1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 3 : ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝHOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC TUẤN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.69 MB, 120 trang )


diện, hướng nghiệp và có hệ thống”. Như vậy, Luật giáo dục đã chỉ rõ bên cạnh học

vấn THPT, mục tiêu của bậc học này yêu cầu HS có hiểu biết ban đầu về kĩ thuật và

hướng nghiệp, đó là những yêu cầu có tính chất pháp lý bắt buộc đối với mỗi HS.

Thông tư 31/TT ngày 17/8/1981 của Bộ GD&ĐT hướng dẫn thực hiện Quyết

định 126/CP với những nội dung:

- Vị trí và nhiệm vụ của công tác hướng nghiệp;

- Thực hiện công tác hướng nghiệp cho HS phổ thông với 4 con đường GDHN;

- Tổ chức thực hiện trong ngành giáo dục.

Chỉ thị 33/2003/CT-BGD&ĐT về tăng cường GDHN cho HS phổ thông. Chỉ thị quy

định 6 nội dung cần triển khai:

- Xác định nhận thức về GDHN;

- Quán triệt yêu cầu GDHN trong quá trình xây dựng, hoàn thiện chương trình,

biên soạn sách giáo khoa, sách giáo viên và trong giảng dạy các môn học;

- Triển khai hoạt động GDHN, tư vấn hướng nghiệp;

- Nâng cao chất lượng dạy nghề phổ thông;

- Xây dựng các Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp;

- Xã hội hoá GDHN.

Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/6/2006 về việc ban hành chương

trình giáo dục phổ thông. Bộ chương trình giáo dục phổ thông gồm chương trình chuẩn

của 23 môn học và hoạt động giáo dục từ tiểu học, THCS, THPT. Trong bộ chương

trình chuẩn này có chương trình chuẩn hoạt động GDHN, hoạt động dạy nghề phổ

thông.

3.1.2. Nguyên tắc tính thực tiễn

Các biện pháp quản lý đề xuất phải xuất phát từ thực tiễn, thực trạng quản lý

GDHN, từ những hạn chế, tồn đọng trong quá trình quản lý, tránh đề xuất các biện

pháp xa vời với thực tiễn quản lý GDHN của nhà trường THPT Quốc Tuấn. Việc đề

xuất các biện pháp phải nằm trong khuôn khổ và điều kiện thực tế cho phép của nhà

trường, phù hợp với đặc điểm, điều kiện KT-XH của địa phương. Biện pháp quản lý đề



64



xuất phải khắc phục các mặt chưa làm được, các mặt còn hạn chế ngay trong khâu

quản lý GDHN của nhà trường.

Nguyên tắc tính thực tiễn yêu cầu người lãnh đạo tổ chức hoạt động GDHN

trong nhà trường không được đặt ý kiến chủ quan của mình mà phải tổng kết thực tiễn

quản lý và từ thực tiễn quản lý để đề xuất biện pháp quản lý. Sự đổi mới và nhanh nhạy

trong tư duy phát hiện các vấn đề nảy sinh trong quá trình điều hành quản lý GDHN

của nhà trường là điều kiện vô cùng quan trọng để các biện pháp quản lý phù hợp hơn.

Các biện pháp quản lý phải thể hiện và là sự cụ thể hoá mục tiêu, đường lối phát

triển của Đảng, Nhà nước, nhà trường và phù hợp với qui định của ngành trong quản

lý. Có như thế các biện pháp quản lý GDHN của nhà trường được đề xuất mới đảm bảo

được sự phù hợp của đường lối giáo dục của Đảng, Nhà nước đồng thời mang tính cụ

thể, thực tiễn giáo dục đặt ra, làm cho các biện pháp trở thành hiện thực, tồn tại được

và có ý nghĩa trong thực tiễn chỉ đạo giáo dục.

3.1.3. Nguyên tắc tính kế thừa và phát triển

Đây là một nguyên tắc rất quan trọng khi đề xuất biện pháp quản lý mới.

Nguyên tắc này đòi hỏi nhà nghiên cứu khi đề xuất biện pháp mới phải kế thừa các

biện pháp quản lý đã và đang thực hiện, có thể là toàn bộ biện pháp, có thể là những

điểm hay và tối ưu của mỗi biện pháp, tránh phủ định sạch trơn toàn bộ và tạo ra hệ

thống mới hoàn toàn nhưng không dựa trên thực tiễn, thực trạng biện pháp cũ đã có.

