1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

5- Các yêu cầu của công tác bồi dưỡng đối với giáo viên tiểu học:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.59 MB, 113 trang )


1.5.1- Tầm quan trọng của CTBDGV:

Bồi dƣỡng là một quá trình nối tiếp của đào tạo, làm cho ngƣời giáo viên

đƣợc đào tạo liên tục, suốt đời.

BDGV là một hoạt động giáo dục có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, gắn liền với

quan điểm học tập thƣờng xuyên, học tập suốt đời. Công tác này đã trở thành một

phƣơng thức chủ yếu của mọi hoạt động GD&ĐT, nên các cấp chính quyền và các

cấp lãnh đạo của ngành phải thấy đƣợc đây là một hoạt động giáo dục phải đƣợc

tiến hành thƣờng xuyên. Tầm quan trọng của công tác bồi dƣỡng phải đƣợc đánh

giá đúng mức. “Trong giáo dục tiểu học, người giáo viên là nhân tố hàng đầu

quyết định chất lượng giáo dục” và “Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người

giáo viên tiểu học là yếu tố cơ bản đảm bảo chất lượng giáo dục” [11, trang 67]

Bồi dƣỡng giáo viên là yêu cầu tự thân của nghề dạy học ở bậc tiểu học; bồi

dƣỡng giáo viên chính là huấn luyện và phát triển đội ngũ.

1.5.2- Công tác bồi dƣỡng phải đƣợc tiến hành trên cơ sở có quy hoạch:

- Bồi dƣỡng để giúp đội ngũ giáo viên tiểu học nâng cao trình độ là một

nhiệm vụ rất cần thiết và cấp bách. Công tác này phải làm trên cơ sở quy hoạch:

trên cơ sở thực trạng của đội ngũ.

- Giáo viên tiểu học là lực lƣợng đông đảo nhất trong đội ngũ giáo viên ở

nƣớc ta, có một lịch sử về trình độ đào tạo ban đầu thấp nhất, đa dạng về nguồn

gốc đào tạo, tỷ lệ đạt chuẩn thấp so với các bậc học khác.

Từ thực trạng của đội ngũ, công tác bồi dƣỡng cho giáo viên tiểu học phải

đƣợc tiến hành trên cơ sở phƣơng hƣớng và các biện pháp thiết thực phù hợp.

Chính phủ và Bộ đề ra phƣơng hƣớng, biện pháp chung, các địa phƣơng (tỉnh,

thành phố và các Sở GD-ĐT) trên cơ sở khảo sát thực trạng đội ngũ giáo viên tiểu

học của địa phƣơng đề ra kế hoạch và phƣơng hƣớng bồi dƣỡng, từng bƣớc khắc

phục hiện trạng, nâng dần trình độ nghiệp vụ, chuyên môn của đội ngũ giáo viên

tiểu học địa phƣơng.



- Thứ nhất : Tính quy hoạch của công tác BDGV tiểu học phải xuất phát từ

hệ thống sƣ phạm đào tạo giáo viên tiểu học, từng bƣớc chuyển dần hệ đào tạo giáo

viên tiểu học có trình độ Trung học Sƣ phạm (12+2) lên trình độ Cao đẳng và Đại

học. Để làm đƣợc việc này cần có sự nhập cuộc của lãnh đạo cấp Nhà nƣớc, cấp

tỉnh/thành phố, tạo điều kiện cơ sở vật chất, các nguồn lực: ngƣời, kinh phí… cho

các trƣờng sƣ phạm có đủ khả năng đào tạo giáo viên tiểu học theo yêu cầu của xã

hội.

Thứ hai: Tính quy hoạch của công tác bồi dƣỡng đƣợc thể hiện ở việc tổ

chức thực hiện đƣợc tiến hành nhất quán đồng bộ từ Trung ƣơng đến các cơ sở.

+ Cấp ngành: Bộ Giáo dục - Đào tạo quản lý, chỉ đạo thực hiện kế hoạch

chƣơng trình và tài liệu bồi dƣỡng một cách thống nhất trên phạm vi toàn quốc.

+ Sở GD&ĐT: triển khai các chủ trƣơng của Bộ một cách triệt để, quản lý

chỉ đạo việc tổ chức thực hiện kế hoạch chƣơng trình bồi dƣỡng trên địa bàn phù

hợp với yêu cầu thực tế; phối hợp với trƣờng Sƣ phạm tổ chức bồi dƣỡng theo kế

hoạch chung; tăng cƣờng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch về tiến độ,

quy trình và chất lƣợng.

