1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ NHẰM TĂNG CƯỜNG HƠN NỮA QUYỀN TỰ CHỦ VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VỀ TỔ CHỨC VÀ NHÂN SỰ - TRƯỜNG HỢP ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.59 MB, 117 trang )


của ĐHQGHN cũng như các đơn vị trực thuộc theo hướng đảm bảo và phát huy

tốt nhất quyền TC&TNXH cao được Nhà nước trao cho; thực hiện quyền tự chủ

phải đi đôi với chịu TNXH, phân cấp quản lý mạnh mẽ đi đôi với tăng cường

kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Các vấn đề cốt yếu có liên quan như: đảm bảo quyền

TC&TNXH của ĐHQGHN và các đơn vị trực thuộc được thực thi an toàn, phân

cấp quản lý toàn diện và triệt để trên tất cả các lĩnh vực hoạt động đối với các

đơn vị trực thuộc, xây dựng môi trường bình đẳng, đẩy mạnh liên kết giữa các

đơn vị trong các hoạt động, xác định mô hình cơ cấu tổ chức và cơ chế tuyển

dụng, quản lý và sử dụng đội ngũ CBVC... đều được đề cập một cách hài hòa.

Tính toàn diện của các giải pháp còn đòi hỏi đảm bảo hài hòa các mối quan

hệ giữa các bên có liên quan đến công tác này. Từ mối quan hệ giữa các cấp

quản lý trực tiếp của Thủ tướng và gián tiếp của Bộ GD&ĐT, của các bộ, ngành

khác với ĐHQGHN trong quá trình tổ chức và hoạt động. Khi ĐHQGHN xây

dựng các kế hoạch, đề xuất các giải pháp quản lý đều phải đối chiếu và xem xét

các mối quan hệ giữa Văn phòng, các ban chức năng với các đơn vị trực thuộc

để bảo đảm sự thống nhất và toàn diện trong quá trình thực hiện các giải pháp.

3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

Những giải pháp được đề xuất mang tính cải tiến tác động đến chấ t lươ ̣ng ,

hiệu quả của công tác quản lý ở ĐHQGHN nhằm phát huy cao nhất tính tích cực

của quyền TC&TNXH. Cải tiến đòi hỏi phải có sự đầu tư các nguồn lực xác

định, do vậy cần đến những chi phí về vật chất và tinh thần của các lực lượng

tham gia vào công tác này. Hơn nữa, cải tiến là nhằm làm cho tốt hơn, nếu không

sự cải tiến trở thành tốn kém và vô ích. Do vậy cần chú trọng tới nguyên tắc tính

hiệu quả khi đề xuất và thực hiện các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý nhằm

tăng cường hơn nữa quyền TC&TNXH của ĐHQGHN.

Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả cho thấy khi đề xuất các giải pháp



quản lý, chúng ta phải quan tâm tới các điều kiện: các giải pháp phải tuân

thủ các quy định của Nhà nước và phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của

ĐHQGHN như năng lực của CBVC, điều kiện tài chính, cơ sở vật chất, nhu

cầu của người học và xã hội. Ngoài ra, tính hiệu quả còn thể hiện ở các khâu

69



quản lý từ cấp ĐHQGHN cho đến cấp đơn vị đều có chung một mục tiêu là

hoàn thiện mô hình ĐH đa ngành, đa lĩnh vực, định hướng nghiên cứu.

Quá trình lựa chọn một giải pháp nào đó đều được cân nhắc đến tính vừa

sức so với các điều kiện nguồn lực hiện có. Giải pháp nào đưa đến kết quả cao

nhất, với tính khả thi cao và chi phí nguồn lực hợp lý sẽ được lựa chọn. Các yếu

tố môi trường xã hội, cơ chế quản lý đang chi phối đến ĐHQGHN cũng được

tính đến để tránh những rủi ro không đáng có xảy ra.

3.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính định hướng sử dụng

Các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý được đề xuất phục vụ cho

ĐHQGHN và các đơn vị trực thuộc trực tiếp thực thi nhằm hoàn thiện cơ chế tổ

chức và hoạt động để phù hợp với quyền TC&TNXH cao về tổ chức và nhân sự

đã được Nhà nước thí điểm trao cho. Một số đề xuất, khuyến nghị được đưa ra

với Chính phủ, Bộ GD&ĐT, các bộ, ngành khác và các nhóm lợi ích liên quan

nhằm tạo ra một hiệu quả chung cao nhất cho các TĐH của nước ta nói chung và

ĐHQGHN nói riêng trong xu hướng đổi mới hiện nay.