Đảm bảo tính kế thừa khi đề xuất biện pháp quản lý yêu cầu nhà nghiên cứu,

nhà quản lý trong chỉ đạo thực tiễn quản lý phải thấy được những điểm mạnh của biện

pháp quản lý mới trên cơ sở nền tảng của biện pháp quản lý cũ đang tiến hành. Sự đề

xuất biện pháp phải theo kịp và phù hợp với thực tiễn quản lý giáo dục để có những

biện pháp mới phù hợp và sát với thực tế. Thừa hưởng những mặt mạnh, khắc phục

những hạn chế của các biện pháp đã thực hiện để xây dựng những biện pháp quản lý

GDHN cho phù hợp để nâng cao chất lượng công tác GDHN trong nhà trường.

3.1.4. Nguyên tắc tính khả thi



65



Nguyên tắc tính đồng bộ, tính thực tiễn và phát triển, tính kế thừa là những điều

kiện cần thiết nhưng bên cạnh đó phải có tính khả thi nếu không tất cả các biện pháp

quản lý GDHN đề xuất đều không có giá trị và ý nghĩa trong thực tế quản lý.

Đảm bảo tính khả thi khi đề xuất các biện pháp đòi hỏi biện pháp quản lý đề

xuất phải sát với thực tiễn giáo dục, quản lý giáo dục, phù hợp với hoàn cảnh và điều

kiện thực tế tại cơ sở giáo dục ở đây là trường THPT Quốc Tuấn, thành phố Hải

Phòng.

Khi đề xuất, xây dựng các biện pháp quản lý phải đảm bảo tính khoa học trong

quy trình quản lý với các bước tiến hành cụ thể, chính xác. Các biện pháp phải được

kiểm chứng, khảo nghiệm, có căn cứ khách quan và có khả năng thực hiện cao. Các

biện pháp phù hợp với thực tế, được thực hiện rộng rãi và tiếp tục được hoàn chỉnh để

ngày càng hoàn thiện.

Yêu cầu tính khả thi đòi hỏi các biện pháp đề xuất có khả năng áp dụng vào thực

tiễn quản lý GDHN của trường THPT Quốc Tuấn một cách thuận lợi, trở thành hiện

thực và đem lại hiệu quả cao.

Tính khả thi đề xuất biện pháp quản lý là điều kiện cần và đủ về mặt nguyên tắc

phương pháp luận để các biện pháp quản lý GDHN của trường THPT Quốc Tuấn có

giá trị thực tiễn và trở thành hiện thực trong quản lý.

3.2. Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục hƣớng nghiệp của trƣờng Trung học phổ

thông Quốc Tuấn

3.2.1. Tổ chức các hoạt động truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức cho học

sinh, các lực lượng giáo dục về giáo dục hướng nghiệp

3.2.1.1. Mục đích của biện pháp

Nâng cao nhận thức của CBQL, GV, HS, CMHS và các lực lượng giáo dục

khác về vị trí, vai trò, sự cần thiết của GDHN đối với việc phát triển nguồn nhân lực,

đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương, đất nước và tương lai của chính

bản thân HS. Từ đó, GV nhận thức được GDHN là một hoạt động có tầm quan trọng

rất lớn, góp phần cụ thể hoá mục tiêu đào tạo của nhà trường, mỗi thành viên trong nhà

trường xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cần phải có trách nhiệm và



66



nghĩa vụ thực hiện, đóng góp, xây dựng để nâng cao chất lượng GDHN; HS có ý thức

hơn khi lựa chọn ngành học, nghề nghiệp tương lai; Làm cho CMHS có ý thức chủ

động hướng nghiệp cho HS; Các cấp QLGD có trách nhiệm trong việc chỉ đạo, tổ chức

và kiểm tra công tác GDHN. Từ kết quả nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm tạo

nên động lực thúc đẩy GDHN đạt những mục tiêu đề ra.