+ Phòng Giáo dục: Theo sát chỉ đạo của Sở Giáo dục - Đào tạo để lập kế

hoạch bồi dƣỡng giáo viên, trong đó có bồi dƣỡng giáo viên tiểu học, tham gia

quản lý công tác bồi dƣỡng trên địa bàn (mở lớp bồi dưỡng tại quận, huyện); có kế

hoạch kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và hiệu quả công tác bồi dƣỡng ở

các đơn vị cơ sở.

+ Trƣờng tiểu học: Tuân thủ sự chỉ đạo và kế hoạch của Phòng Giáo dục Đào tạo để sắp xếp, bố trí thực hiện đầy đủ chính sách đối với giáo viên theo quy

định; tạo mọi thuận lợi để giáo viên tham gia bồi dƣỡng; động viên, khuyến khích

giáo viên đăng ký đề bài tự bồi dƣỡng, vận dụng các kiến thức, kỹ năng, phƣơng

pháp dạy học mới vào giảng dạy; nhà trƣờng chủ động quản lý tham gia đánh giá



việc thực hiện chƣơng trình bồi dƣỡng của giáo viên; tham mƣu và phối hợp công

tác bồi dƣỡng giáo viên.

+ Trƣờng Sƣ phạm là đơn vị đƣợc Sở mời tham gia phối hợp làm nhiệm vụ

trực tiếp BDGV. Giữa trƣờng và Sở phải có sự phối hợp nhịp nhàng để triển khai

kế hoạch.

1.5.3- Công tác bồi dƣỡng rất cần thiết đối với giáo viên tiểu học nhƣng

phải phù hợp với đối tƣợng:

Nội dung:

Bồi dƣỡng là sự nối tiếp những tri thức đã đƣợc đào tạo ban đầu, do đó nội

dung bồi dƣỡng giáo viên tiểu học theo Bùi Văn Huệ phải chú ý đến các lĩnh vực

sau: - Trình độ hiểu biết về khoa học – kỹ thuật đáp ứng tình hình thay đổi nhanh

chóng hiện nay.

- Trình độ tâm lý học, sƣ phạm học đủ để hiểu học sinh hiện đại và có cách

ứng xử khoa học với chúng.

- Trình độ sử dụng các phƣơng tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ cho dạy và học

ở tiểu học.

- Phƣơng pháp tự học, tự bồi dƣỡng, phƣơng pháp tiếp cận và lựa chọn các

thông tin khoa học cần thiết cho công tác dạy học và giáo dục. Nâng cao trình độ

chính trị tƣ tƣởng, đạo đức của ngƣời giáo viên tiểu học để mỗi giáo viên tiểu học

là hiện thân của lý tƣởng cao đẹp mà xã hội ta đang vƣơn tới.

Nhìn chung, nội dung của bồi dƣỡng phải phù hợp với mục tiêu và hình thức

của từng loại hình bồi dƣỡng. Ví dụ bồi dƣỡng chuẩn hoá: nội dung phải bao hàm

3 nhóm kiến thức: đại cƣơng, cơ sở chuyên ngành và cơ bản chuyên ngành.

Thời gian:

Để khỏi xáo trộn lực lƣợng lao động ở các trƣờng, nếu thời gian của các khóa

BD dài thì phải đƣợc chia theo chu kỳ (ví dụ như chu kỳ bồi dưỡng thường xuyên).

Thời điểm thích hợp nhất để mở các lớp BDGV là vào các dịp hè - đây là thời



điểm ngƣời giáo viên tạm thời đƣợc dãn công việc giảng dạy và giáo dục - song

hiệu quả sẽ không cao nếu không có các biện pháp quản lý tốt.



Địa điểm:

Để CTBDGV có hiệu quả, địa điểm mở lớp phải ở gần ngƣời học để giản tiện

các chi phí đi lại, giúp tạo điều kiện cho nhiều giáo viên tiểu học có thể tham gia đƣợc.

