1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÍ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT CHUYÊN THÁI BÌNH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.7 MB, 113 trang )


3.1.3. Nguyên tắc thứ 3: Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và tính

khả thi.

Biện pháp phải có tính bao quát, cần thiết, sát với thực tiễn, có tính khả

thi, đáp ứng được mục đích, nhiệm vụ của đề tài. Mỗi nhà trường, mỗi cơ sở

giáo dục, mỗi lứa tuổi ngời học đều có những đặc điểm, điều kiện riêng, vì

vậy biện pháp quản lí hoạt động GDĐĐ đa ra phải phù hợp với thực tiễn và

có tính khả thi, nghĩa là phải tổ chức thực hiện được và mang lại những hiệu

quả nhất định. Hệ thống một số biện pháp đa ra phải phát huy được vai trò

của các chủ thể tham gia vào hoạt động GDĐĐ cho HS. Trong nhà

trường,chủ thể của hoạt động giáo dục là đội ngũ cán bộ quản lý, GV và HS,

ở gia đình chủ thể của hoạt động GDĐĐ là cha mẹ HS và HS; phía xã hội chủ

thể là cán bộ quản lí xã hội và thanh niên HS, vì vậy các biện pháp quản lý đa

ra phải nhằm phát huy được tính tích cực, chủ động, tự giác của tất cả các lực

trên.

3.2. Một số biện pháp QL hoạt động GDĐĐ cho HS ở trƣờng THPT

chuyên Thái Bình.

3.2.1. Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ quản lí,

GV, cha mẹ HS và các tổ chức xã hội về GDĐĐ cho HS

3.2.1.1. Mục tiêu

Các đối tượng tham GDĐĐ cho HS cần phải nhận thức đúng đắn về

công tác này, thấy rõ tầm quan trong và sự cần thiết của vấn đề GDĐĐ, từ đó

xác định được được vai trò và trách nhiệm của mình trong vấn đề này.

Bên cạnh đó các lực lượng tham gia GDĐĐ HS ở trường THPT chuyên

Thái Bình cần phải quán triệt tinh thần là : Việc GDĐĐ cho HS không chỉ là

ngăn ngừa và giáo dục để HS không vi phạm mà còn phải giáo dục các em có

hoài bão ước mơ đem sức mình phục vụ cho Tổ quốc, tức là không chỉ làm

cho HS “Ngoan” mà còn phải biết “Cống hiến”.



72



3.2.1.2. Nội dung

Tuyên truyền lý luận chủ nhĩa Mác Lê – Nin, tư tưởng Hò Chí Minh,

đường lối chính sách của Đảng và nhà nước, các văn bản pháp quy của Bộ

GD & ĐT về mục tiêu giáo dục nói chung và GDĐĐ nói riêng. Những bức

xúc của xã hội trước thực trạng đạo đức của HS và thanh niên hiện nay và

những nguy cơ xuống cấp về đạo đức trước xu thế mới, đồng thời cũng thấy

được vai trò to lớn cũng như trách nhiệm nặng nề của nhà trường và mọi cá

nhân.

3.2.1.3. Cách thức thực hiện

Đối với nhà trƣờng

Ban giám hiệu nhà trường phải quán triệt sâu sắc chủ trương giáo dục

của Đảng, nâng cao tinh thần trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân trong

nhà trường để tạo sự đoàn kết, phối hợp trong GDĐĐ cho HS, xác định rõ

công tác GDĐĐ cho HS là trách nhiệm của mọi thành viên trong nhà trường.

Nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục trong nhà trường :

+ Đối với GVCN cần quán triệt sâu sắc cũng như trách nhiệm nặng nề

của mình, phải thấy được vai trò trung tâm trong việc giáo dục dạo đức.

+ ĐTN cần thận thức được tầm quan trọng của các hoạt động phong trào

có ý nghĩa rất lớn, có tác động mạnh đến việc tu dưỡng của HS từ đó mà xá

định được vị trí của công tác đoàn trong quá trình giáo dục toàn diện cho HS.

