1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC TUẤN,THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.69 MB, 120 trang )


Bảng 2.1: Thống kê chất lượng giáo dục của Trường THPT Trần Quốc Tuần trong 5

năm học gần đây

Nội dung

Tỷ lệ học

sinh lên lớp

thẳng

Tỷ lệ học

sinh khá giỏi

Tỷ lệ học

sinh đỗ tốt

nghiệp

Tỷ lệ học

sinh đỗ đại

học, CĐ so

với số hồ sơ

dự thi

Số giải học

sinh giỏi cấp

thành phố

Giáo viên

dạy giỏi cấp

cụm, thành

phố

Giáo viên

tham gia đào

tạo trên

chuẩn



2008-2009



2009-2010



Năm học

2010-2011



95,4 %



96,1%



96,23%



96,6%



96,1%



45,6%



48,3%



58,7



55,5%



58,38%



93,97

(Thấp hơn

TB TP

0,5%)



100% (Vượt

TB TP

1,3%)



99,27%

(Vượt TB

TP 1,48%)



100%

(Vượt TB TP

0,18%)



99,67%

(Vượt TB

TP )



25%



33%



35%



43%



43%



5 giải



9 giải



13 giải



14 giải



21 giải



2011-2012



2012 - 2013



4 giáo viên



11 giáo viên 13 giáo viên



Sở không tổ

chức



19 giáo viên



0 giáo viên



3 giáo viên



6 giáo viên



12 giáo viên



14 giáo viên



Danh hiệu

thi đua tập

thể



Tập thể

Lao động

tiên tiến



Tập thể Lao

động xuất

sắc



UBND

thành phố

tặng cờ thi

đua xuất sắc



Được UBND

thành phố

tặng cờ thi

đua xuất sắc



Tập thể Lao

động tiên

tiến



Danh hiệu

thi đua cá

nhân



01

CSTĐTP,

14

CSTĐCS,

35 LĐTT



25

CSTĐCS,

34 LĐTT,



01 CSTĐ

TP, 29

CSTĐCS,

56 LĐTT



01 CSTĐ TP,

14 CSTĐCS,

57 LĐTT



01 CSTĐ

TP, 13

CSTĐCS,

67 LĐTT



2.2. Thực trạng hoạt động giáo dục hƣớng nghiệp ở trƣờng trung học phổ thông

Quốc Tuấn



37



2.2.1. Nhận thức của cán bộ, giáo viên và học sinh về hoạt động giáo dục hướng

nghiệp ở trường trung học phổ thông Quốc Tuấn

2.2.1.1. Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên

Để thầy rõ quan điểm nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của hoạt

động GDHN trong trường THPT và mức độ quan tâm của CBQL, GV đến hoạt động

GDHN chúng tôi tiến hành điều tra 54 khách thể (trong đó có 4 CBQL và 50 GV ở

trường THPT Quốc Tuấn, thành phố Hải Phòng) đã thu được kết quả như sau:

Bảng 2.2. Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động GDHN

Mức độ

Rất quan trọng

Quan trọng

Bình thường

Không quan trọng



Cán bộ quản lý

Số lượng

%

3

75

1

25

0

0

0

0



Giáo viên

Số lượng

%

28

56

17

34

5

10

0

0



Chung

Số lượng

%

31

57,4

18

33,3

5

9,3

0

0



Bảng 2.3. Mức độ quan tâm của CBQL, GV với công tác GDHN

Mức độ



Cán bộ quản lý



Giáo viên



Chung



Số lượng



%



Số lượng



%



Số lượng



%



Rất quan tâm



0



0



0



0



0



0



Quan tâm



3



75



18



36



21



38,9



Bình thường



1



25



32



64



33



61,1



Không quan tâm



0



0



0



0



0



0



Kết quả điều tra ở bảng 2.2 cho thấy đa số CBQL và GV đã nhận thức được tầm

quan trọng của hoạt động GDHN trong nhà trường, thể hiện có 90,7% ý kiến đánh giá

ở mức độ rất quan trọng và quan trọng, chỉ có 5/54 ý kiến chiếm 9,3% đánh giá quan

trọng ở mức độ bình thường, không có ý kiến nào cho rằng không quan trọng.