Phƣơng pháp bồi dƣỡng:

Đòi hỏi độ linh hoạt cao, mềm dẻo, tiếp cận sâu với phƣơng pháp dạy học

cho ngƣời lớn và nghiêng về cách dạy tự học. Trong công tác bồi dƣỡng, phƣơng

pháp chính là phƣơng pháp dạy - tự học. Phƣơng tiện bồi dƣỡng đƣợc sử dụng

phong phú, đa dạng, có thể sử dụng và khai thác từ nhiều kênh thông tin. Hiện nay

ngƣời ta đề cao việc khai thác những tiến bộ của khoa học - công nghệ trong hoạt

động bồi dƣỡng, đặc biệt với loại hình tự bồi dƣỡng và bồi dƣỡng từ xa.

Đối tƣợng tham gia bồi dƣỡng:

Đối tƣợng tham gia bồi dƣỡng chủ yếu là giáo viên đang đứng lớp ở các

trƣờng tiểu học. Tuỳ vào loại hình và mục tiêu bồi dƣỡng mà đối tƣợng có thể khác

nhau. Về đại thể, đối tƣợng bồi dƣỡng phần đông là những ngƣời có trình độ đào

tạo ban đầu chƣa cao và đã có tuổi. Vì đây là những giáo viên có bậc lƣơng thấp,

lại có điều kiện công tác ở phân tán, xa xôi,…Nên phải tăng cƣờng hỗ trợ về mọi

mặt cho đối tƣợng này đƣợc đi học.

1.5.4- Hình thức:

Theo Trần Bá Hoành công tác bồi dƣỡng giáo viên: hiện có 3 loại hình bồi

dƣỡng tuỳ theo mục tiêu bồi dƣỡng: BDCH, BDTX theo chu kỳ, BD để dạy theo

chƣơnƣg trình và SGK mới; ta thƣờng gọi tắt là bồi dƣỡng thay sách Có 3 phƣơng

thức phổ biến:



- Bồi dƣỡng tập trung: Bồi dƣỡng theo khoá hoặc từng đợt tại cơ sở đào tạo

hay cơ sở BDGV.

- Bồi dƣỡng tại chỗ: là tổ chức bồi dƣỡng ngay tại trƣờng mà giáo viên đang

công tác.

- Bồi dƣỡng từ xa: Nhờ các phƣơng tiện khoa học - công nghệ thông tin để hỗ

trợ bồi dƣỡng tại chỗ hoặc địa điểm gần ngƣời học.

Hiện nay, phƣơng thức tự bồi dƣỡng đang đƣợc quan tâm và đề cao. Bởi vì tự

học, tự đào tạo đang đƣợc coi là phƣơng châm thực hiện ý đồ chiến lƣợc “học

thường xuyên, học suốt đời” để tiến tới xây dựng một xã hội học tập.

Riêng đối với giáo viên tiểu học, theo Vũ Quốc Chung thì “Đào tạo, bồi

dưỡng giáo viên tiểu học bằng hình thức từ xa là giải pháp thích hợp đáp ứng

được yêu cầu đối với giáo dục ở nước ta hiện nay” [11, trang 67]. Tuy nhiên cũng

theo Vũ Quốc Chung thì hình thức này cũng có những khó khăn:

(i)- Khả năng tự học của giáo viên tiểu học còn hạn chế do trình độ đào tạo ban

đầu chƣa cao.

(ii)- Cƣờng độ lao động, điều kiện công tác liên tục, ít có thời gian để tự học.

(iii)- Hoàn cảnh kinh tế khó khăn cũng cản trở việc tự học.

(iv)- Địa bàn công tác của giáo viên tiểu học thƣờng phân tán, xa xôi ít có cơ

hội để trao đổi giải đáp thắc mắc, mở rộng việc học trong quá trình tự học.

Do đó, đối với giáo viên tiểu học hình thức tự học, tự bồi dƣỡng có hƣớng

dẫn là phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh công tác,… ở đây định hƣớng của thầy,

của cốt cán bộ môn rất quan trọng. Sự định hƣớng này sẽ phát huy hiệu quả học tập

của từng cá nhân, giúp cho họ biết học cùng nhau để nhận thức từ nhau, từ tập thể.

1.5.5- Các điều kiện để tiến hành bồi dƣỡng:

(i) Cơ sở vật chất - sư phạm phục vụ cho công tác bồi dưỡng: đó là phòng

ốc để mở các lớp bồi dƣỡng sách vở tài liệu hƣớng dẫn bồi dƣỡng.