+ Phân công rõ trách nhiệm của thày cô giáo, gia đình và từng bộ phận

liên quan. Tổ chức tốt các phong trào thi đua như phong trào: “Học tập và làm

theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; gắn kết với cuộc vận động “Mỗi thày,

cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”; phong trào “Xây

dựng trường học thân thiện, HS tích cực”,…

Nâng cao nhận thức cho bản thân HS:

HS tự nhận thức được sự cần thiết của GDĐĐ, phải thấy rõ một điều là

phát triển nhân cách là phải thực hiện đồng thời việc lĩnh hội tri thức khoa học

và học cách đối nhân xử thế, học làm một công dân tốt.

73



Đối với gia đình và xã

Cha mẹ HS cần nhận thức được tầm quan trọng của đạo đức và GDĐĐ,

cần chủ động liên kết với nhà trường, với GVCN để nắm vững mục tiêu, nội

dung giáo dục. Đồng thời cũng phải kết hợp với nhà trường và các lực lượng

xã hội khác cùng giáo dục, không bao che những thiếu sót của con em mình

khi ở nhà hoặc ngoài xã hội.

- Nhà trường cần bàn bạc, thống nhất các mục tiêu, nội dung và phương

pháp GDĐĐ sau đó truyền đạt cụ thể đến từng cha mẹ HS bằng cách họp,

thông báo cho cha mẹ HS toàn trường và bằng văn bản. Từ sự thống nhất đó

sẽ không xẩy ra tình trạng “ Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”.

- Gia đình cũng cần phải quán triệt: Việc đánh giá đạo đức HS có hhông

chỉ do nhà trường mà còn có cả đánh giá của phụ huynh.

- Gia đình phối hợp với cộng đồng để nắm được tình hình HS. các thông

tin thu được từ gia đình và cộng đồng giúp cho GVCN có thể đánh giá dúng

HS.

Cùng với nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp,

các buổi tham quan, hoạt động ngoại khoá.… Tham gia đầy đủ các buổi trao

đổi về học tập, rèn luyện của con em mình theo yêu cầu của GVCN lớp hoặc

theo yêu cầu của nhà trường.

3.2.2. Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lí hoạt động

GDĐĐ HS ở trường THPT Chuyên Thái Bình.

3.2.2.1. Mục tiêu

Đây là việc làm quan trọng nhất của quá trình quản lí, trên cơ sở phân

tích thực trạng, những thuận lợi, khó khăn, căn cứ vào tiềm năng, khả năng

sẵn có để xác định mục tiêu, nội dung hoạt động, các biện pháp phù hợp với

thực tiễn. Xây dựng được bản kế hoạch cụ thể có tính khả thi mà trong đó các

mục tiêu, nội dung, hình thức và PPGD đạo đức cho HS được thống nhất

nhằm định hướng các hoạt động GDĐĐ và quản lý hoạt động GDĐĐ cho HS

trường THPT Chuyên Thái Bình, tạo được sự nhất trí cao của các LLGD để

74



đạt mục tiêu GDĐĐ HS một cách hiệu quả. Đồng thời, việc kế hoạch hoá sẽ

giúp người phụ trách công tác GDĐĐ HS có thể kiểm soát được cả quá trình

giáo dục.

3.2.2.2. Nội dung

Nội dung cơ bản của kế hoạch hoá là xác định mục tiêu của GDĐĐ cho

HS, trên cơ sở đó xây dựng chương trình hành động và bước đi cụ thể nhằm

đạt được mục tiêu đã xác định. Xác định rõ nội dung GDĐĐ, các biện pháp,

hình thức GDĐĐ mà các LLGD cần tham gia để GDĐĐ HS.Thống nhất cách

thức và trao đổi thông tin về cách kiểm tra đánh giá ĐĐHS. Thực hiện tốt, có

hiệu quả kế hoạch đã định, kế hoạch phải được thực hiện một cách đồng bộ,

toàn diện, thường xuyên và liên tục.