3.2.1.2. Nội dung thực hiện

Đối với cán bộ quản lý giáo dục:

CBQL của Sở GD&ĐT phụ trách công tác GDHN phải quán triệt về các Nghị

quyết, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước và của Ngành về GDHN. Hàng năm phải tham mưu

để lãnh đạo Sở GD&ĐT ban hành văn bản chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ

GDHN cho học sinh THPT, văn bản chỉ đạo cần cụ thể hoá chủ trương, chính sách của

Đảng và Nhà nước.

CBQL trường THPT Quốc Tuấn phải tổ chức học tập các văn bản của Nhà

nước, của ngành có liên quan đến công tác GDHN như: Quyết định số 126/CP của

Chính phủ; Thông tư 31/TT hướng dẫn thực hiện Quyết định số 126/CP; Chỉ thị

33/2003/CT-BGD&ĐT về tăng cường GDHN cho HS phổ thông, các văn bản hướng

dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của các cấp QLGD.

Đối với đội ngũ cán bộ, giáo viên: Đây là đội ngũ trực tiếp tổ chức thực hiện

GDHN trong nhà trường. Nhà trường phải tác động làm cho mỗi cán bộ, GV nhận thức

rõ mục đích, ý nghĩa của công tác GDHN; mỗi cán bộ, GV phải nhận thức được vai trò

và trách nhiệm của mình; nhà trường phải đôn đốc, kịp thời khích lệ cũng như tạo mọi

điều kiện cho những cán bộ, GV có tâm huyết, tích cực trong công tác GDHN. CBQL

trường THPT Quốc Tuấn cần phải phổ biến các tài liệu, những chủ trương của Đảng và

Nhà nước, những văn bản của Bộ, của Sở về việc hướng dẫn GDHN cho HS. Nhiệm

vụ GDHN phải được giao trách nhiệm đến GV dạy các bộ môn văn hoá; GV chủ

nhiệm; GV dạy nghề; cán bộ Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; cán bộ phụ trách

thư viện, y tế; GV phụ trách hoạt động GDHN, từ đó mỗi cán bộ, GV xác định được

nhiệm vụ của mình trong công tác GDHN.



67



Đối với học sinh: HS chính là lực lượng trực tiếp tác động đến GDHN trong

trường cho nên việc nhận thức của HS có ý nghĩa quyết định đến thành công của công

tác GDHN. Việc tuyên truyền cho HS cần phải tiến hành liên tục bằng nhiều hình thức:

Thông qua lao động công ích, LĐSX: các buổi sinh hoạt ngoại khoá; sinh hoạt chủ

nhiệm; sinh hoạt dưới cờ hay các phong trào của nhà trường để tuyên truyền GDHN

cho HS nhận thức được tầm quan trọng của việc chọn ngành, chọn nghề, từ đó các em

có những định hướng đúng về nghề nghiệp tương lai, qua đó nhằm khơi dậy động cơ

tìm hiểu về ngành nghề của HS. Giới thiệu cho HS về những con đường hướng nghiệp

để các em chủ động tiếp thu vấn đề liên quan đến nghề nghiệp, từ đó các em có ý thức

lựa chọn, có cơ sở khoa học cho hướng đi sau tốt nghiệp THPT.

Đối với cha mẹ học sinh: CMHS là nhân tố gây ảnh hưởng lớn đến việc quyết

định chọn nghề của HS. Vì vậy, nhà trường cần tuyên truyền để CMHS nhận thức được

mục đích và ý nghĩa của công tác GDHN trong trường THPT, giúp CMHS biết thêm

thông tin về nghề nghiệp, xu hướng phát triển nghề nghiệp và sự phát triển KT-XH của

địa phương, đất nước. Hình thức tuyên truyền với lực lượng này cần phải được thực

hiện thường xuyên bằng nhiều hình thức như: Lồng ghép nội dung ngắn gọn, dễ hiểu

về GDHN trong các buổi họp CMHS do nhà trường tổ chức; các lớp học cộng đồng;

ngày hội tư vấn tuyển sinh - hướng nghiệp; các phương tiện thông tin đại chúng để tư

vấn cho CMHS. Cần làm cho lực lượng này thay đổi nhận thức chạy theo bằng cấp, tư

tưởng chọn trường, chọn ngành, chọn nghề có thu nhập cao và địa vị XH.

