1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.7 MB, 113 trang )


Chƣơng 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC

ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Các nghiên cứu nước ngoài

Ở phương Tây, nhà triết học Socrat (470-399-TCN) đã cho rằng đạo

đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết,

do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức.

Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế

áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu

trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức.

Ở phương Đông từ thời cổ đại, Khổng Tử (551-479-TCN ) trong các tác

phẩm: “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc Xuân Thu” rất xem trọng việc GDĐĐ.

1.1.2.Các nghiên cứu trong nước

Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô

dụng”. Người coi trọng mục tiêu, nội dung GDĐĐ trong các nhà trường như:

“Đoàn kết tốt”, “Kỷ luật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà dũng cảm”, “Con người

cần có bốn đức: cần - kiệm - liêm - chính, mà nếu thiếu một đức thì không

thành người”.

Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả nước ta đã nghiên cứu

về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm

Khắc Chương, Trần Văn Chương, Phạm Hoàng Gia, Phạm Tất Dong, Võ

Huỳnh Ngọc Vân, Phạm Trung Thanh và nhiều tác giả khác.

Trong tài liều bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 – 2000 cho GV

THPT: “Đạo đức học” các tác giả Phạm Khắc Chương và Trần Văn Chương

đã phân tích quá trình phát triển tâm sinh lý của HS THPT, về tình bạn, tình

yêu, khẳng định đại đa số HS hiếu học, ngoan ngoãn, thông minh và chỉ có

một bộ phận HS hư mà người có lỗi lại chính là người lớn chúng ta. Trong

11



chương VI đề cập một số vấn đề quan tâm trong giảng dậy và GDĐĐ HS,

trong đó các tác giả xây dựng chuẩn mực về đạo đức mới trong gia đình,

trong học tập, trong tình bạn, tình yêu và trong giao tiếp. Trong chương VII

đề cập đến việc học tập, tu dưỡng đạo đức theo gương cách mạng của Chủ

tịch Hồ Chí Minh.

Đặc biệt trong chương VIII các tác giả đề xuất một số phương pháp

giảng dạy và GDĐĐ cho HS trong nhà trường THPT bằng một số nhóm

phương pháp cụ thể và bằng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cũng như

mối quan hệ giữa các phương pháp đó.

Tác giả Thái Duy Tuyên trong công trình nghiên cứu của mình: “Những

vấn đề cơ bản của giáo dục hiện đại” [28] trong phần đánh giá về thực trạng

đã tỏ ra rất lo lắng trước sự sa sút về đạo đức ngày càng gia tăng cả về số

lượng lẫn chất lượng và mức độ nguy hại của một bộ phận HS. Tác giả kết

luận ĐĐHS đang trên đà giảm sút và cho rằng GDĐĐ là nhiệm vụ quan trọng

của toàn xã hội đông thời cũng kiến nghị cần đẩy mạnh hơn nữa công tác

nghiên cứu về GDĐĐ.

Trong tác phẩm: “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công

nghiệp hoá, hiện đại hoá” [14] của một nhóm tác giả do GS.VS Phạm Minh

Hạc làm chủ biên, trong chương VII nói về định hướng chiến lược xây dựng

đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

cũng đã đánh giá thực trạng ĐĐHS, sinh viên hiện nay có một khoảng cách

khá xa mới tiếp cận được với mục tiêu giáo dục giá trị đạo đức so với yêu cầu

của thời kỳ mới.