GDHN là một bộ phận cấu thành trong chương trình giáo dục và đào tạo của

nhà trường và là trách nhiệm của toàn XH. Tuy nhiên, kết quả khảo sát ở bảng 2.3 cho

thấy có tới 61,1% CBQL, GV quan tâm đến GDHN ở mức độ bình thường. Đây là một

thực tế đáng suy nghĩ, nó phản ánh suy nghĩ thực sự của CBQL, GV về công tác

GDHN trong nhà trường. Qua quan sát thực trạng tổ chức GDHN ở trường THPT

Quốc Tuấn cho thấy chưa có sự quan tâm và đầu tư đúng mức từ phía lãnh đạo nhà

trường và đội ngũ GV giảng dạy cũng chưa tâm huyết trong việc tổ chức thực hiện các

hoạt động GDHN. Bởi trong nhận thức, nhà trường xem kết quả thi tốt nghiệp, thi học



38



sinh giỏi, thi ĐH, CĐ là tiêu chí để đánh giá chất lượng GD&ĐT trong nhà trường chỉ

tập trung giảng dạy các môn văn hoá là chính, với tâm lý luôn xem nhẹ kiến thức kỹ

thuật nghề nghiệp, kỹ năng thực hành và không quan tâm đến việc dạy cho HS những

kỹ năng sống và làm việc, thậm chí trong nhận thức của một số CBQL và GV chỉ xem

GDHN là một hoạt động ngoại khoá, ít ảnh hưởng đến kết quả thi đua nên miễn sao

thực hiện cho có; về phía Chính quyền địa phương thì chưa có sự phối hợp với nhà

trường; về phía Sở GD&ĐT trong các hoạt động thanh kiểm tra các trường THPT cũng

chưa quan tâm đến công tác này. Chính từ nhận thức trên của một bộ phận CBQL, GV

đã dẫn đến việc tổ chức thực hiện GDHN trong trường THPT Quốc Tuấn chưa đồng

bộ, nên hiệu quả GDHN chưa cao.

2.2.1.2. Nhận thức của cha mẹ học sinh

Gia đình chiếm một vị trí rất lớn ảnh hưởng đến tâm lý lựa chọn ngành, nghề

của HS và có tác động lớn đến sự định hướng nghề nghiệp của các em. Kết quả khảo

sát 120 CMHS về vai trò GDHN của gia đình trong việc lựa chọn nghề nghiệp của học

sinh thể hiện ở bảng 2.4 dưới đây:

Bảng 2.4. Vai trò của gia đình trong GDHN

Mức độ



Số lượng



%



Rất cần thiết



46



38,33



Cần thiết



38



31,67



Bình thường



31



25,83



Không cần thiết



5



4,17



Qua kết quả điều tra cho thấy hầu hết CMHS đều cho là việc lựa chọn nghề

nghiệp của HS có sự GDHN của gia đình, thể hiện có 70% ý kiến cho rằng GDHN của

gia đình là cần thiết và rất cần thiết. Tuy nhiên, cũng có một bộ phận không nhỏ

CMHS nghĩ rằng sự định hướng nghề nghiệp của HS không cần đến GDHN của gia

đình, thể hiện 25,83% ý kiến cho rằng GDHN của gia đình có vai trò bình thường và

4,17% ý kiến cho rằng GDHN của gia đình là không cần thiết. Huyện An Lão - thành

phố Hải Phòng có đại đa số người dân làm nông nghiệp và ở nông thôn nên CMHS ít

có thời gian và điều kiện để tìm hiểu những thông tin về yêu cầu nghề, về thị trường

lao động và nhu cầu nhân lực của địa phương, ... nên ít có điều kiện để tìm hiểu đến

tâm tư, nguyện vọng, sở trường của con em để kịp thời có hướng giáo dục và điều

chỉnh những định hướng trong việc lựa chọn ngành, nghề của các em cho phù hợp. Để

thực hiện tốt GDHN cho học sinh cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng:



39



nhà trường - gia đình - xã hội, do đó công tác tuyên truyền về ý nghĩa, tầm quan trọng

của GDHN với CMHS là hết sức cần thiết.