Đối với chính quyền địa phương và các lực lượng xã hội: Phải tranh thủ sự lãnh

đạo của Chính quyền địa phương trong các hoạt động giáo dục nói chung và GDHN

nói riêng. Cần phải báo cáo và thông tin cho Chính quyền địa phương hiểu rõ mục

đích, yêu cầu, nội dung và hình thức tổ chức GDHN của nhà trường, để qua đó Chính

quyền địa phương lãnh đạo, chỉ đạo các ban ngành, các đoàn thể, các CSSX phối hợp

GDHN với nhà trường. Đồng thời cần phải làm cho chính quyền địa phương thấy được

trách nhiệm của mình trong vấn đề đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trên địa bàn

quản lý mà học sinh THPT là những người sẽ bổ sung trong tương lai. Khi lực lượng

này nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của GDHN cho HS thì sẽ góp phần không nhỏ



68



vào thành công chung của GDHN vì đây chính là lực lượng hỗ trợ nhà trường liên kết

với các CSSX kinh doanh, các cơ quan xí nghiệp, các ban ngành địa phương, ... trong

việc định hướng nghề nghiệp cho HS phù hợp theo yêu cầu nguồn nhân lực của địa

phương.

3.2.1.3. Cách tiến hành

Tổ chức học tập để quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, văn

bản chỉ đạo của các cấp quản lý về GDHN. Cụ thể như sau:

Sở GD&ĐT tổ chức Hội nghị tập huấn cho CBQL các trường THPT quán triệt

tinh thần các văn bản có liên quan đến GDHN. Hội nghị này cần được tiến hành hàng

năm, vào đầu năm học khi có đầy đủ các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học

của các cấp QLGD. Đặc biệt phải làm cho Hiệu trưởng quán triệt tinh thần đổi mới

chương trình giáo dục THPT mà trong đó GDHN là một trong những nhiệm vụ nhà

trường phải thực hiện.

Nhà trường phải xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra việc tuyên

truyền. Hiệu trưởng trực tiếp triển khai các văn bản, Chỉ thị, Nghị quyết, phân tích

những yêu cầu đổi mới của GDHN cho cán bộ, GV, Ban đại diện CMHS của nhà

trường vào thời điểm đầu năm học. Đồng thời yêu cầu từng thành viên, tuỳ theo vị trí,

nhiệm vụ được giao quán triệt quan điểm và vận dụng nội dung GDHN trong kế hoạch

công tác của cá nhân, của tập thể.

Nhà trường hướng dẫn Ban hướng nghiệp lập kế hoạch tuyên truyền cho cán bộ,

GV, HS và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường nhận thức đầy đủ và sâu sắc mục

đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung chính của việc tổ chức các hoạt động GDHN trong

trường học. Tuyên truyền, vận động các tổ chức XH có liên quan cùng tham gia vào

công tác hướng nghiệp.

Giáo viên chủ nhiệm lớp: Tổ chức sinh hoạt với HS các nội dung về vị trí, vai

trò, tầm quan trọng của GDHN; kế hoạch và chương trình GDHN của các lớp; các hình

thức GDHN. Nội dung này cần tiến hành ngay từ đầu năm học để giúp HS có nhận

thức đúng đắn tầm quan trọng của GDHN đối với bản thân và quan đó có thái độ

nghiêm túc khi tham gia các nội dung về GDHN.



69



Đối với GV dạy các môn văn hoá, GV phụ trách hoạt động GDHN, GV dạy

nghề, cán bộ Đoàn thanh niên trường học: Nhà trường phải yêu cầu các thành viên trên

có trách nhiệm GDHN thông qua các giờ dạy, các hoạt động của tổ chức đoàn thể.

Đối với học sinh: Nhà trường giao nhiệm vụ cho Ban hướng nghiệp lên kế

hoạch và tổ chức thực hiện. Tất cả GV trong nhà trường đều có trách nhiệm tham gia

lồng ghép trong nhiệm vụ chuyên môn của mỗi bộ phận. Tổ chức tốt các buổi hoạt

động GDHN theo quy định. Đoàn thanh niên tổ chức sinh hoạt tư tưởng cho đoàn viên

thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp. Chỉ đạo việc lập kế hoạch tham quan học tập

cho HS, tổ chức cho HS tìm hiểu về các nghề mà XH đang cần, mời những người

thành đạt trong mọi lĩnh vực mặc dù họ chưa được học ở các trường CĐ, ĐH đến sinh

hoạt, giao lưu với HS để HS thấy được việc thành đạt trong nghề không phải chỉ có con

đường học lên CĐ, ĐH. Tổ chức giao lưu với các sinh viên đang học ở các trường CĐ,

ĐH để HS có thể tìm hiểu các ngành nghề đang được đào tạo ở đó.