Với định hướng là để sử dụng chung trong toàn ĐHQGHN, các giải pháp

được tính đến sự khác nhau giữa các TĐH thành viên, viện NCKH và đơn vị trực

thuộc về môi trường, điều kiện, khả năng thực hiện chức năng, nhiệm vụ nếu

được trao quyền tự chủ, trong đó cũng xem xét đến một số tồn tại, hạn chế như

tư tưởng cục bộ, khép kín, sức ỳ của các đơn vị do ảnh hưởng của cơ chế xin cho, quan liêu bao cấp... nhằm hạn chế bớt khoảng cách bất lợi trong áp dụng và

thực hiện từng giải pháp phù hợp ở cấp ĐHQGHN và cấp các đơn vị trực thuộc.

3.2. Căn cứ đề xuất giải pháp

3.2.1. Mục tiêu chiến lược và định hướng phát triển

3.2.1.1. Mục tiêu chiến lược đến năm 2020

Phấn đấu xây dựng ĐHQGHN trở thành ĐH đa ngành, đa lĩnh vực, định

hướng nghiên cứu ngang tầm các ĐH tiên tiến trong khu vực châu Á, trong đó có

một số lĩnh vực và nhiều ngành, chuyên ngành đạt trình độ quốc tế, góp phần

phát triển nền kinh tế tri thức và đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp

theo hướng hiện đại.



70



Formatted: H3, Left, Indent: First line: 0",

Line spacing: single



3.2.1.2. Định hướng phát triển

Để đạt mục tiêu chiến lược trên, ĐHQGHN định hướng phát triển như sau:

- Đào tạo NNL chất lượng cao, đạt chuẩn khu vực, từng bước tiếp cận

trình độ quốc tế và bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH,

HĐH đất nước. Sáng tạo và chuyển giao những kết quả, sản phẩm NCKH và

phát triển công nghệ tiên tiến, có giá trị lý luận và thực tiễn tầm cỡ quốc tế.

- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý hiện đại, hiệu quả theo mô

hình ĐH nghiên cứu tiên tiến, có quyền TC&TNXH cao, liên kết chặt chẽ với

viện nghiên cứu, cơ quan, doanh nghiệp, có cơ cấu hợp lý về cả khoa học cơ bản,

công nghệ, KT-XH, ngoại ngữ, nhân văn, luật, giáo dục, y tế… làm nòng cốt của

hệ thống GDĐH nước ta, độc lập tự chủ và vững vàng hội nhập quốc tế.

- Phát triển đội ngũ CBKH trình độ cao, đạt tiêu chuẩn quốc tế làm nền

tảng cho sự phát triển GD&ĐT, KH&CN của ĐHQGHN và của cả nước; cán bộ,

giảng viên của ĐHQGHN có thể giảng dạy và nghiên cứu ở nước ngoài.

- Hợp tác, liên kết với các cơ sở GDĐH và NCKH có uy tín trong nước và

quốc tế trong việc triển khai các hoạt động học thuật, góp phần đào tạo NNL

chất lượng cao, phát triển KH&CN và đáp ứng các yêu cầu của KT-XH.

- Phát triển hệ thống trang thiết bị, phòng thí nghiệm và cơ sở vật chất

tương xứng với yêu cầu và vị thế của trung tâm ĐH hàng đầu của cả nước, đáp

ứng yêu cầu đào tạo, NCKH chất lượng cao, hiệu quả cao.

- Nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước được phát triển đa dạng và bền

vững để xây dựng, phát triển ĐHQGHN đạt chuẩn quốc tế và nâng cao đời sống

CBVC thông qua hợp tác với các tổ chức, doanh nghiệp bên ngoài; tăng nguồn

thu từ các hoạt động đào tạo, NCKH, chuyển giao công nghệ và hợp tác quốc tế.

3.2.2. Cơ hội và thách thức



Formatted: H3, Left, Indent: First line: 0",

Line spacing: single



3.2.2.1. Cơ hội

- ĐHQGHN được Nhà nước trao quyền TC&TNXH cao trong các lĩnh

vực hoạt động; được thực hiện một số nhiệm vụ QLNN tương đương với các bộ,

ngành trung ương; được hoạt động theo cơ chế không có bộ chủ quản, chỉ chịu

sự QLNN của các bộ, ngành và là đơn vị chủ quản của các đơn vị trực thuộc.



