1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

2- Các khái niệm cơ bản của đề tài:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.59 MB, 113 trang )


Sử gia Daniel A.Wren đã nhận xét rằng: “Quản lý cũng xưa cũ như chính con

người vậy”. Điều đó chứng tỏ quản lý là một hiện tƣợng xã hội xuất hiện rất sớm

và hoạt động quản lý - đã từ lâu đƣợc coi là một thuộc tính lịch sử, bởi vì quản lý

là một hoạt động bắt nguồn từ sự phân công lao động, sự hợp tác lao động trong

một tổ chức nhất định nhằm đạt hiệu quả và năng suất lao động cao hơn. Do đó,

cần có ngƣời đứng đầu để chỉ huy, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh… Nó gắn liền

với sự phát triển của xã hội loài ngƣời và thƣờng xuyên biến đổi.

Trong lịch sử tƣ tƣởng quản lý đã có một “sự tiến hoá” của các tƣ tƣởng

quản lý từ “thời thượng cổ” đến nay. Ở phƣơng Đông, Khổng Tử đã đề cao và xác

định rõ vai trò cá nhân của ngƣời làm công tác quản lý - đặc biệt ông đã để lại một

câu khá lý thú cho những ngƣời làm quản lý “Bất tại kỳ vị bất mưu kỳ chính”

(không ở vào địa vị ấy đừng nên bàn chuyện của nơi ấy).

Marx lại nói về sự ra đời tất yếu của quy luật bằng một cách nói rất hình ảnh,

độc đáo:”Một nghệ sỹ độc tấu thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì cần

có nhạc trưởng”. Ý tƣởng sâu sắc của Marx hàm chứa mối quan hệ biện chứng

giữa hai phạm trù “ tổ chức” và “quản lý”. Tổ chức là yếu tố nảy sinh ra hoạt động

quản lý và nó sẽ không phát triển nếu thiếu hoạt động quản lý.

Theo giáo trình của Học viện chính trị quốc gia (1998) “quản lý là sự kết hợp

giữa tri thức và lao động ” [46, trang 07]

Quan niệm này lại cho ta thấy có 3 yếu tố cốt lõi (từ thời tiền sử tới ngày nay

trong xã hội loài người) là : tri thức, lao động, quản lý mà quản lý lại bao hàm sự

kết hợp giữa tri thức và lao động. Giá trị của đại lƣợng: quản lý = tri thức + lao

động phụ thuộc vào tổng: (tri thức + lao động ) (sự kết hợp). Nếu sự kết hợp này

tốt (giá trị đại lượng đó cao) thì xã hội sẽ phát triển tốt (vì sự quản lý đạt hiệu quả

)và ngƣợc laị, xã hội sẽ trí tuệ thậm chí rối ren và thụt lùi, nếu sự kết hợp không

tốt



Cũng theo giáo trình của Học viện chính trị quốc gia, quản lý là một quy

trình công nghệ và “có nghĩa là điều khiển” mà đối tƣợng điều khiển của nó là các

mối quan hệ giữa: con ngƣời với thiên nhiên, con ngƣời với kỹ thuật công nghệ

(máy móc, phương tiện hiện đại), con ngƣời với con ngƣời. Do đó quản lý là “ sự

tác động chỉ huy, điều khiển cac quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con

người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng

với ý chí của người quản lý” [46, trang 18].

Định nghĩa này thể hiện ý chí của ngƣời quản lý, nó hàm chứa mầu sắc chính

trị và quan điểm giai cấp.

Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Hoạt động quản lý (management)

là tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách

thể (người bị quản lý) - trong một tổ chức.

Định nghĩa này cho ta thấy bất luận một tổ chức nào, có mục đích gì, cơ cấu,

quy mô ra sao đều phải có sự quản lý, ngƣời quản lý để tổ chức đó hoạt động và

đạt đƣợc mục đích.

Từ các định nghĩa đƣợc nhìn nhận từ nhiều góc độ, chúng ta thấy rằng tất cả

các tác giả đều thống nhất về vấn đề cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu

hỏi: Ai quản lý ? (chủ thể quản lý); quản lý ai ? quản lý cái gì ? (khách thể quản

lý); quản lý nhƣ thế nào ? (phương thức quản lý); quản lý bằng cái gì ? (công cụ

quản lý); quản lý nhằm làm gì (mục tiêu) và từ đó chúng ta cũng nhận thức đƣợc:

Bản chất của quản lý là những hoạt động của chủ thể quản lý tác động vào khách

thể quản lý để đảm bảo cho hệ thống tồn tại, ổn định và phát triển lâu dài, vì mục

tiêu và lợi ích của hệ thống.