2.2.1.3. Nhận thức của học sinh

Mục đích cuối cùng của công tác GDHN trong trường THPT là giúp HS chọn

được nghề phù hợp. Nếu chọn nghề đúng, sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động

XH, chất lượng sản phẩm, phát triển toàn diện nhân cách, tạo điều kiện cho con người

cống hiến tối đa, đưa lại cho con người sự thoả mãn về đạo đức, niềm tin vào sức mạnh

của bản thân.

Để đánh giá mức độ hiểu biết của HS khi chọn nghề, chúng tôi tiến hành khảo

sát 210 học sinh lớp 12 của trường.

Mức độ hiểu biết được hiểu như sau:

- Biết rất rõ: phải biết tường tận, cụ thể toàn bộ nội dung của vấn đề.

- Biết vừa phải: tuy chưa biết được cụ thể, tường tận nhưng biết được những nội

dung cơ bản của vấn đề.

- Biết rất ít: chỉ biết được một vài nội dung của vấn đề

Bảng 2.5. Đánh giá mức độ hiểu biết của học sinh khi chọn nghề

TT



Nội dung



Mức độ hiểu biết về nghề

Biết rất rõ

Biết vừa phải

Biết rất ít

SL

%

SL

%

SL

%



Đặc điểm, yêu cầu của

13

6,19

40

19,05

157

74,76

nghề

2

Thông tin về nhu cầu

16

7,62

29

13,81

165

78,57

XH

3

Những điều kiện cần có

của bản thân đối với

28

13,33

66

31,43

116

55,24

nghề (năng lực, sức

khoẻ, ...)

4

Cơ hội phát triển của

18

8,57

59

28,1

133

63,33

nghề

5

Thu nhập về kinh tế của

14

6,67

36

17,14

160

76,19

nghề

Bảng số liệu trên phản ánh một thực trạng là đa số các em HS hiểu biết rất ít về

nghề mà các em dự định lựa chọn. Thể hiện như sau:

- Đặc điểm, yêu cầu của nghề: có tới 157/210 HS chiếm 78,58% hiểu biết rất ít

về đặc điểm, yêu cầu của nghề; số HS biết rất rõ về đặc điểm, yêu cầu của nghề là

13/210, chiếm 6,19%.

1



40



- Thông tin về nhu cầu XH: 165/210 HS chiếm 78,57% có hiểu biết rất ít; chỉ có

16/210 HS, chiếm 7,62% biết rất rõ nhu cầu tuyển dụng nghề của XH mà HS lựa chọn.

- Những điều kiện cần có của bản thân khi lựa chọn nghề như: năng lực, sức

khoẻ, sở thích, ... có 28/210 HS chiếm 13,33% biết rất rõ, trong khi đó có 116/210 HS,

chiếm 55,24% biết rất ít những điều kiện cần có của bản thân khi lựa chọn nghề.

- Cơ hội phát triển của nghề: 133/210HS, chiếm 63,33% biết rất ít và 18/210

HS, chiếm 8,57% biết rất rõ cơ hội phát triển của nghề mà các em dự định lựa chọn.

- Thu nhập kinh tế: có 160/210 HS, chiếm 76,19% biết rất ít về thu nhập kinh tế

của nghề mà các em dự định lựa chọn.

Kết quả phân tích ở bảng 2.5 cho thấy công tác GDHN tại trường THPT Quốc

Tuấn chưa thực sự hiệu quả, học sinh chưa có định hướng đúng đắn khi lựa chọn nghề

dựa trên hiểu biết về nghề nghiệp, nhu cầu thị trường lao động và năng lực, sở trường

của bản thân. Kết quả này có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp đề ra các biện pháp quản

lý GDHN phù hợp.

Để lựa chọn nghề nghiệp thì nguồn thông tin cần biết về nghề là một trong các

yếu tố rất quan trọng giúp HS mở rộng tầm nhìn về thế giới nghề nghiệp, biết tự đánh

giá năng lực, xem xét khả năng của bản thân, điều kiện hoàn cảnh gia đình trước khi

quyết định một hướng đi vào đời, nghề nghiệp tương lai. Mức độ sử dụng các nguồn

thông tin cần biết về nghề khi lựa chọn nghề nghiệp tương lai của HS được đánh giá

qua bảng 2.6.