71



Đây là những cơ hội tốt để ĐHQGHN thực hiện phân cấp quản lý mạnh mẽ về

công tác tổ chức và nhân sự cho các đơn vị trực thuộc; ban hành các quy định cụ

thể về quản lý tổ chức, bộ máy, biên chế, nhân sự theo quy định của Nhà nước

để dần từ bỏ cơ chế quản lý hành chính quan liêu bao cấp hiện nay.

- Cơ hội nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH, trình độ quản lý và hiện

đại hóa cơ sở vật chất thông qua thu hút các nguồn lực tài chính, nhân lực và

chuyển giao công nghệ đào tạo từ bên ngoài (các TĐH tiên tiến, các tổ chức giáo

dục, KH&CN trên thế giới …) bằng các hoạt động hợp tác đa dạng (liên kết đào

tạo, NCKH, tham gia các mạng lưới quốc tế…) được hình thành dưới tác động

của quá trình toàn cầu hóa, liên kết khu vực và hội nhập kinh tế quốc tế.

- Cơ hội đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội và nền kinh tế đối với

NNL chất lượng cao cũng như sản phẩm NCKH có tính ứng dụng thực tiễn cao,

đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang bước sang một giai đoạn phát

triển mới, khác về chất so với giai đoạn phát triển trước: hướng tới sự phát triển

bền vững và nền kinh tế tri thức.

- Cơ hội thúc đẩy mạnh mẽ sự sáng tạo và đổi mới trong quản lý, đào tạo

và NCKH trong bối cảnh đổi mới hệ thống GD&ĐT, KH&CN của đất nước

cũng như cơ hội tận dụng được sự quan tâm và hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và

các bộ, ngành có liên quan đối với các cơ sở GDĐH chất lượng cao.

3.2.2.2. Thách thức

- Bối cảnh toàn cầu hóa với việc thực hiện các cam kết quốc tế như BTA,

AFTA và gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, thị trường giáo dục tự do

GAST làm cho sự cạnh tranh giữa các TĐH trong và ngoài nước trở nên gay gắt.

Các TĐH nước ta đứng trước những thách thức rất to lớn, đặc biệt là ĐHQGHN

với vai trò là nòng cốt và đầu tàu đổi mới của hệ thống GDĐH của cả nước.

- Các lợi thế ngắn hạn, không bền vững mang lại do chính sách ưu tiên đầu

tư của Nhà nước cho các ĐHQG, trong đó có ĐHQGHN đang giảm theo thời

gian và được nhân rộng cho nhiều TĐH trọng điểm khác. Việc thực hiện các cam

kết quốc tế trong lĩnh vực dịch vụ công sẽ dẫn tới việc nhiều TĐH nước ngoài

với sự dồi dào về nguồn lực tài chính, nhân lực và có nhiều kinh nghiệm trong



72



cung cấp dịch vụ đào tạo, NCKH chất lượng cao không những sẽ cạnh tranh với

các TĐH trong nước để thu hút người học mà còn thu hút cả NNL trình độ cao,

gây nguy cơ chảy máu chất xám ra bên ngoài, thậm chí ngay ở trong nước.

- Cấp ĐHQGHN đã có Hội đồng ĐHQGHN. Tuy nhiên, các TĐH thành

viên lại chưa thành lập hội đồng trường để đại diện cho cộng đồng xã hội và làm

cơ sở để phân cấp, tập trung phần lớn thẩm quyền ra quyết định cho cấp trường,

nâng cao TNXH của trường nhằm tăng năng lực cạnh tranh.

- Quan niệm về mô hình tổ chức còn chưa thống nhất. Việc thành lập

ĐHQGHN là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nhưng việc triển

khai thực hiện chủ trương này ở một số cấp quản lý còn thiếu nhất quán, làm ảnh

hưởng đến tư tưởng của cán bộ, sinh viên và sự phát triển của ĐHQGHN.

- Quyền tự chủ về tổ chức và nhân sự được trao cho ĐHQGHN chưa thực

sự gắn với quyền quyết định về chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm. Mặt khác quyền tự

chủ về nhân sự của ĐHQGHN chưa liên thông tốt với quyền tự chủ về tài chính

vì quỹ lương chi trả cho CBVC phần chính là từ nguồn thu học phí và gắn với số

lượng người học, trong khi ĐHQGHN chưa có thẩm quyền quy định mức học

phí, chưa được chủ động trong sử dụng ngân sách nhà nước để xây dựng chế độ,

chính sách đặc biệt để thu hút, đãi ngộ đội ngũ CBKH trình độ cao.