Đặc trƣng cơ bản của quản lý là tính tác động có chủ định và khả năng làm

tăng tính ổn định, tính tổ chức của hệ thống.

Qua các định nghĩa của các tác giả trong nƣớc, ngoài nƣớc chúng ta thấy

thuật ngữ “quản lý” (từ Việt gốc Hán) có thể hiểu: bao gồm hai quá trình tích hợp



vào nhau: quá trình “quản” và quá trình “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc,

giữ gìn để duy trì hệ (tổ chức) ở trạng thái ổn định. Quá trình “lý” gồm sự sắp xếp,

sửa sang, đổi mới để đƣa hệ vào thế phát triển. Nếu ngƣời điều hành tổ chức chỉ lo

coi sóc giữ gìn (quản) thì hệ sẽ trì trệ; nếu chỉ quan tâm đến việc sắp xếp tổ chức,

đổi mới (lý) mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của hệ sẽ

không bền vững. Ngƣời đứng đầu phải luôn luôn chú ý: trong “quản” phải có “lý”,

trong “lý” phải có “quản” để tổ chức vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả

trong mối tƣơng tác giữa các nhân tố bên trong và các nhân tố bên ngoài. Chúng ta

có thể hiểu khái niệm quản lý theo nghĩa chung nhất: quản lý là sự tác động gây ảnh

hƣởng của chủ thể quản lý bằng những công cụ, phƣơng pháp mang tính đặc thù

trong việc thực hiện các chức năng quản lý để đạt đƣợc mục tiêu chung của hệ

thống.



Công cụ



Chủ thể QL



Chức năng QL



Khách thể QL



Mục tiêu



Phương pháp



Sơ đồ 1.1 thể hiện quá trình quản lý

Theo quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý là hệ thống gồm 4 chức năng:

(1)- Kế hoạch



: Đây là khâu đầu tiên của chu trình quản lý.



(2)- Tổ chức



: Sự chuyển hoá những ý tƣởng trong kế hoạch

thành hiện thực.



(3)- Chỉ đạo



: Điều khiển hệ thống là cốt lõi của chức năng chỉ

đạo, nó kết nối và thẩm thấu vào 2 chức năng trên.



(4)- Kiểm tra



: Là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý.



Trong một chu trình quản lý cả 4 chức năng trên phải đƣợc thực hiện liên tiếp

và đan xen vào nhau; phối hợp bổ sung cho nhau tạo sự kết nối giữa chu trình này

sang chu trình theo hƣớng phát triển, trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt

không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý và là cơ sở cho việc ra

quyết định quản lý.

Kế hoạch



Kiểm tra đánh giá



Thông tin



Tổ chức



Chỉ đạo



Sơ đồ 1.2 Chu trình quản lý

Quản lý giáo dục:

Giáo dục là một chức năng của xã hội loài ngƣời đƣợc thực hiện một cách tự

giác, nó tồn tại, vận động, phát triển với tƣ cách là một hệ thống. Theo cách nói

của Marx thì “dàn nhạc” giáo dục trong quá trình tồn tại và phát triển tất yếu phải

có quản lý giáo dục (nhạc trưởng). Về quản lý giáo dục cũng có khá nhiều quan

điểm:



- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể

quản lý tới khách thể nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới

kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [37, Trang 56]

- Một định nghĩa khác lại cho ta thấy QLGD ở nghĩa tổng quan là hoạt động

điều hành phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo

thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.

Ngày nay, giáo dục không còn là một thứ phúc lợi xã hội đơn thuần vì nó

đƣợc gắn với quá trình phát triển xã hội. Việc đi học của mỗi ngƣời phải là: học

thường xuyên, học suốt đời”. Do vậy giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà

là giáo dục cho mọi ngƣời, cho nên QLGD cũng có thể hiểu là: sự điều hành hệ

thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo

nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

QLGD gồm 3 lĩnh vực:

* Quản lý chính sách (hoạch định chính sách, lập kế hoạch, thực hiện chính

sách và phân bố nguồn lực).

* Quản lý hành chính (sử dụng nguồn lực tài chính, con ngƣời và vật chất).

* Quản lý sƣ phạm (sử dụng giáo viên, tổ chức quá trình dạy học, quá trình

giáo dục thành tích và kết quả học tập)

So với các loại hình quản lý khác, quản lý giáo dục có những đặc trƣng riêng.

- QLGD là hoạt động mang tính nhân văn sâu sắc, nó thu hút sự tham gia của

rất đông các thành viên xã hội và có ảnh hƣởng rất lớn đến mọi mặt đời sống xã hội.