Trong cuốn: “ Văn hoá với thanh niên – Thanh niên với văn hoá” [3]

do Ban tư tưởng – Văn hoá Trung ương biên soạn tập hợp các bài viết của

nhiều tác giả, trong đó tác giả Hà Nhật Thăng trong bài viết của mình đã nêu

lên thực trạng đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của thanh niên, HS, sinh

viên hiện nay và đi đến nhận định: Trong HS, sinh viên có sự phân hoá khá rõ

rệt, tỷ lệ giữa các nhóm có đạo đức tốt, chậm tiến, bình thường có sự chênh

12



lệch khá lớn. Tuy nhiên các giá trị đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống được

đa số HS, sinh viên quan tâm vẫn là các giá trị đạo đức cốt lõi của nhân cách

con người Việt Nam; cũng có những giá trị mới do yêu cầu của CNH, HĐH

chưa được HS, sinh viên coi trọng. Tóm lại, những giá trị truyền thống của

dân tộc vẫn được số đông HS, sinh viên coi trọng tuy vẫn chưa thể hiện qua

hành vi hoạt động. Một bộ phận không nhỏ (khoảng 1/3 HS, SV) có sự giao

động về nhận thức có hành vi sai trái liên quan tới một số giá trị quan trọng

như: Trung thực, thẳng thắn, tinh thần trách nhiệm, lòng nhân ái. Tác giả nêu

4 nguyên nhân, có thể khái quát lên là công tác GDĐĐ còn chưa được coi

trọng đúng mức, chưa đồng bộ. Qúa trình giáo dục còn nặng về kết quả học

tập văn hoá, coi nhẹ việc rèn luyện đạo đức, hình thức giáo dục còn khô cứng,

áp đặt, không phù hợp tâm lý lứa tuổi. Từ thực trạng và nguyên nhân trên, tác

giả đề xuất 8 giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ cho HS,

sinh viên.

Trong công trình nghiên cứu về công tác GDĐĐ cho HS, các tác giả Lê

Trung Trấn – Nguyễn Dục Quang đề nghị phải đổi mới hoạt động GDĐĐ

theo nguyên tắc phù hợp với sự phát triển mới và yêu cầu của xã hội, giáo dục

có hệ thống, tiếp cận phức hợp và xuất phát từ HS.

Điểm lại các công trình nghiên cứu trên đây, mặc dù có những quan

điểm chưa thống nhất nhưng tựu chung các tác giả đều khẳng định: Đa số HS,

sinh viên có phẩm chất đạo đức và lối sống tốt, ham hiểu biết, ham học hỏi,

tôn trọng đạo lý, vẫn giữ gìn được bản sắc và truyền thống văn hoá của dân

tộc, mặc dù nhận thức và hành động còn nhiều chỗ chưa đạt những chuẩn

mực đạo đức hiện nay. Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận thanh niên, HS

sa sút về phẩm chất đạo đức, chạy theo lối sống thực dụng, coi thường luân

thường đạo lý, phai nhạt lý tưởng XHCN, vi phạm pháp luật và sa vào các tệ

nạn xã hội, có các hành vi xa lạ với chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn

hoá của dân tộc…có chiều hướng phức tạp và ngày càng gia tăng.



13



Các công trình nghiên cứu về GDĐĐ cho HS khá nhiều nhưng chưa cụ

thể và không phù hợp với hoàn cảnh thực tế của từng nhà trường ở các địa

phương có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau. Hơn nữa trong bối cảnh hiện

nay, khi chúng ta đang thực hiện công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế

ngày càng rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và sự tác động

của hoàn cảnh kinh tế – xã hội lên đời sống tâm lý của mỗi con người, nhất là

lớp trẻ ngày càng tăng, từ đó công tác GDĐĐ cho thanh, thiếu niên càng trở

lên cấp thiết. Hiện nay khi chúng ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới

WTO thì nhu cầu nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của CNH – HĐH đất nước

đặt ra vô cùng gay gắt, khi mà cạnh tranh quốc tế ngày càng trở lên quyết liệt.