- Quyền TC&TNXH về tổ chức và nhân sự của ĐHQGHN còn bị hạn chế

bởi các quy định cứng nhắc của Nhà nước về tuyển dụng, hợp đồng lao động,

thang bảng lương; tự chủ về nhân sự chưa gắn kết với tự chủ về tài chính…

3.3. Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý nhằm tăng cƣờng hơn nữa quyền tự

chủ và trách nhiệm xã hội của Đại học Quốc gia Hà Nội về công tác tổ chức

và nhân sự

3.3.1. Tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các đơn vị trực

thuộc

Bản chất của việc bảo đảm quyền TC&TNXH cho các tổ chức GDĐH là

hướng tới việc tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng để từng tổ chức tự quyết định

tương lai, tự lựa chọn ưu tiên để phát triển và chịu trách nhiệm đối với phần

công việc của mình mà không bị “cản trở”, ít nhất là từ các cơ quan QLNN. Điều



73



này đặt ra một số yêu cầu: Thứ nhất, một số thẩm quyền quản lý không thuộc

chức năng quản lý vĩ mô sẽ dần được chuyển giao xuống cấp dưới. Thứ hai, xác

định và thể chế hoá vai trò, chức năng các cấp quản lý. Thứ ba, thực hiện tốt

công tác kiểm tra, giám sát. Thứ tư, mở rộng dân chủ ở cấp đơn vị. Hội nghị

trung ương 6, khoá IX đã kết luận: “Thực hiện mạnh mẽ phân cấp QLGD, phát

huy tính chủ động, TNXH của các cơ sở GDĐH nhất là các TĐH…”.

Với quyền TC&TNXH cao của mình, ĐHQGHN cần từng bước xóa bỏ cơ

chế quản lý hành chính nặng về “mệnh lệnh”, “xin - cho”, chuyển sang quản lý

theo chất lượng và hiệu quả hoạt động. Song song đó, cần tăng cường công tác

kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động nhằm bảo đảm sự trung thực

và minh bạch của các đơn vị trong hoạt động và cung cấp dịch vụ GDĐH cũng

như việc sử dụng các nguồn lực.



Kết quả phỏng vấn các CBQL trong ĐHQGHN cho thấy:

“...vấn đề mấu chốt nhất để xây dựng mô hình ĐH đa ngành, đa lĩnh vực, có quyền

TC&TNXH cao của ĐHQGHN hiện nay, theo tôi, phải có được một cơ chế phân cấp quản

lý hợp lý hơn nữa cho các đơn vị trực thuộc, đặc biệt đối với các TĐH thành viên, viện

nghiên cứu. Làm thế nào cho họ có quyền chủ động thực sự trong xây dựng cơ cấu tổ chức,

bộ máy quản lý, nhân sự, tài chính, quan hệ hợp tác... để hoạt động đạt hiệu quả cao nhất.

Vì sao? Bởi, các đơn vị phải “mạnh” thì ĐHQGHN mới “mạnh” được. Mà các đơn vị

muốn “mạnh” thì họ phải được chủ động để sáng tạo trong huy động các nguồn lực, phát

huy lợi thế của riêng họ, kết hợp với liên thông, liên kết với các đơn vị khác để thực hiện

tốt nhất nhiệm vụ được giao, từ đó tạo nên sức mạnh tổng hợp chung cho toàn

ĐHQGHN... tuy nhiên cần lưu ý, đi đôi với phân cấp quản lý cho các đơn vị, chúng ta cần

phải có cơ chế để kiểm tra, giám sát, trong đó cần quy định rõ trách nhiệm của đơn vị đối

với các nhiệm vụ được phân cấp...”. (Nam, PGS, TS, Trường ĐHKHTN)

“Mô hình ĐHQGHN hiện nay vẫn chưa ổn định, còn nhiều chắp vá, về cơ bản vẫn

theo khung mẫu của Liên Xô cũ và các nước Đông Âu mà một đặc điểm nổi bật là cơ cấu

tổ chức và quản lý theo kiểu “từ trên - xuống”... Bởi vậy, “vấn đề đầu tiên của phương

hướng xây dựng ĐHQGHN thành trung tâm đào tạo, NCKH đẳng cấp quốc tế, với cơ chế

quản trị ĐH tiên tiến là phải chuyển đổi mô hình tổ chức ĐH từ khung mẫu của Liên Xô và

những khiếm khuyết hiện có sang khung mẫu của các nước có nền GDĐH phát triển, nên

theo mô hình của các ĐH ở Hoa Kỳ, trong đó thẩm quyền ra quyết định quản lý cần trao

cho các đơn vị trực thuộc nhiều hơn nữa...”.