Bảng 2.6. Mức độ sử dụng các nguồn thông tin cần biết về nghề

TT

1

2

3

4

5

6

7



Các nguồn thông tin cần

biết về nghề

Bố, mẹ, anh chị, người

thân

Giáo viên chủ nhiệm lớp

Giáo viên bộ môn

Bạn bè

Sách báo và các phương

tiện thông tin khác

Các hoạt động ngoại

khoá của nhà trường

Những người đã học và

làm nghề tương ứng



Mức độ sử dụng (n = 210)

Rất nhiều

Nhiều

Ít

SL

%

SL

%

SL



%



45



21,43



91



43,33



74



35,24



25

20

38



11,9

9,52

18,1



67

65

83



31,9

30,95

35,52



118

125

89



56,2

59,53

42,38



51



24,29



89



42,38



70



33,33



25



11,9



46



21,9



139



66,2



49



23,33



86



40,95



75



35,72



41



Từ kết quả ở bảng 2.6 cho thấy tác động của nhà trường trong việc hướng

nghiệp chưa cao, thể hiện qua các ý kiến cho rằng nguồn thông tin cần biết về nghề qua

GV chủ nhiệm, GV bộ môn, các hoạt động ngoại khoá của nhà trường còn ít nên các

thông tin mà HS thu nhận được khi chọn nghề phần lớn từ các kênh ngoài trường,

ngoài GV như từ cha mẹ, người thân, từ những người đang làm trong nghề đó hay từ

các sách báo hoặc phương tiện thông tin đại chúng khác. Đây chính là một trong những

hạn chế của công tác GDHN trong trường THPT Quốc Tuấn hiện nay.

2.2.2. Kết quả thực hiện các con đường giáo dục hướng nghiệp trong trường Trung

học phổ thông Quốc Tuấn

Kết quả thực hiện nội dung GDHN được phản ánh thông qua các con đường

GDHN trong nhà trường. Để có được sự đánh giá đúng đắn về tình hình thực hiện

GDHN ở trường THPT Quốc Tuấn, chúng tôi tiến hành điều tra 4 CBQL, 50 GV của

nhà trường. Trong nội dung điều tra cách tính điểm như sau:

Kết quả thực hiện: Tốt: 4 điểm; Khá: 3 điểm; Trung bình: 2 điểm; Yếu: 1 điểm.

Thang điểm được đánh giá như sau: Mức tốt: X = 3,5 → 4; Mức khá: X = 2,5

→ 3,49; Mức trung bình: X = 1,5 →2,49; Mức chưa tốt: X < 1,5.

2.2.2.1. Giáo dục hướng nghiệp thông qua dạy học các môn văn hoá

Trong chương trình giáo dục THPT hiện nay, Bộ GD&ĐT yêu cầu các trường

lồng ghép hướng nghiệp cho HS ngay vào môn học, khi GV giảng bài trong môn đó.

Kết quả khảo sát về thực trạng GDHN thông qua dạy học các môn văn hoá thể hiện

qua bảng 2.7.

Bảng 2.7.GDHN thông qua dạy - học các môn văn hoá

TT

1



2

3



Nội dung



Cán bộ quản lý

Thứ



X

bậc



Thông qua dạyhọc các môn văn 12,4

hoá….

Rèn luyện kĩ

10,8

năng bộ môn

Giáo dục tư

tưởng, tình cảm,

đạo đức, tác 10

phong

nghề

nghiệp



3,1



1



2,7



2



2,5



3



Kết quả thực hiện

Giáo viên

Thứ



X

bậc

146



Chung





X



Thứ

bậc



2,92



1



158.4



2.93



1



138,5 2,77



2



149.3



2.76



2



3



138



2.56



3



128



42



2,56



4



5



Tổ chức hoạt

động ngoại khoá

…..

Tìm hiểu nguyện

vọng từng HS



5,2



1,3



5



65,5



1,31



5



70.7



1.31



5



8,4



2,1



4



109,5 2,19



4



117.9



2.18



4



2,34

2,35

2,35

Qua bảng 2.7 cho thấy kết quả thực hiện GDHN thông qua dạy - học các môn

văn hoá ở mức độ trung bình, thể hiện điểm trung bình chung của 5 nội dung là X =

2,35.