Nguồn nhân lực mới đòi hỏi vừa phải có trình độ Khoa học – Công nghệ và

tay nghề cao , vừa phải có đạo đức trong sáng, kiên định lý tưởng XHCN, yêu

nước, có lòng nhân đạo cao cả, ân nghĩa, biết yêu thương con người… Tóm

lại nguồn nhân lực mới phải phát triển toàn diện cả “Đức và Tài”, “Vừa hồng

lại vừa chuyên”. Một điều khiến chúng ta trăn trở là: Tại sao trong những

năm gần đây, bên cạnh những thành tựu chúng ta đạt được về mặt kinh tế thì

tiêu cực và tệ nạn xã hội ngày càng diễn biến phức tạp, sự xuống cấp về mặt

đạo đức của một bộ phận thanh niên HS ngày càng gia tăng? Nguyên nhân

của tình trạng trên là ở đâu? Trách nhiệm của các nhà trường, đặc biệt là các

trường THPT đến đâu nhằm hạn chế tình trạng trên và nâng cao chất lượng

GDĐĐ HS, một lực lượng chiếm tỷ lệ cao trong xã hội, là chủ nhân tương lai

của đất nước, góp phần đào tạo nguồn nhân lực phát triển toàn diện đáp ứng

nhu cầu phát triển của nền kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới.

Những phân tích trên, cho thấy, việc nghiên cứu đề tài là cần thiết và

thiết thực góp phần tháo gỡ những bất cập trong quá trình thực hiện mục tiêu

giáo dục toàn diện cho HS THPT.



14



1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý, biện pháp quản lý

1.2.1.1. Bản chất quản lý.

Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên khách thể

quản lý bằng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, nhằm đạt mục tiêu quản lý

một cách hiệu quả nhất. Xem xét nội hàm của khái niệm quản lý ta thấy quản

lý là một dạng hoạt động xã hội và tồn tại với tư cách là một hệ thống bao

gồm chủ thể, khách thể và phương tiện quản lý. Bản chất của quản lý là một

lao động để điều khiển lao động, hoạt động tất yếu và vô cùng quan trọng của

xã hội loài người. Nó bắt nguồn từ lao động và tồn tậi với tư cách là một lao

động điều khiển mọi hoạt động xã hội về kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo

dục.

1.2.1.2 Khái niệm về quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách

thể quản lý, nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt hiệu quả

nhất.

1.2.1.3. Khái niệm về quản lý NTPH

Quản lý nhà trường là quản lý giáo dục được thực hiện trong phạm vi

xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo

dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội.

1.2.1.4. Biện pháp quản lý.

Trong khoa học khái niệm biện pháp là một khái niệm mang tính thực

tiễn cao nhằm giải quyết vấn đề theo mục đích nhất định. Khái niệm biện

pháp đuợc diễn đạt như cách thức, con đường để giải quyết một vấn đề nào nó

mang tính thực tiễn và lâu dài.

Như vậy, tác giả luận văn quan niệm Biện pháp quản lý là cách thức,

con đường quản lý để giải quyết những vấn đề mang tính hiện thực, toàn cục

nảy sinh trong thực tiễn quản lý trongmột đơn vị cụ thể.



15



1.2.2. Đạo đức

Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của xã hội, điều chỉnh

hành vi trong các mối quan hệ giữa con người với con người, con người với

tự nhiên và xã hội, là sản phẩm của quá trình phát triển lịch sử của xã hội và

góp phần phản ánh sự tồn tại của đời sống tinh thần.

Có nhiều định nghĩa khác nhau về đạo đức, có thể kể đến một số định

nghĩa sau:

Theo “Từ điển Tiếng Việt” [ 35 ] thì “đạo đức là những tiêu chuẩn,

nguyên tắc được xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người

đối với nhau và đối với xã hội”.

Theo tài liệu “Giáo dục công dân lớp 10” của một nhóm tác giả do Mai

Văn Bính chủ biên thì: “Đạo đức là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực xã hội

mà nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi

ích chung của cộng đồng, của xã hội”.

Dưới góc độ triết học thì: “Đạo đức là một trong những hình thái sớm

nhất của ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực, điều

tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng.