- QLGD có tính xã hội rất cao, bởi vì: chủ thể quản lý giáo dục có chức danh

Nhà nƣớc, quản lý giáo dục nghiêng về quản lý Nhà nƣớc – mục tiêu phát triển

giáo dục lại nhằm giải quyết các vấn đề: dân trí – nhân lực – nhân tài, các vấn đề

này đang thu hút sự quan tâm của toàn xã hội.



- QLGD là hoạt động mang tính sáng tạo vì đối tƣợng của hoạt động QLGD

là con ngƣời với các mối quan hệ phức tạp của nó. QLGD phải là một hoạt động

mang tính sáng tạo mới phát huy đƣợc sự sáng tạo của con ngƣời.

- QLGD thể hiện tính bao hàm giữa học thuật và nghệ thuật, vì đây là dạng

quản lý phức tạp, do quan hệ đa chiều với môi trƣờng xã hội ở nhiều phạm vi, mức

độ, tầng bậc khác nhau.

Chức năng của quản lý giáo dục:

Trƣớc hết, chức năng của quản lý giáo dục cũng gồm 4 chức năng nhƣ của

các hoạt động quản lý khác: - Kế hoạch; - Tổ chức; - Chỉ đạo; Kiểm tra.

QLGD là các dạng hoạt động xác định đƣợc chuyên môn hoá, nhờ đó mà chủ

thể quản lý tác động lên đối tƣợng để thực hiện MTGD.

Đặc điểm quản lý giáo dục: Hệ thống giáo dục là một phân hệ trong toàn

bộ hệ thống xã hội, do đó QLGD chịu sự chi phối của các quy luật xã hội và các

tác động của quản lý xã hội. Song QLGD cũng có những đặc điểm cụ thể sau:

- QLGD luôn gắn với quản lý con ngƣời, đặc biệt là lao động sƣ phạm của

ngƣời giáo viên.

Lao động sƣ phạm của ngƣời thầy giáo mà đối tƣợng là ngƣời học (với những

đặc điểm về tâm, sinh lý lứa tuổi hết sức phức tạp) có những nét đặc thù, rất khác

với lao động khác. Kết quả của hoạt động giáo dục không phụ thuộc hoàn toàn vào

bản thân nhà giáo (năng lực, phẩm chất của thầy) mà còn phụ thuộc vào thái độ

của ngƣời học. Ngƣời học vừa là đối tƣợng của hoạt động giáo dục, vừa là chủ thể

của hoạt động giáo dục. Phƣơng tiện lao động của ngƣời thầy chủ yếu là bằng lời

nói, vốn kiến thức, bằng tấm gƣơng, thái độ, bằng sự cảm hoá,… Thời gian lao

động của ngƣời thầy cũng khác biệt: nó không rạch ròi giữa lúc làm và nghỉ. Ngay

cả khi lo việc gia đình và lúc nghỉ ngơi, giải trí ngƣời thầy giáo vẫn có thể vẫn suy

nghĩ về công việc lao động sƣ phạm của mình. Vì vậy, muốn để giáo viên toàn tâm



toàn ý cho sự nghiệp “trồng người”, QLGD cần tạo điều kiện thuận lợi về vật chất

và tinh thần, tạo điều kiện để họ tự nâng tiềm lực của mình lên.

- Sản phẩm giáo dục là nhân cách, là con ngƣời nên QLGD phải chú ý tránh

rập khuôn máy móc trong quá trình tạo ra sản phẩm và đặc biệt không đƣợc phép

tạo ra thứ phẩm.

- Tính kế thừa, tính thống nhất, toàn diện, liên tục, phát triển và linh hoạt là

những yâu cầu mà QLGD luôn phải chú ý cao độ.

- QLGD rất cần phối hợp đồng bộ, chặt chẽ các lực lƣợng trong nhà trƣờng,

gia đình, xã hội. Nó đòi hỏi phải quán triệt quan điểm quần chúng, có sự kết hợp

giữa nhân tố bên trong và bên ngoài, trong đó nhân tố bên trong giữ vai trò quyết định.

Nội dung quản lý giáo dục:

Mục tiêu; nội dung; phƣơng pháp; hình thức tổ chức giáo dục; ngƣời dạy;

ngƣời học; cơ sở vật chất; thiết bị, môi trƣờng; kết quả giáo dục; là các thành tố

trong nội dung QLGD - một hệ thống toàn vẹn.