Kết quả thực hiện các nội dung hướng nghiệp không đồng đều mà có các mức

độ thực hiện cao thấp khác nhau. Nội dung thực hiện tốt nhất là: “Thông qua dạy - học

các môn văn hoá, hình thành biểu tượng về những nghề có liên quan” được đánh giá ở

mức độ khá với X = 2,93, xếp bậc 1/5. Nội dung thực hiện thấp nhất là: “Tổ chức hoạt

động ngoại khoá của bộ môn để thực hành, ứng dụng nội dung có liên quan đến nghề”

có X = 1,31. xếp bậc 5/5. Như vậy, nhà trường chưa quan tâm đến nội dung hướng

nghiệp qua hoạt động thực hành, ngoại khoá các môn văn hoá.

Sự đánh giá về kết quả thực hiện của CBQL và GV về GDHN qua dạy học các

môn văn hoá là tương đương nhau thể hiện: CBQL đánh giá X = 2,34; GV đánh giá

X = 2,35.



Kết quả đánh giá về các nội dung GDHN qua dạy - học các môn văn hoá giữa

CBQL và GV thể thiện qua hệ số tương quan thứ bậc r =+1 cho phép kết luận, tương

quan trên là thuận và chặt chẽ, có nghĩa là ý kiến đánh giá của CBQL và GV là phù

hợp với nhau.

2.2.2.2. Giáo dục hướng nghiệp qua dạy - học môn Công nghệ, dạy nghề phổ thông và

lao động sản xuất

Hiện nay theo quy định của Bộ GD&ĐT những nơi có đủ GV đào tạo đúng

chuyên môn, đủ CSVC phải thực hiện hoạt động giáo dục nghề phổ thông ở lớp 11, tổ

chức thi và cấp chứng chỉ giáo dục nghề phổ thông sau khi hoàn thành chương trình

105 tiết đạt yêu cầu trở lên; nơi chưa có đủ GV đào tạo đúng chuyên môn, chưa đủ

CSVC có thể chưa thực hiện chương trình hoạt động giáo dục nghề phổ thông nhưng

phải khẩn trương khắc phục, không để kéo dài.

Từ năm học 2006 - 2007, trường THPT Quốc Tuấn đều tổ chức cho HS lớp 11

tham gia học và thi lấy chứng chỉ nghề với 3 nghề là tin học văn phòng, vi sinh dinh

dưỡng và nghề điện. Chương trình dạy nghề nhìn chung còn mang nặng tính lý thuyết,



43



điều kiện CSVC để học sinh thực hành chưa đảm bảo, không có GV chuyên trách với

hoạt động dạy nghề phổ thông. Tình trạng dạy “chay”, học “chay” vẫn còn, điều này đã

tạo cho học sinh tâm lý bị động, không có hứng thú đối với các tiết học nghề. Theo quy

định của Bộ GD&ĐT, môn Công nghệ được dạy ở lớp 10, lớp 11 với thời lượng 52

tiết/năm học; lớp 12 là 35 tiết/năm học. Môn Công nghệ tập hợp kiến thức ở nhiều

ngành nghề, qua môn học HS được học qua các dạng công nghệ tiêu biểu, các ứng

dụng điển hình của nó thể hiện ở nhiều ngành nghề khác nhau. Từ đó HS cảm nhận

được thế giới công nghệ, phân biệt được các loại ngành nghề.

Kết quả khảo sát về thực trạng GDHN thông qua dạy - học môn Công nghệ và

hoạt động LĐSX thể hiện qua bảng 2.8.

Bảng 2.8. GDHN qua dạy - học môn Công nghệ và hoạt động LĐSX

T

T

1

2

3



4



5



Nội dung

Dạy lý thuyết

Dạy thực hành

Dạy tích hợp hoạt

động GDHN với

môn Công nghệ

Hoạt động ngoại

khoá môn Công

nghệ

GDHN thông qua

tổ chức cho HS

tham gia LĐSX



Kết quả thực hiện

Cán bộ quản lý

Giáo viên

Chung

Thứ

Thứ

Thứ







X

X

X

bậc

bậc

bậc

10,8 2,7

1

144 2,88

1

154,8 2,87

1

8,8 2,2

2

108,5 2,17

2

117,3 2,17

2

7,2



1,8



3



60,5



1,21



3



67,7



1,25



3



4



1,0



5



50



1,0



4,5



54



1,0



5



6



1,5



4



50



1,0



4,5



56



1,04



4



1,84

1,65

1,68

Từ bảng 2.8 cho thấy kết quả GDHN thông qua dạy học môn Công nghệ và hoạt

động LĐSX đạt được ở mức độ chung là trung bình, thể hiện qua điểm trung bình

chung là X = 1,68.