Đối với CMHS: Giao cho GV chủ nhiệm tổ chức lồng ghép việc tuyên truyền

GDHN trong những kì họp CMHS, giúp CMHS biết thêm thông tin về nghề nghiệp, xu

hướng phát triển nghề nghiệp và sự phát triển KT - XH của địa phương, đất nước. Tư

vấn cho CMHS về chọn trường thi, chọn nghề trước khi HS khối 12 làm hồ sơ thi

chuyên nghiệp.

Đối với chính quyền địa phương và các lực lượng xã hội khác: Nhà trường tham

mưu với lãnh đạo địa phương đưa nội dung GDHN vào kế hoạch, nghị quyết chỉ đạo

của Chính quyền địa phương, qua đó xác định trách nhiệm của các lực lượng XH và

tạo điều kiện cho nhà trường tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng này.

3.2.1.4. Điều kiện thực hiện

Sở GD&ĐT bố trí cán bộ phụ trách GDHN, có kế hoạch cụ thể tổ chức các hội

nghị tập huấn, triển khai, chỉ đạo công tác GDHN.

Hiệu trưởng nhà trường phải là người có nhận thức đầy đủ, đúng đắn và sâu sắc

về GDHN. Hiệu trưởng phải quan tâm, có quyết tâm cao vượt mọi khó khăn khi chỉ

đạo thực hiện nhiệm vụ này, khuyến khích động viên mọi người cùng tham gia.



70



Hiệu trưởng phải xây dựng được kế hoạch GDHN cho cả năm học vừa bao quát,

cụ thể, khoa học, phù hợp với tình hình nhà trường.

Lựa chọn nội dung tuyên truyền phù hợp với vai trò, chức năng, trách nhiệm,

đặc điểm của từng đối tượng; lựa chọn hình thức tuyên truyền nâng cao nhận thức, kiến

thức GDHN gọn nhẹ, hiệu quả, ít tốn kém.

3.2.2. Nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch giáo dục hướng nghiệp

3.2.2.1. Mục đích biện pháp

Xây dựng được kế hoạch GDHN trong mối quan hệ biện chứng với hệ thống kế

hoạch nằm trong kế hoạch tổng thể, toàn diện của nhà trường trong năm học.

Bản kế hoạch chính là sự cụ thể hoá các mục tiêu, yêu cầu, công việc, biện pháp

của công tác GDHN cho HS.

Bản kế hoạch được xây dựng trên cơ sở đặc điểm của HS, nhà trường, địa

phương. Nó vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện định hướng, điều chỉnh và thúc đẩy

công tác GDHN trong nhà trường hướng đích và đạt kết quả cao.

3.2.2.2. Nội dung thực hiện

Trên cơ sở phân tích thực trạng, căn cứ vào đặc điểm của nhà trường, căn cứ

vào các văn bản hướng dẫn về công tác GDHN của các cấp QLGD, nhà trường xác

định rõ và lựa chọn chính xác các mục tiêu GDHN phù hợp. Từ đó xây dựng kế hoạch

thực hiện các mục tiêu bao gồm: Thời gian, con người, nội dung, hình thức, biện pháp

thực hiện GDHN cho HS (kế hoạch chung) và triển khai thành kế hoạch gắn với từng

bộ phận, cá nhân cụ thể, phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, nhà trường,

đáp ứng yêu cầu của người học và yêu cầu của XH.

Kế hoạch vừa mang tính khái quát vừa mang tính cụ thể, đảm bảo tính toàn diện

và chú ý đến vai trò, chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận, cá nhân. Tuỳ theo đặc

điểm cụ thể mà có sự phân công khoa học, rõ ràng, phù hợp với chức năng của các tổ

chức, cá nhân theo các mặt hoạt động ở từng thời gian, công việc cụ thể.