3.2.2.3. Cách thức thực hiện

Căn cứ vào nhiệm vụ, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ chung của Bộ, của

ngành; đặc điểm, điều kiện cụ thể của địa phương, của nhà trường, Hiệu

trưởng nhà trường chỉ đạo thu thập các thông tin liên quan, xác định tiềm

năng, phác thảo mục tiêu, tính toán sơ bộ các nguồn lực… Từ đó phác thảo

bản kế hoạch quản lí hoạt động GDĐĐ cho năm học gồm: Mục tiêu tổng quát,

mục tiêu cụ thể, chỉ tiêu phấn đấu, mức huy động về nhân lực, tài lực, vật

lực,... Kế hoạch xây dựng phải làm sao khai thác được triệt để thế mạnh của

các lực lượng tham gia GD. Việc kế hoạch hoá quản lí hoạt động HS theo

từng kì, từng đợt thi đua đóng một vai trò quan trọng quyết định đến thành

công của công tác quản lý. Kế hoạch càng cụ thể, càng chi tiết thì càng thuận

lợi cho việc tổ chức thực hiện.

Nhà trường cũng cần tranh thủ ý kiến đóng góp sự ủng hộ của các cấp uỷ

đảng, chính quyền địa phương, của cấp trên để thực hiện kế hoạch.

Kế hoạch phải được xây dựng từ tình hình thực trạng quản lý hoạt động

GDĐĐ của nhà trường ở hiện tại.

Kế hoạch phải đưa ra được các chỉ tiêu và các Biện pháp cụ thể.



75



Kế hoạch phải có tính khả thi và tính hiệu quả. Tuỳ theo chủ đề mà có

những kế hoạch cụ thể khác nhau. Các loại kế hoạch bao gồm:

- Kế hoạch cho cả năm học, học kỳ, tháng, tuần.

- Kế hoạch cho các ngày lễ lớn.

Triển khai nội dung mà kế hoạch đã đặt ra, đôn đốc thực hiện kế hoạch

theo một trình tự nhất định, điều hành các bộ phận thực hiện theo đúng kế

hoạch. Theo dõi những yếu tố nảy sinh, những lệch lạc trong quá trình thực

hiện và điều chỉnh kịp thời.

3.2.3. Tăng cường năng lực công tác của GVCN lớp

3.2.3.1. Mục tiêu

Trong nhà trường, GVCN là người thay mặt Ban giám hiệu, thay mặt

nhà trường chịu trách nhiệm về chất lượng toàn diện của một lớp HS, một tập

thể, một đơn vị hành chính của một trường học. Trong NTPH, nhiệm vụ của

GVCN luôn gắn liền với nhiệm vụ giáo dục của nhà trường đó là:

- GVCN phải chăm lo giáo dục tư tưởng, đạo đức cho HS trong lớp.

- Thường xuyên kết hợp với GV bộ môn và quan tâm đến việc tổ chức

hoạt động tự học nhằm không ngừng nâng cao chất lượng học tập của lớp.

- Phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường thông

qua tổ chức các hoạt động phong phú để GD HS một cách toàn diện.

3.2.3.2. Nội dung

Nhà trường cần coi trong vai trò của GVCN và công tác chủ nhiệm trong

nhà trường. Tập trung sự chỉ đạo của BGH, các tổ chức đoàn thể trong nhà

trường tham gia hỗ trợ cho chủ nhiệm và tạo điều kiện GVCN hoàn thành

nhiệm vụ. Khuyến khích động viên GVCN phát huy hết năng lực, sở trường

của mình trong việc quản lý và giáo dục HS. GVCN lớp phải là người tham

gia tích cực các hoạt động chính trị xã hội, thường xuyên động viên khuyến

khích HS tích cực tu dưỡng, rèn luyện và tham gia các hoạt động của nhà

trường, địa phương nhằm gắn liền nhà trường với đời sống xã hội.