Các nội dung hướng nghiệp qua dạy học môn Công nghệ và LĐSX không đồng

đều. Nội dung thực hiện tốt nhất là: “Dạy lý thuyết môn Công nghệ” được đánh giá ở

mức độ khá với X = 2,87, xếp bậc 1/5. Nội dung thực hiện thấp nhất là: “Hoạt động

ngoại khoá môn Công nghệ” có X = 1,0, xếp bậc 5/5.

Sự đánh giá về kết quả thực hiện của CBQL và GV về GDHN qua dạy học môn

Công nghệ và LĐSX có độ chênh lệnh là 0,19.



44



Kết quả đánh giá các nội dung về GDHN qua dạy học môn Công nghệ và lao

động sản xuất giữa CBQL và GV thể hiện qua hệ số tương quan thứ bậc r = +0,98 cho

phép kết luận, tương quan trên là thuận và chặt chẽ, có nghĩa là ý kiến đánh giá của

CBQL và GV là phù hợp nhau.

Kết quả trên cho thấy GV dạy môn Công nghệ mới chỉ quan tâm đến dạy lý

thuyết môn Công nghệ mà chưa quan tâm đến công tác hướng nghiệp qua giảng dạy bộ

môn cũng như tích hợp các nội dung của hoạt động GDHN với môn Công nghệ. Với

hoạt động LĐSX, nhà trường đã quan tâm thực hiện vệ sinh xây dựng cảnh quan

trường lớp, lao động công ích còn những nội dung GDHN qua LĐSX với các ngành

nghề ở địa phương thì nhà trường đều chưa quan tâm thực hiện.

2.2.2.3.Giáo dục hướng nghiệp qua tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Hoạt động GDHN là môn học trong chương trình giáo dục cấp THPT, thời

lượng học của môn học này được thực hiện 1 tiết/tháng. Nhận xét, đánh giá của CBQL,

GV về thực trạng GDHN thông qua hoạt động GDHN được thể hiện ở bảng 2.9.

Bảng 2.9.GDHN qua tổ chức hoạt động GDHN

TT

1



2



3



4



5



Nội dung

Thực hiện quy

định về thời

lượng hoạt động

GDHN

Thực hiện nội

dung hoạt động

GDHN theo các

chuyên đề đã qui

định trong tài

liệu của Bộ

GD&ĐT

Chọn lọc, bổ

xung, cập nhật

nội dung hoạt

động GDHN

Tư vấn, hướng

dẫn chọn nghề

cho học sinh

Năng lực của



Cán bộ quản lý

Thứ



X

bậc



Kết quả thực hiện

Giáo viên

Thứ



X

bậc



Chung





X



Thứ

bậc



6.8



1,7



3



105



2,1



1



111.8



2,07



1



7.2



1,8



2



82.5



1,65



2



89.7



1,66



2



4.8



1,2



5



59.5



1,19



5



64.3



1,19



5



8.8



2,2



1



76



1,52



3



84.8



1,57



3



5.6



1,4



4



63.5



1,27



4



69.1



1,28



4



45



cán bộ, GV phụ

trách các chuyên

đề hoạt động

GDHN

1,66

1,55

1,55

Từ bảng 2.9 cho thấy kết quả GDHN thông qua các hoạt động GDHN thực hiện

ở mức độ chung là trung bình, thể hiện qua điểm trung bình chung là X = 1,56.

Các nội dung hoạt động GDHN không đều nhau. Nội dung thực hiện tốt nhất là:

“Thực hiện quy định về thời gian hoạt động GDHN” với X = 2,07, xếp bậc 1/5. Nội

dung thực hiện thấp nhất là: “Chọn lọc, bổ xung, cập nhật nội dung hoạt động GDHN”

có X = 1,19, xếp bậc 5/5.