(Nam, TS, Trường ĐHKHXH&NV)



74



Do đó, ĐHQGHN cần tăng cường phân cấp quản lý, trao quyền tự chủ

mạnh mẽ cho các đơn vị trực thuộc theo hướng trao quyền quyết định nhiều nhất

cho thủ trưởng đơn vị nhằm bảo đảm tính thống nhất, chủ động và sáng tạo trong

hoạt động của các đơn vị. ĐHQGHN hạn chế can thiệp sâu vào các hoạt động tác

nghiệp cụ thể hay quyết định đối với những vấn đề riêng của các đơn vị cũng

như yêu cầu các đơn vị phải xin “ý kiến hình thức” về các vấn đề như thành lập

tổ chức, nhân sự, cách thức chi tiêu... Thay vào đó, ĐHQGHN tập trung thiết lập

môi trường thúc đẩy sự tự chủ, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh

giá hiệu quả hoạt động đối với các nhiệm vụ đã được phân cấp.

Hiện nay, trong ĐHQGHN bao gồm 36 đơn vị trực thuộc, có chức năng,

nhiệm vụ, quy mô tổ chức và năng lực hoạt động khác nhau, nên để có cơ sở cho

việc phân cấp quản lý và xác định quyền TC&TNXH phù hợp với từng loại đơn

vị, trước tiên ĐHQGHN cần phân loại lại các đơn vị trực thuộc.

3.3.1.1. Phân loại đơn vị trực thuộc

Hiện nay, nhiều đơn vị sự nghiệp có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài

khoản riêng trực thuộc ĐHQGHN và thuộc các đơn vị trực thuộc chưa được

phân loại. Điều này đã gây nên sự thiếu thống nhất về phân loại các đơn vị trực

thuộc. Trên thực tế, việc phân loại đơn vị sự nghiệp theo nguyên tắc và các tiêu

chí nhất định không những khắc phục tình trạng trên mà còn làm cơ sở cho việc

thực hiện các chế độ, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của mỗi

đơn vị, đổi mới phương thức phân cấp, phân quyền quản lý, xác định cách thức

đầu tư phù hợp cho mỗi loại hình đơn vị theo hệ thống phân loại.

“…các đơn vị trực thuộc ĐHQGHN đều là đơn vị sự nghiệp, có tư cách pháp nhân,

con dấu, tài khoản riêng và được xếp theo nhiều loại hình. Vì vậy, để đảm bảo thực thi tốt

quyền TC&TNXH của ĐHQGHN, điều trước tiên phải làm là phân loại lại các đơn vị để

có cơ sở xác định mức độ giao quyền TC&TNXH. Việc phân loại các đơn vị phù hợp với

chức năng, nhiệm vụ, quy mô hoạt động, khả năng tài chính… sẽ giúp quá trình xác định

và ra quyết định về mức độ quyền TC&TNXH của các đơn vị đảm bảo tính khoa học. Trên

cơ sở phân loại đó điều thiết yếu là xác định rõ vai trò quản lý của ĐHQGHN, tạo điều

kiện để các đơn vị được chủ động trong mọi hoạt động. Việc tăng cường phân cấp quản lý,

đảm bảo quyền TC&TNXH cho các đơn vị muốn thực hiện được cần có sự chỉ đạo thống

nhất của ĐHQGHN để đảm bảo hiệu lực và tính khả thi...”. (Nam, PGS, TS, ĐHQGHN)



75



Trước đây, ĐHQGHN đã phân loại các đơn vị trực thuộc theo các tiêu chí

quy định tại Nghị định 43, tức là dựa vào mức độ tự chủ về tài chính, nguồn thu

sự nghiệp của các đơn vị để phân loại và trao quyền tự chủ. Theo đó, các đơn vị

trực thuộc ĐHQGHN được phân loại thành 03 nhóm:

1) Nhóm các đơn vị sự nghiệp được cấp toàn bộ chi phí hoạt động thường

xuyên từ ngân sách nhà nước, như: Cơ quan ĐHQGHN, Tạp chí Khoa học.