- Ở các địa phƣơng phải có những địa điểm là nơi tập trung giáo viên dự các

lớp bồi dƣỡng: nghe giảng định hƣớng của giảng viên và các sinh hoạt chuyên môn

(của cụm, quận/huyện). Trong điều kiện và hoàn cảnh hiện nay, đó là những

trƣờng tiểu học đã và đang xây dựng chuẩn quốc gia, điều kiện phòng ốc khá đầy

đủ, Sở GD&ĐT có thể tận dụng mƣợn trong những thời gian có thể đƣợc để mở

lớp bồi dƣỡng ngay tại các địa phƣơng để tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên .

- Phƣơng tiện giảng dạy và các tài liệu, sách tham khảo và tài liệu hƣớng dẫn

bồi dƣỡng đầy đủ là điều kiện rất quan trọng đảm bảo cho CTBD đạt hiệu quả cao.

(ii) Lực lượng làm công tác bồi dưỡng là các cán bộ chuyên trách quản lý

công tác bồi dƣỡng và đội ngũ các giảng viên. Lực lƣợng làm công tác bồi dƣỡng

phải là những ngƣời có nghiệp vụ quản lý công tác bồi dƣỡng, có đủ phẩm chất và

năng lực để triển khai chủ trƣơng của Bộ, tham mƣu để lãnh đạo Sở xây dựng kế

hoạch phù hợp với thực tiễn và có năng lực tổ chức, quản lý các lớp bồi dƣỡng

trong địa bàn cơ sở/ thành phố.. Họ cũng là lực lƣợng giúp các cấp lãnh đạo ngành

kiểm tra đánh giá hiệu quả của công tác bồi dƣỡng (thông qua thanh tra, kiểm tra,

dự giờ thăm lớp).

(iii) Kinh phí cho bồi dưỡng: Cần đƣợc tăng cƣờng hơn nữa kinh phí cho

CTBDGV, đặc biệt là BDGV tiểu học:

+ Tài trợ kinh phí đào tạo cho các lớp bồi dƣỡng tập trung hoặc không tập

trung nhƣng diễn ra dài, nhiều kỳ đối với BDCH và BDNC.

+ Tăng thù lao cho đội ngũ những cốt cán làm công tác bồi dƣỡng, đặc biệt là

những giảng viên trực tiếp đứng lớp giảng bài, hƣớng dẫn, giải đáp thắc mắc,…

1.5.6- Xây dựng cơ chế hợp lý để tăng cƣờng công tác quản lý:

- Nghị quyết Trung ƣơng 2 khoá VIII đã nêu:

“Thực hiện chương trình bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng chuẩn hoá,

nâng cao phẩm chất và năng lực đội ngũ giáo dục… không bố trí người kém phẩm



chất, đạo đức làm giáo viên, kể cả giáo viên hợp đồng… có chính sách sử dụng và

đãi ngộ đúng giá trị nguồn nhân lực được đào tạo…”.

- Để tăng cƣờng CTBD phải có cơ chế phù hợp “Nghiên cứu và giải quyết

một số vấn đề về chế độ ưu đãi thật sự về lương đối với giáo viên tiểu học… cải

tiến cơ chế sử dụng về quản lý lao động giáo viên nhằm nâng cao hiệu suất sử

dụng, nhất là giáo viên giỏi tạo thêm điều kiện để giáo viên sống bằng nghề của

mình…” [11]

- Đối với các địa phƣơng, tuỳ vào điều kiện thực tế để gắn kết quả bồi dƣỡng

với việc đánh giá, bố trí sử dụng giáo viên:

+ Cho đến thời điểm này giáo viên nào chƣa đạt chuẩn mà không có điều

kiện BDCH thì phải bố trí các công việc khác, không bố trí đứng lớp. Đối với các

lớp thay sách, không bố trí giáo viên chƣa qua bồi dƣỡng giảng dạy.

+ Gắn kết quả bồi dƣỡng để xét các danh hiệu thi đua (bên cạnh các tiêu chí

khác) của mỗi cá nhân và các đơn vị giáo dục trong từng học kỳ và cả năm học. Có

chế độ khen thƣởng thoả đáng với những tập thể, cá nhân có thành tích tốt trong

công tác bồi dƣỡng.



Chƣơng 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ BỒI DƢỠNG

GIÁO VIÊN TIỂU HỌC THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

2.1- Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng:

2.1.1- Những khái quát về địa lý, dân số:

Địa lý:

Với tổng diện tích tự nhiên 1.507,66km2, Hải Phòng là một thành phố lớn thứ

3 của Việt Nam (sau thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội) có cảng biển lớn nhất

miền Bắc Việt Nam, có 3 phía tiếp giáp với 3 tỉnh: phía Bắc và Đông Bắc giáp với

Quảng Ninh; phía Tây Bắc giáp với Hải Dƣơng; phía Tây Nam giáp với Thái Bình.