3.2.2.3.Cách thức thực hiện

Nhà trường cần rà soát, khảo sát, đánh giá đúng đặc điểm tình hình của địa

phương, đơn vị; tình hình học tập và phân luồng của HS sau tốt nghiệp THPT của nhà



71



trường; dự kiến những tác động của các yếu tố khách quan, chủ quan, tích cực và tiêu

cực, thuận lợi và khó khăn của công tác GDHN và quản lý GDHN. Từ đó xây dựng kế

hoạch GDHN cho HS nằm trong hệ thống giáo dục tổng thể của nhà trường, đảm bảo

tính hệ thống, đồng bộ, cụ thể, thiết thực và khả thi.

Khi xây dựng kế hoạch phải luôn bám sát các mục tiêu, định hướng phát triển

giáo dục của Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và của nhà trường. Nội dung,

hình thức, biện pháp thực hiện kế hoạch phải xuất phát từ mục tiêu và vì mục tiêu

GDHN đã được lựa chọn.

Kế hoạch GDHN cho HS cần có những kế hoạch lâu dài, chiến lược, định

hướng đón đầu cho cả một giai đoạn, đồng thời phải có kế hoạch cụ thể cho từng năm,

từng học kì, từng tháng, từng nội dung của công tác GDHN trong nhà trường.

Kế hoạch phải được cụ thể, chi tiết hoá: có sự phân định thời gian, tổ chức,

người thực hiện, nội dung và nhiệm vụ công việc rõ ràng.

Kế hoạch phải được triển khai đúng thời điểm, đúng tiến độ, đồng bộ, thống

nhất; được quán triệt trong toàn thể cán bộ, GV, HS, CMHS, các lực lượng giáo dục

khác và được kiểm tra, đánh giá thường xuyên, kịp thời.

Khi xây dựng kế hoạch cần xác định các nguồn lực phục vụ cho thực hiện kế

hoạch, chú ý huy động và tranh thủ tối đa tiềm năng của các nguồn lực ngoài nhà

trường để thực hiện có hiệu quả công tác GDHN cho HS.

3.2.2.4. Điều kiện thực hiện

Kế hoạch phải được xây dựng trên tinh thần tập thể, vì tập thể, bám sát thực

tiễn, phù hợp với mục tiêu giáo dục.

Muốn thực hiện tốt kế hoạch GDHN cho HS, các tổ chức, bộ phận, cá nhân

trong Hội đồng sư phạm nhà trường phải nhận thức đúng đắn, sâu sắc về vai trò, nhiệm

vụ, mục tiêu của công tác GDHN và ý thức rõ được trách nhiệm của mình trong công

tác này.

Kế hoạch phải có tính khả thi, phải được triển khai thực hiện đồng bộ, đúng quy

trình và phải nhận được sự nhất trí cao của tập thể hội đồng sư phạm.



72



Hiệu trưởng và Ban hướng nghiệp phải quan tâm triển khai, đôn đốc, kiểm tra,

đánh giá việc thực hiện kế hoạch thường xuyên, kịp thời và có những điều chỉnh thích

hợp.

3.2.3.Phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng tham gia giáo dục hướng nghiệp

3.2.3.1.Mục đích của biện pháp

GDHN cho HS đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và

XH tạo nên mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa các bộ phận trong nhà trường, ngoài xã

hội. Điều đó sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp khi thực hiện những nhiệm vụ của GDHN.

Sự phối hợp phải có tính tổ chức, có kế hoạch và tạo nên một thể thống nhất từ trong

nhà trường đến gia đình và XH.

3.2.3.2.Nội dung thực hiện

Thống nhất với các lực lượng giáo dục về mục đích, nhiệm vụ, phương pháp

GDHN.

Hiệu trưởng nhà trường là người xây dựng kế hoạch chung, điều khiển mọi quá

trình và chịu trách nhiệm với cấp trên về kết quả công tác GDHN. Tạo điều kiện và

giúp đỡ mọi người nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ, nội dung, ý nghĩa, tính chất của

GDHN.