Quản lý giáo dục là:

1- Quản lý mục tiêu giáo dục;

3- Quản lý phƣơng pháp giáo dục;

5- Quản lý giáo viên, cán bộ nhân viên;



2- Quản lý nội dung giáo dục;

4- Quản lý hình thức tổ chức giáo dục;

6- Quản lý học sinh;



7- Quản lý căn cứơ sở vật chất – KTGD; 8- Quản lý môi trƣờng giáo dục;

9- Quản lý kết quả giáo dục.

1.2.2- Giáo dục tiểu học :

Giáo dục tiểu học là một trong hai bậc học của giáo dục phổ thông. Chƣơng

II, mục 2 của Luật Giáo dục ghi “Giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với

mọi trẻ em từ sáu đến mười bốn tuổi; được thực hiện trong 5 năm học từ lớp một

đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào lớp một là sáu tuổi “ [8, trang 16]



Giáo dục tiểu học với mục tiêu: “…giúp học sinh hình thành những cơ sở

ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm

mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở ” [8, trang 17]

Về yêu cầu và nội dung, phương pháp: “Giáo dục tiểu học phải bảo đảm

cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người: có

kỹ năng cơ bản về nghe, đọc, nói, viết và tính toán: có thói quen rèn luyện thân thể,

giữ gìn vệ sinh, có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mỹ thuật “ [8, trang 17]

Về tính chất giáo dục tiểu học mang tính nhân văn, dân tộc, hiện đại.

Về đặc điểm: tiểu học là bậc học nền tảng, bậc học dành cho mọi trẻ em, bậc

học đem đến cho trẻ em hạnh phúc đƣợc đi học

Từ đó chúng ta có thể gọi: giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ

thống giáo dục quốc dân, sự hình thành và phát triển của bậc học nền tảng này

chính là cơ sở để phát triển các bậc học tiếp sau.

1.2.3- Giáo viên tiểu học:

Nhà giáo: Theo Luật Giáo dục (chương IV mục 1) “Nhà giáo là người làm

nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục."

Giáo viên tiểu học:“Giáo viên trường tiểu học là người làm nhiệm vụ giảng

dạy, giáo dục trong nhà trường gồm: Hiệu trưởng, các Phó Hiệu trưởng,

giáo viên dạy các môn học, giáo viên tổng phụ trách Đội” [8, trang 23].

Về tiêu chuẩn giáo viên tiểu học cũng nhƣ nhà giáo nói chung, phải có đầy đủ

các tiêu chuẩn nhƣ trong Luật Giáo dục quy định:

(a) Phẩm chất đạo đức tƣ tƣởng tốt; (b) Đạt trình độ chuẩn đƣợc đào tạo về

chuyên môn, nghiệp vụ; (c) Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp; (d) Lý lịch bản

thân rõ ràng.

Về nhiệm vụ của giáo viên tiểu học, “Điều lệ trường tiểu học” quy định rất cụ thể :

Đối với giáo viên dạy các môn học ở trƣờng tiểu học, có các nhiệm vụ sau:



(a) Giảng dạy và giáo dục theo đúng chƣơng trình giáo dục, kế hoạch dạy

học, soạn bài, kiểm tra, đánh giá đúng quy định; lên lớp đúng giờ, không tuỳ tiện

bỏ giờ, bỏ buổi học, đảm bảo chất lƣợng và hiệu quả giảng dạy; quản lý học sinh

trong các hoạt động giáo dục do nhà trƣờng tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ

chuyên môn; (b) Tham gia phổ cập giáo dục tiểu học ở địa phƣơng; (c) Rèn luyện

đạo đức, học tập văn hoá, bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất

lƣợng và hiệu quả giảng dạy và giáo dục; (d) Thực hiện nghĩa vụ công dân, các

quy định của pháp luật, các quyết định của Hiệu trƣởng và của các cấp quản lý

giáo dục; (đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gƣơng mẫu trƣớc

học sinh, thƣơng yêu tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh; bảo vệ các

quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết giúp đỡ các bạn đồng nghiệp;

(e) Chủ động phối hợp với Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Sao Nhi đồng

Hồ Chí Minh, với gia đình học sinh và các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt

động giảng dạy và giáo dục; (g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp

luật [13, trang 24]

Về trình độ chuẩn đƣợc đào tạo, Luật giáo dục ghi “Có bằng tốt nghiệp

Trung học Sư phạm đối với giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học”. Trong Điều lệ

trƣờng tiểu học, trình độ chuẩn đƣợc đào tạo đối với giáo viên tiểu học đƣợc quy

định cụ thể “Giáo viên tiểu học phải đạt trình độ chuẩn Trung học Sư phạm 9+3

đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, Trung học Sư phạm

12+2 đối với vùng còn lại” [13, trang 25]

Giáo viên tiểu học là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà

trường tiểu học (bao gồm : Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên dạy môn

học, giáo viên Tổng phụ trách Đội) có trình độ đào tạo chuẩn là Trung học Sư

phạm (9+3/12+2).