Căn cứ vào những quy tắc ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi

con người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa

vụ và danh dự…” [ 17]

Dưới góc độ đạo đức học: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc

biệt, bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên

tắc, chuẩn mực xã hội” [ 20 ]

Dưới góc độ giáo dục học thì: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội,

là thệ thống các quan điểm về cái thiện, cái ác trong mối quan hệ của con

người”

Theo GS.VS Phạm Minh Hạc thì: “Đạo đức, theo nghĩa hẹp là luân lý,

những quy định, những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người.

Nhưng trong điều kiện hiện nay, chính quan hệ của con người cũng đã mở

16



rộng đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực ứng xử của con

người với con người, với công việc và với bản thân, kể cả với thiên nhiên và

môi trường sống”

Theo tác giả: Phạm Khắc Chương – Trần Văn Chương: “Đạo đức là hệ

thống các quy tắc chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ giữa con

người với con người, giữa con ngưòi với cộng đồng xã hội, với tự nhiên và cả

với bản thân mình” [ 10 ]

Trong thời đại ngày nay, chúng ta đang tiến hành công cuộc xây dựng

chế độ XHCN thì điều đặt ra cấp bách là cần xây dựng một số chuẩn mực đạo

đức mới, nhằm phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện

đại hoá đất nước, bên cạnh đó chúng ta cũng cần loại bỏ một số chuẩn mực

đạo đực cũ đã lạc hậu lỗi thời. Các chuẩn mực đạo đức mới được xây dựng

trên cơ sở kế thừa được các truyền thống đạo đức tốt dẹp của dân tộc, phù hợp

xu thế phát triển của thời đại.

Với những phân tích trên, tác giả luận văn quan niệm: “Đạo đức là một

hình thái ý thức xã hội, tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội,

nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với

nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi

truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”.

1.2.3. GDĐĐ

Theo giáo sư Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “GDĐĐ là quá trình biến

các chuẩn mực đạo đức, từ những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá

nhân thành những đòi hỏi bên trong của bản thân, thành niềm tin, nhu cầu,

thói quen của người được giáo dục”.

GDĐĐ là quá trình tác động tới HS của nhà trường, gia đình và xã hội,

nhằm hình thành cho HS ý thức, tình cảm, niềm tin đạo đức và cuối cùng

quan trọng nhất là hình thành cho họ thói quen, hành vi đạo đức trong đời

sống xã hội. Song giáo dục trong nhà trường giữ vai trò chủ đạo định hướng.



17



“GDĐĐ cho HS là bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục

trong nhà trường xã hội chủ nghĩa”. [10,tr 128].

Ngày nay, GDĐĐ cho HS là GDĐĐ xã hội chủ nghĩa. Nâng cao chất

lượng giáo dục chính trị, đạo đức, pháp luật, làm cho HS có tinh thần yêu

nước, thấm nhuần lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thật sự say mê học tập, có ý thức

tổ chức kỷ luật, kính thầy, yêu bạn, có nếp sống lành mạnh, biết tôn trọng

pháp luật.

1.2.4. Quá trình GDĐĐ

Dù ở thời đại nào, dưới chế độ nào thì việc GDĐĐ cho thế hệ trẻ cũng

được toàn xã hội quan tâm đặc biệt.

Bản chất của GDĐĐ là quá trình biến các chuẩn mực đạo đức, từ những

yêu cầu, đòi hỏi bên ngoài của xã hội về hành vi đối với mỗi cá nhân thành

những nhu cầu, đòi hỏi từ bên trong của cá nhân trong các mối quan hệ, ứng

xử hàng ngày đối với cộng đồng xã hội, từ dó biến thành niềm tin, thói quen

của người được giáo dục.

Tác giả luận văn quan niệm quá trình GDĐĐ như sau:

Quá trình GDĐĐ là quá trình tác động tới người học để hình thành cho

họ ý thức, tình cảm và niềm tin hành vi, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo

lập cho được những thói quen hành vi đạo đức.