Hệ số tương quan thứ bậc r = +0,6 cho thấy có sự tương quan chưa chặt chẽ.

Nội dung: “Thực hiện quy định về thời lượng hoạt động GDHN” GV đánh giá xếp thứ

1/5, còn CBQL đánh giá xếp thứ 3/5. Nội dung: “Tư vấn hướng dẫn chọn nghề cho học

sinh” GV đánh giá xếp thứ 3/5, còn CBQL đánh giá xếp thứ 1/5.

Như vậy, trường THPT Quốc Tuấn đã quan tâm và thực hiện chương trình hoạt

động GDHN theo qui định của Bộ GD&ĐT, tuy nhiên hiệu quả của các giờ hoạt động

GDHN còn thấp. Nhà trường chưa quan tâm đến việc chọn lọc, bổ xung, cập nhật nội

dung hoạt động GDHN; Năng lực của cán bộ, GV phụ trách các chuyên đề hoạt động

GDHN còn nhiều hạn chế do không được đào tạo, bồi dưỡng về GDHN. Chính những

điều này đã ảnh hưởng lớn đến kết quả GDHN chung của nhà trường.

2.2.2.4. Giáo dục hướng nghiệp qua hoạt động tham quan, ngoại khoá trong và ngoài

nhà trường

Việc tổ chức các hoạt động ngoại khoá nhằm tạo điều kiện cho các em bộc lộ

những phẩm chất, năng lực cá nhân, là cơ sở để tư vấn nghề cho HS. Ý kiến nhận xét,

đánh giá của CBQL, GV thể hiện ở bảng 2.10.

Từ bảng 2.10 cho thấy kết quả GDHN thông qua hoạt động tham quan ngoại

khoá thực hiện chưa tốt, thể hiện qua điểm trung bình chung là X = 1,49. Nội dung:

“Tổ chức các hoạt động ngoại khoá về hướng nghiệp” có X = 1,97, xếp bậc 1/7. Nội

dung: “Tổ chức cho HS tham quan các cơ sở sản xuất, các trường học nghề” và “Phối

hợp với Đoàn thanh niên tổ chức các buổi toạ đàm, diễn đàn về lựa chọn nghề nghiệp”

có X = 1,08, cùng xếp bậc 6,5/7.

Bảng 2.10.GDHN qua hoạt động tham quan, ngoại khoá



46



TT

1



2



3



4



5



6



7



Nội dung

Tổ chức các hoạt

động ngoại khoá về

hướng nghiệp

Tổ chức cho HS đọc

sách báo, giới thiệu

sách, ... để tìm hiểu

đặc điểm và yêu cầu

của ngành nghề đang

cần phát triển

Tổ chức trò chơi

hướng nghiệp giúp

HS làm quen dần với

hoạt động nghề

nghiệp của XH

Tổ chức cho HS

thăm quan các cơ sở

sản xuất, các trường

học nghề

Phối hợp với Đoàn

thanh niên tổ chức

các buổi toạ đàm,

diễn đàn về lựa chọn

nghề nghiệp

Mời

các

ngành

chuyên môn, các cơ

sở sản xuất, những

người thành đạt

trong lĩnh vực sản

xuất, kinh doanh đến

nói chuyện và giới

thiệu ngành nghề

Tham gia hoạt động

hướng nghiệp của

các cơ sở giáo dục

ngoài nhà trường tổ

chức.



Cán bộ quản lý

Thứ



X

bậc



Kết quả thực hiện

Giáo viên

Thứ



X

bậc



Chung





X



Thứ

bậc



6,8



1,7



2



91,5



1,83



1



98,3



1,97



1



8



2,0



1



83,5



1,67



2



91,5



1,83



2



6,4



1,6



3



69



1,38



4



75,4



1,51



4



4



1,0



6,5



50



1,0



6,5



54



1,08



6,5



4



1,0



6,5



50



1,0



6,5



54



1,08



6,5



5,2



1,3



4



75



1,5



3



80,2



1,60



3



4,8



1,2



5



65,5



1,31



5



70,3



1,41



5



1,4



1,38



47



1,49



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

×