/Bộ, và rất ít cho quản lý cấp

trường; ii) Kiểu đặc trưng cho các TĐH ở vương quốc Anh: theo kiểu này quyền

hạn cũng được giao chủ yếu cho khoa/bộ môn và giảng viên, sau đó đến cấp

trường; còn cấp Chính phủ/Bộ lại ít có ảnh hưởng, gần như không can thiệp trực

tiếp vào TĐH; iii) Kiểu đặc trưng cho các TĐH ở Hoa Kỳ: quyền hạn chủ yếu

được giao cho cấp trường (hội đồng quản trị và bộ máy hành chính), kế đến là

khoa/bộ môn, và gần như rất ít cho cấp Chính phủ/Bộ; và iv) Kiểu kết hợp: cụ



20



thể là Nhật Bản, thẩm quyền có thể được phân giao cho bất kỳ cấp nào, tuỳ theo

loại hình và đặc điểm văn hoá từng trường [54].

Cấp



A



B



C



D



E



a) Chính phủ/Bộ



2



3



3



2



1



b) Trường ĐH



3



2



1



1



c) Khoa/Bộ môn



1



1



2



3



Châu Âu



Anh



Hoa Kỳ



2



3



Một số nước đang phát

triển, trong đó có VN



(Nguồn: Burton Clark, 1983)

Sơ đồ 1.1: Các kiểu phân chia thẩm quyền ở GDĐH

Thứ hai, cơ cấu ra quyết định trong hệ thống GDĐH. Mức độ quản lý

tương quan giữa các cơ quan QLNN và các TĐH được người ta khái quát thành

hai kiểu cơ cấu quản lý cơ bản là: “từ dưới - lên” và “từ trên - xuống”. Với kiểu

“từ dưới - lên”, chính sách Nhà nước thường theo sau các quá trình thay đổi do

cấp trường chủ động. Các trường có quyền tự chủ cao còn cơ chế kiểm soát thì

thường dựa vào thị trường cạnh tranh hơn là thẩm quyền pháp lý của Nhà nước.

Với kiểu “từ trên - xuống”, nhà trường chỉ đơn thuần thực hiện các sáng kiến

chính sách của Nhà nước, thụ động và thiếu sáng tạo.

Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy, đa số các nước có cách phân chia

thẩm quyền theo kiểu “nhẹ trên”, “nặng dưới”, tập trung thẩm quyền ra quyết

định chủ yếu ở cấp trường - khoa - bộ môn hoặc ở cấp trường (kiểu A, B, C).

Trong đó, hội đồng trường là hội đồng quyền lực có trách nhiệm quản trị nhà

trường. Theo các nhà nghiên cứu, để tăng quyền tự chủ cho TĐH ở nước ta, nên

chuyển phân chia thẩm quyền quản lý từ kiểu “E” sang “D”. Tức là TĐH được

giao quyền tự chủ nhiều hơn, mọi hoạt động của nhà trường do hội đồng trường,

lãnh đạo nhà trường quyết định và chịu trách nhiệm trước các bên có liên quan.



21



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (117 trang)

×