Công tác bồi dƣỡng:



Trong QLGD, CTBDGV thƣờng đƣợc gắn liền với đào tạo và đã từ lâu, cụm

từ Đào tạo - Bồi dƣỡng đã trở thành một định danh chỉ một công việc của ngành

Giáo dục &Đào tạo nói chung và của các cấp quản lý từ Bộ đến Sở và phòng Giáo dục.

Đào tạo:



Đào: Nghĩa bóng là sự giáo hoá, sự tôi luyện

Tạo: Làm nên, tạo nên…



Theo đaị từ điển tiếng Việt “Đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực

theo những tiêu chuẩn nhất định”.

“Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành

và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hình thành và

hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể vào đời hành

nghề một cách có năng suất và hiệu quả “ [32, trang 11]

Đào tạo đƣợc quy định về phạm vi, cấp độ, cấu trúc, quy trình một cách chặt

chẽ với những hạn định cụ thể về mục tiêu, nội dung chƣơng trình và có hệ thống

cho mỗi khoá học với những thời gian, trình độ và tính chất cụ thể. Quá trình này

đƣợc tiến hành trong các cơ sở đào tạo.

Về tính chất, đào tạo là một thuộc tính cơ bản quá trình giáo dục.

Bồi dưỡng: Bồi: nghĩa chữ Hán là vun bón; nghĩa bóng là dƣỡng dục nhân tài;

Dƣỡng: Nuôi lớn.

Theo đại từ điển tiếng Việt : “Bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc

phẩm chất của con người”.

Bồi dƣỡng là quá trình tiếp nối đào tạo nhằm nâng cao năng lực và phẩm chất

chuyên môn cho ngƣời lao động, là quá trình “cập nhật hoá kiến thức còn thiếu

hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề

nghiệp theo các chuyên đề” [32, trang 13]

Bồi dƣỡng thực chất là nhằm làm giàu vốn kiến thức, nâng cao hiệu quả lao

động từ việc bồi đắp những thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ sở “nuôi



dưỡng”, “giữ gìn” những cái cũ còn phù hợp để mở mang có hệ thống những tri

thức, kỹ năng, nghiệp vụ.

Bồi dƣỡng giáo viên là một việc làm thƣờng xuyên của Giáo dục & Đào tạo,

để nâng cao, hoàn thiện trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ cho các giáo viên

đang giảng dạy và công tác trong trƣờng học.

Đào tạo lại: Là quá trình hoạt động nhằm tạo cho ngƣời lao động có cơ hội

học thêm một chuyên môn mới để thay đổi nghề hoặc tiếp tục nghề với công nghệ

mới. Với phƣơng trâm GDTX, giáo dục suốt đời thì Đào tạo, Bồi dưỡng và Đào

tạo lại là quá trình thống nhất và Bồi dưỡng - Đào tạo lại là sự tiếp nối của quá

trình Đào tạo. Cũng có khi Bồi dưỡng và Đào tạo lại tạo tiền đề về tiêu chuẩn cho

quá trình Đào tạo chính quy ở bậc cao hơn về trình độ chuyên môn trong lĩnh vực

cụ thể (ví dụ: Bồi dưỡng để chuẩn hoá THSP để tiếp tục đào tạo CĐSP và ĐHSP).

Bồi dƣỡng giáo viên có thể coi là việc Đào tạo lại, đổi mới, cập nhật kiến

thức, kỹ năng nghề nghiệp,… là sự nối tiếp tinh thần đào tạo liên tục trƣớc và trong

khi làm việc của ngƣời giáo viên.

Bồi dưỡng giáo viên là một hoạt động giáo dục, với mục đích nhằm cập

nhật những kiến thức khoa học, nghiệp vụ sư phạm hoặc nâng cao trình độ cho

giáo viên theo yêu cầu của ngành học, bậc học. Hoạt động bồi dưỡng đối với

mọi giáo viên là thường xuyên, liên tục.

Nhiệm vụ của công tác bồi dưỡng giáo viên:

- Không ngừng nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội

ngũ giáo viên để đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp GD&ĐT trong thời kỳ

CNH-HĐH.

- Thông qua BD, giúp cho giáo viên có một phƣơng pháp, thói quen và nhu

cầu tự học, tự nghiên cứu, thực hành và vận dụng các phƣơng pháp đổi mới

phƣơng pháp dạy học nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả quá trình Dạy - Học để

nâng cao chất lƣợng Giáo dục & Đào tạo.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

×