GDĐĐ có quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục

pháp luật, khoa học và tôn giáo.

- Quan hệ giữa GDĐĐ và giáo dục chính trị:

Tư tưởng chính trị là một hình thái ý thức xã hội có ý nghĩa đặc biệt

quan trọng trong đời sống xã hội. Tư tưởng chính trị của một thể chế xã hội là

hệ thống quan điểm, tư tưởng thể hiện lợi ích căn bản của một gia cấp nhất

định. Vì vậy tư tưởng chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với các hình thái ý

thức xã hội khác, trong đó có đạo đức.



18



Quan hệ giữa đạo đức và chính trị thể hiện trước tiên là những quy định

cụ thể bằng văn bản về nghị quyết, đường lối chính sách, pháp luật nhà nước

có ý nghĩa luân lý.

- Quan hệ GDĐĐ và giáo dục pháp luật:

Đạo đức và pháp luật có mối quan hệ khăng khít với nhau, vì trước hết

có cùng mục đích và nhiệm vụ là điều chỉnh hành vi giữa con người với con

người, con người với tự nhiên và xã hội.

Tuy nhiên chúng cũng có sự khác biệt căn bản, cụ thể như sau: Sự điều

chỉnh hành vi của pháp luật là sự điều chỉnh mang tính bắt buộc, có tính

cưỡng chế. Trong khi đó, sự điều chỉnh hành vi của đạo đức lại mang tính tự

nguyện và thường là những yêu cầu cao của xã hội đối với con người.

1.2.5. Chất lượng quá trình GDĐĐ

Chất lượng giáo dục chính là mức độ mà sản phẩm giáo dục của nhà

trường đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Theo đó, chất lượng quá trình GDĐĐ cho HS là sự thoả mãn nhu cầu xã

hội về mặt phẩm chất đạo đức, nhân cách, năng lực, hành vi ứng xử của HS –

sản phẩm giáo dục của nhà trường.

1.2.6. Quản lý quá trình GDĐĐ là một nội dung của quản lý tác nghiệp

trong nhà trường. Đó là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý tới

khách thể quản lý nhằm đạt mục tiêu GDĐĐ một cách hiệu quả nhất.

1.2.7. Quản lý quá trình GDĐĐ trong nhà trường là tổng hợp các hoạt

động sư phạm và bằng nhiều con đường, nhiều cách thức nhằm giúp HS hoàn

thiện và phát triển nhân cách phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và mục

tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.

1.3. Đặc điểm, chức năng và tầm quan trọng của quá trình GDĐĐ trong

trƣờng THPT

1.3.1. Đặc điểm chung của trường THPT

Trường THPT là bậc học cuối cùng của nghành học phổ thông, là nơi

hoàn thiện kiến thức phổ thông cơ bản toàn diện cho HS.

19



HS THPT là lớp người có độ tuổi từ 15 đến 18 tuổi. Hầu hết HS thể hiện

hoài bão, ước mơ của mình theo hướng tích cực, họ có nhiều nỗ lực cá nhân,

nhằm giải quyết các mâu thuẫn giữa năng lực bản thân với yêu cầu của xã hội,

để có thể tự lập trong bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội, nhất là trong điều

kiện hội nhập ngày nay.

Thực tế những năm qua, hầu hết các bậc cha mẹ HS có nhận thức đúng

về yêu cầu nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hoá- hiện đại hoá của

đất nước. Từ đó họ đã định hướng cho con em mình tích cực chuẩn bị năng

lực làm việc để bước vào đời, họ đã có những lo lắng thực sự và không ít gia

đình đã tìm mọi cách để đầu tư cho việc học hành của con cái họ, nhằm tạo

điều kiện để bản thân các em có năng lực và phẩm chất thích ứng với các yêu

cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội. Chính các đặc điểm về bậc học, về độ

tuổi, về gia đình, về yêu cầu nguồn nhân lực đã tạo ra sự phân hoá nguyện

vọng của HS THPT theo hai xu hướng chính:

- Một là: Đa số có nguyện vọng tiếp tục học lên ở bậc cao hơn.