Phía Đông thành phố với 125km biển chạy dài hƣớng Đông Bắc – Tây Nam.

Vị trí địa lý đã tạo cho Hải Phòng thành một đầu mối giao thông quan trọng;

đậy là trung tâm giao thông vận tải của các tỉnh, thành phố phía bắc. Cảng Hải

Phòng từ đầu thế kỷ XX, tầu biển đi về và cập bến cảng lớn nhất Đông Nam Á,

Châu Á, Châu Đại Dƣơng…Bắc Âu…

Hải Phòng là một thành phố công nghiệp tập trung có nhiều tiềm năng:

Đó là nghề nuôi trông và đánh bắt hải sản, là các ngành nghề đã có từ lâu đời:

đóng tầu, dịch vụ cảng, sản xuất xi măng, đặc biệt là tiềm năng du lịch.

- Là thành phố, Hải Phòng có rừng, có núi, rừng chủ yếu ở vùng đảo Cát Bà

với diện tích đƣợc quy hoạch là 15.200ha, bán đảo đồi núi - Đồ Sơn vƣơn ra biển

với chiều dài là 5km (có giá trị chủ yếu về phong cảnh, sinh thái). Cát Bà (huyện

Cát Hải), Đồ Sơn, Núi Voi (An Lão) Tràng Kênh (Thuỷ Nguyên) là những địa danh

du lịch nổi tiếng của thành phố. Hải Phòng là một địa phƣơng có nhiều điều kiện

phát triển ngàh công nghiệp du lịch, lịch vụ.

Là thành phố công nghiệp, có diện tích đất nông nghiệp không nhiều, nhƣng

Hải Phòng có tiềm năng triển nông nghiệp và phát triển nông thôn theo hƣớng



công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Dọc theo 125km bờ biển, Hải Phòng có 5 cửa sông

lớn.

Cửa Nam Triệu ; Cửa Cấm ; Cửa Lạch Tray ; Văn úc ; Thái Bình

Có nhiều bãi ngang, các luồng lạch rất tiện cho thuyền khai thác thuỷ sản đi

lại dễ dàng, sản lƣợng đánh bắt thuỷ sản hàng năm từ 7-8 nghìn tấn.

Với 23.000 ha bãi bồi ngập tràn, trong đó có 9000 ha triều cao để nuôi trồng

thuỷ sản, hiện đã có 4000 ha đƣợc nuôi trồng. Quanh đảo Cát Bà và Bạch Long Vỹ

có 5 ngàn ha mặt nƣớc mặn bao quanh là tiềm năng nuôi đặc sản biển với công

nghệ cao.

- Khoảng sản của Hải Phòng chủ yếu là đá vôi (ở Tràng Kênh, Pháp Cổ)

nguồn nguyên liệu sản xuất xi măng, đất đèn…

Nhìn về quá khứ, tƣơng lai… về địa lý tự nhiên, con ngƣời…Hải Phòng có

nhiều tiền đề và điều kiện để trở thành một trung tâm văn hoá miền biển

Tổ chức hành chính và dân số:

* Tổ chức hành chính, Hải Phòng :

+ 8 huyện: Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Thuỷ Nguyên, Kiến Thuỵ, An Lão, An

Dƣơng, Huyện đảo Cát Bà, huyện đảo Bạch Long Vỹ.

+ 5 quận: Lê Chân, Hải Phòng, Ngô Quyền, Kiến An, Hải An

+ 1 thị xã: Đồ Sơn.

Dân số:

Năm 1999 theo tổng điều tra dân số: Dân số Hải Phòng: 1.672.425 ngƣời

(đến 2002 Hải Phòng có khoảng trên 1,7 triệu người) trong đó dân thành thị chiếm

34,4%. Mật độ dân số khá đông: 1.105ngƣời/1km2, về cơ cấu độ tuổi có 29,4% từ

0 đến 14 tuổi, chỉ có 7% từ 65 trở lên (dân số Hải Phòng trẻ).

- Tỷ lệ tăng dân số: 1995: 1,56% ; 2000 : 1,15% ; Hiện nay: 1%.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

×