2) Nhóm các đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt

động thường xuyên, như: các TĐH thành viên, khoa trực thuộc, viện nghiên cứu,

các trung tâm đào tạo, nghiên cứu KH&CN và phục vụ.

3) Các đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường

xuyên, như: Nhà Xuất bản, Nhà In, một số đơn vị đào tạo, NCKH và phục vụ.

Thực tiễn cho thấy, việc phân loại các đơn vị sự nghiệp nếu chỉ dựa chủ

yếu vào mức độ tự chủ về tài chính là chưa thực sự hợp lý. Do đó, phân loại đơn

vị trực thuộc ĐHQGHN cần căn cứ thêm các tiêu chí tại Quy định về phân loại, xếp

hạng các tổ chức sự nghiệp dịch vụ công lập ban hành theo Quyết định số

181/2005/QĐ-TTg ngày 19/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ. Đó là các tiêu chí:

- Loại hình và tính chất tổ chức; ngành, lĩnh vực hoạt động của tổ chức.

- Cấp quản lý, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức.

- Ngành nghề, chuyên môn, nghiệp vụ của tổ chức.

Theo đó, ĐHQGHN nên phân loại các đơn vị trực thuộc thành 03 nhóm: i)

Các đơn vị đào tạo; ii) Các đơn vị nghiên cứu KH&CN; iii) Các đơn vị phục vụ,

dịch vụ. Và trong mỗi nhóm đơn vị này, cần phân loại theo mức độ tự chủ về tài

chính theo Nghị định 43. Như vậy, có thể phân loại 36 đơn vị trực thuộc ĐHQGHN

như sau:

 Nhóm một, các đơn vị đào tạo (16 đơn vị), trong đó:

* Các đơn vị có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên:

- Trường Đại học Khoa học Tự nhiên.

- Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

- Trường Đại học Ngoại ngữ.

- Trường Đại học Công nghệ.



76



- Trường Đại học Kinh tế.

- Trường Đại học Giáo dục.

- Khoa Luật.

- Khoa Sau đại học.

- Khoa Y - Dược.

- Trung tâm Đào tạo, Bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị.

- Trung tâm Giáo dục Quốc phòng - An ninh.

- Trung tâm Giáo dục Thể chất và Thể thao.

* Các đơn vị có thu tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên:

- Khoa Quốc tế.

- Khoa Quản trị kinh doanh.

- Trung tâm Công nghệ đào tạo và Hệ thống việc làm.

- Trung tâm Phát triển hệ thống.

 Nhóm hai, các đơn vị nghiên cứu KH&CN (9 đơn vị), trong đó:

* Các đơn vị có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên:

- Viện Công nghệ Thông tin.

- Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển.

- Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học.

- Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục.

* Các đơn vị có thu tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên:

- Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường.

- Trung tâm Nghiên cứu về Phụ nữ.

- Trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo.

- Trung tâm Quốc tế nghiên cứu biến đổi toàn cầu.

- Trung tâm Nghiên cứu Đô thị.

 Nhóm ba, các đơn vị phục vụ (11 đơn vị), trong đó:

* Các đơn vị được cấp toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên:

- Tạp chí Khoa học.

* Các đơn vị có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên:

- Trung tâm Thông tin - Thư viện.

- Trung tâm Hỗ trợ sinh viên.



77



- Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và Phát triển đô thị đại học.

- Trung tâm Truyền thông và Quan hệ công chúng.

- Trung tâm Ứng dụng Công nghệ thông tin.

* Các đơn vị có thu tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên:

- Nhà Xuất bản.

- Nhà In.

- Trung tâm Hỗ trợ nghiên cứu châu Á.

- Ban Quản lý và phát triển dự án.

- Văn phòng hợp tác ĐHQGHN và Đại học Kyoto.

Trên cơ sở phân loại này, ĐHQGHN tiến hành phân cấp quản lý, trao quyền

TC&TNXH phù hợp cho từng loại đơn vị, đảm bảo cho các đơn vị được chủ

động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ được giao trên cơ sở tuân thủ các chủ

trương, chính sách của Nhà nước và các quy định của ĐHQGHN.