- Hai là: Chấp nhận sự hoà nhập vào thị trường lao động của xã hội và

đón chờ cơ hội tiếp tục học thêm (vì phần đông HS không thể tiếp tục học lên

ngay sau khi học xong THPT do năng lực của bản thân, điều kiện kinh tế của

gia đình họ và đặc biệt là họ không vượt qua được kỳ thi tuyển sinh vào Đại

học và Cao đẳng tổ chức hàng năm).

Trường THPT là cái nôi đào tạo nguồn nhân lực lao động phổ thông cho

nhiều ngành kinh tế. Những người lao động này phải có kiến thức phổ thông

nhất định thì mới đáp ứng được yêu cầu lao động, hơn nữa trong “Chiến lược

phát triển giáo dục 2001-2010” đã chỉ rõ: “…Đảm bảo cho HS có học vấn

phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho sự

phát huy năng lực của mỗi bản thân HS, giúp HS có những hiểu biết về kỹ

thuật, chú trọng hướng nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho phân luồng sau

trung học phổ thông để HS vào đời hoặc chọn ngành nghề học tiếp sau khi tốt



20



nghiệp. Tăng tỷ lệ HS trong độ tuổi vào THPT từ 38% năm 2000 lên 45% vào

năm 2005 và 50% vào năm 2010”.

Từ những đặc điểm trên và từ nhiệm vụ cơ bản của trường THPT đã

được ghi trong điều lệ trường THPT ta có thể nêu lên một số đặc trưng về

mục tiêu quản lý của Hiệu trưởng trường THPT đó là quá trình quản lý dạy –

học là mục tiêu kép:

- Chuẩn bị cho HS có cơ hội học tiếp tục học lên.

- Chuẩn bị cho HS hoà nhập vào môi trường xã hội, đi vào cuộc sống lao

động, đóng góp sức lực và trí tuệ của mình vào sự phát triển kinh tế – xã hội,

có vị trí xứng đáng trong cộng đồng dân cư, phát huy khả năng của mình để

có ít nhất một nghề, có việc làm ổn định và học tập thường xuyên hoà nhập

với xã hội học tập.

Hình thành cho HS năng lực thích nghi với sự thay đổi của thực tiễn

cuộc sống để chủ động trong lao động và trong học tập nhằm hoà nhập với

môi trường và cộng đồng.

Trường THPT là một bộ phận trong hệ thống GD - ĐT, giữ vai trò xung

kích trong việc thực hiện “Chiến lược phát triển giáo dục”

1.3.2. Đặc điểm của HS THPT

Đặc điểm về tâm lý lứa tuổi HS THPT : Giai đoạn đầu của tuổi thanh

niên cũng chính là thời kỳ kết thúc lứa tuổi thiếu niên, là giai đoạn các em

đang là HS bậc THPT. Đây là giai đoạn đầu của sự phát triển về thể lực và đa

số các em đã đạt được sự tăng trưởng cơ thể.Tuổi bắt đầu thời kỳ phát triển

mạnh về thể lực, tâm lý, sinh lý, đang là thời kỳ chuyển tiếp từ trẻ con sang

người lớn. Đây là thời kỳ các em gia nhập tích cực vào cuộc sống xã hội, qua

đó hình thành phẩm chất của công dân và cũng là thời kỳ then chốt của sự

phát triển nhân cách, các em phải đối mặt với những thay đổi trong học tập

khi chuyển từ THCS lên THPT và rất nhiều yêu cầu của xã hội dẫn đến những

biến động về tâm lý qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc rèn luyện và tu

dưỡng.

21



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

×