Phó hiệu trưởng chỉ đạo trực tiếp công tác GDHN trong nhà trường có nhiệm vụ

động viên mọi người tham gia GDHN, kiểm tra, đánh giá kết quả đạt được trong từng

giai đoạn, từng nội dung. Chỉ đạo Đoàn thanh niên tổ chức các hoạt động GDHN.

GV chủ nhiệm có trách nhiệm tìm hiểu hứng thú, sở thích, năng lực và tâm sinh

lý của mỗi HS trong lớp; Giúp HS hiểu biết ý nghĩa, cơ sở khoa học của việc lựa chọn

nghề và những nghề đang cần phát triển của địa phương, đất nước; Phân bố và tạo ra

điều kiện cần thiết để tổ chức cho HS tham gia các hoạt động ngoại khoá, tham quan

hướng nghiệp trên cơ sở hiểu biết về hứng thú, sở thích, năng lực, đặc điểm tâm sinh lý

của HS; Là người chịu trách nhiệm đứng ra vận động, lôi cuốn các tổ chức trong và

ngoài trường có liên quan tới HS của mình tham gia vào công tác GDHN; Kết hợp

cùng với GV bộ môn đánh giá quá trình học tập và rèn luyện của HS.



73



GV bộ môn là người trực tiếp truyền tải kiến thức của môn học, qua đó phát

hiện kịp thời và có biện pháp thích hợp bồi dưỡng hứng thú, năng lực của HS đối với

bộ môn; Hướng dẫn tổ chức ngoại khoá về nội dung và phương thức tiến hành để đáp

ứng sở thích, năng lực hiểu biết, sáng tạo kỹ thuật của HS; Quan hệ mật thiết với các

CSSX và tổ chức XH để triển khai chu đáo, có hiệu quả các buổi tham quan, trao đổi,

mạn đàm, các buổi sinh hoạt câu lạc bộ môn học, ... có trong lịch trình giảng dạy; Xây

dựng các phòng học bộ môn trong điều kiện nhà trường cho phép để tạo điều kiện cho

giảng dạy chuyên môn và giới thiệu nghề; cung cấp những tư liệu có liên quan tới các

nghề trong XH để góp phần xây dựng phòng hướng nghiệp cho nhà trường.

Đoàn thanh niên là bộ phận quan trọng nằm trong hệ thống GDHN góp phần to

lớn trong việc biến những chủ trương, kế hoạch hướng nghiệp của nhà trường thành

những việc làm cụ thể, có nội dung, có phong trào, sôi nổi và lợi ích thiết thực. Đoàn

thanh niên có trách nhiệm tổ chức những Hội nghị, chuyên đề về lựa chọn nghề nghiệp

và diễn đàn về lao động nghề nghiệp; Giáo dục ý thức, thái độ lao động, lý tưởng nghề

nghiệp; Phối hợp chặt chẽ với Đoàn thanh niên trong các nông trường, nhà máy, hợp

tác xã để các cơ sở Đoàn giúp đỡ HS tìm hiểu nghề nghiệp; Giữ vững mối liên hệ với

HS đã ra trường, trao đổi với họ về tình hình bố trí nghề nghiệp, rút ra những bài học

bổ ích để giúp cho HS sắp ra trường; Động viên HS tham gia có hiệu quả những buổi

LĐSX của nhà trường.

Cán bộ thư viện có nhiệm vụ lựa chọn và giới thiệu sách báo có nội dung hướng

nghiệp để HS tham khảo; Triển lãm sách, báo có tính chất hướng nghiệp; Tổ chức tốt

công tác tuyên truyền nhằm cuốn hút sự chú ý của HS vào việc đọc các sách báo nói về

nghề nghiệp.

Cán bộ y tế của nhà trường kết hợp với các cơ sở y tế sở tại có nhiệm vụ tiến

hành trao đổi với tập thể (trường hoặc lớp) về những vấn đề y học có liên quan tới sự

lựa chọn nghề nói chung và với một số nghề phổ biến nói riêng; Kiểm tra tình trạng

sức khoẻ của từng HS để đưa ra được những kết luận y học có quan hệ tới việc lựa

chọn nghề của mình; Cung cấp những tư liệu, tài liệu cho phòng hướng nghiệp trong

việc thông tin nghề, đồng thời cuốn hút HS vào những nghề có đòi hỏi sự phát triển thể



74



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

×