3.3.1.2. Xây dựng phương án tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường đại

học thành viên

Các TĐH thành viên của ĐHQGHN đều là các cơ sở GDĐH công lập do

Thủ tướng Chính phủ thành lập, hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp có thu,

tự chủ một phần chi phí hoạt động thường xuyên. Thời gian qua, căn cứ Nghị

định 43 và Thông tư 07, ĐHQGHN đã ban hành Quy định quyền tự chủ, TCTN

về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với các TĐH thành viên

(Quyết định số 426/QĐ-TCCB ngày 28/01/2010) và qua đó trao cho các trường

quyền TC&TNXH cao trong công tác tổ chức và nhân sự. Cụ thể như sau:

i) Trong công tác tổ chức: Hiệu trưởng được quyền quyết định thành lập,

tổ chức lại, giải thể, đình chỉ hoạt động tất cả các đơn vị trực thuộc trường.

ii) Trong công tác định biên: Căn cứ chức năng, nhiệm vụ, nhu cầu công

việc, khả năng tài chính, nhân lực và nguồn lực khác, hiệu trưởng xây dựng kế

hoạch biên chế hàng năm của trường và báo cáo Giám đốc ĐHQGHN phê duyệt.

iii) Trong công tác nhân sự chủ chốt: Hiệu trưởng được quyền quyết định

việc tiếp nhận, điều động, luân chuyển CBVC từ ngạch chuyên viên chính và

tương đương trở xuống; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm từ cấp chủ nhiệm

khoa và tương đương trở xuống và chịu trách nhiệm với những quyết định này.



78



iv) Trong công tác quản lý và sử dụng nhân sự:

- Về ký hợp đồng: Hiệu trưởng được quyền ký hợp đồng thuê, khoán đối

với những công việc không cần bố trí biên chế thường xuyên; ký hợp đồng lao

động và các hình thức hợp tác khác với chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài

nước để đáp ứng yêu cầu chuyên môn của trường theo quy định của pháp luật.

- Về tuyển dụng: Căn cứ kế hoạch chỉ tiêu nhân lực hàng năm đã được phê

duyệt và tiêu chuẩn, quy trình tuyển dụng của ĐHQGHN, hiệu trưởng xây dựng

kế hoạch tuyển dụng, trình Giám đốc ĐHQGHN phê duyệt. Hiệu trưởng được

quyền thực hiện tuyển dụng CBVC theo hình thức hợp đồng làm việc sau khi thi

tuyển hoặc xét tuyển phù hợp với đặc điểm chuyên môn của từng lĩnh vực cần

tuyển và điều kiện cụ thể của trường, theo tiêu chuẩn, quy trình của ĐHQGHN.

- Về bổ nhiệm ngạch, chuyển ngạch: Hiệu trưởng được quyền quyết định

chuyển ngạch, bổ nhiệm ngạch sau đào tạo hoặc sau khi thi nâng ngạch cho

CBVC từ ngạch chuyên viên chính và tương đương trở xuống; trình Giám đốc

ĐHQGHN để báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm ngạch viên chức

đối với ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương.

- Về chính sách cán bộ: Hiệu trưởng được quyền quyết định nâng bậc

lương thường xuyên và trước thời hạn, phụ cấp thâm niên vượt khung đối với

CBVC từ ngạch chuyên viên chính và tương đương trở xuống; quyết định nghỉ

hưu, thôi việc, chấm dứt hợp đồng làm việc đối với CBVC trong thẩm quyền

quản lý; trình Giám đốc ĐHQGHN quyết định việc nghỉ hưu, thôi việc đối với

những trường hợp nằm ngoài thẩm quyền quản lý của trường.

- Về việc cử, tiếp nhận CBVC đi nước ngoài: Hiệu trưởng được quyền

quyết định cử CBVC đi công tác, học tập tại nước ngoài; quyết định gia hạn, tiếp

nhận về trường đối với CBVC do trường cử đi học tập, công tác tại nước ngoài...

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện ở các trường vẫn còn nhiều bất cập.

Các trường chưa thực sự có quyền tự quyết định trong các hoạt động cụ thể. Do

đó, để khắc phục tồn tại này, một trong các biện pháp khả thi là các TĐH thành

viên phải xây dựng phương án TC&TNXH phù hợp với điều kiện của trường và

báo cáo Giám đốc ĐHQGHN phê duyệt trước khi triển khai thực hiện.



79



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (117 trang)

×