76



3.2.3.3. Cách thức thực hiện

Trong nhà trường, với các chức năng tổ chức, quản lí, giáo dục HS,

GVCN lớp phải là người xây dựng và củng cố các mối liên hệ với GV bộ

môn, với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường như Công đoàn, ĐTN cộng

sản Hồ Chí Minh, với hội cha mẹ HS và các tổ chức xã hội để thực hiện tốt

mục tiêu giáo dục.

Quán triệt đường lối, chính sách giáo dục của Đảng, của nhà nước để

trên cơ sở đó GVCN vận dụng vào việc tổ chức giáo dục HS. Hoạt động giáo

dục luôn gắn liền với chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.

Nghiên cứu nắm vững hệ thống lí luận giáo dục phổ thông, thường

xuyên cập nhật, bổ xung tri thức giáo dục hiện đại là chỗ dựa cho hoạt động

giáo dục trong thực tiễn. Nó tạo cơ sở, hành lang pháp lí trong việc chỉ đạo,

quản lí, xem xét, kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục của GVCN

với HS.

- Thiết lập nội dung, kế hoạch công tác chủ nhiệm

- Phối hợp của GVCN lớp với gia đình HS và với các tổ chức xã hội:

+ Sự phối hợp giữa GVCN với gia đình HS:

Về phía GVCN lớp:

- Giúp các bậc cha mẹ hiểu về mục tiêu giáo dục của nhà trường; đặc

điểm hoạt động giáo dục của nhà trường; một số kiến thức về tâm – sinh lí lứa

tuổi; một số phương pháp tổ chức và giáo dục gia đình.

- Kiện toàn tổ chức chi hội phụ huynh HS của lớp (về nhân sự và quy

định hoạt động của hội,…).

- Lập sổ liên lạc giữa nhà trường và gia đình.

- Xây dựng kế hoạch, nội dung phối hợp giữa GVCN với gia đình của

từng HS.

- Định kì đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của từng HS, những ưu

khuyết điểm của từng HS và thông báo với gia đình.

Về phía gia đình HS:

77



- Chủ động liên hệ với nhà trường, với GVCN để mắm bắt tình hình của

con em mình và thông báo với nhà trường, với GVCN về tình hình của các

em trong thời gian sống ở gia đình, ở địa phương.

- Giúp đỡ GVCN về tinh thần. vật chất và kinh nghiệm, chuyên môn tuỳ

thế mạnh và điều kiện có thể có của gia đình.

- Cùng với nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

(câu lạc bộ, ngoại khoá,…).

- Thực hiện đúng kế hoạch giáo dục đã thống nhất với nhà trường, với

GVCN (hội họp, gặp gỡ trao đổi, ghi sổ liên lạc,…).

- Xây dựng bầu không khí gia đình hoà thuận, hạnh phúc, tạo điều kiện

tốt cho các em học tập, rèn luyện ở tại gia đình và ở trường.

+ Sự phối hợp của GVCN với các tổ chức ngoài xã hội:

GVCN cần liên hệ với các lực lượng xã hội khác như các cơ quan hành

pháp quản lí xã hội, các đoàn thể chính trị xã hội, các tổ chức đơn vị kinh

tế,… để phát huy và tận dụng sức mạnh tổng hợp mọi nguồn lực trong giáo

dục HS.

Hiện nay lực lượng GVCN của trường THPT chuyên Thái Bình phần lớn

là GV trẻ, đó là những thầy cô có năng lực chuyên môn tốt nhưng lại mới vào

nghề nên công tác GDĐĐ còn non nớt do vậy mà BGH nên có phương án bồi

dưõng công tác này cho họ bằng nhiều biện pháp khác nhau như:

- Tổ chức các lớp tập huấn.

- Phân công các thầy cô bộ môn có kinh nghiệm trong công tác này với

tư cách là “ Phó chủ nhiệm” để tiện giúp đỡ GVCN.

- Mỗi một khối lớp cần chỉ định một GVCN kiêm trưởng khối để thường

xuyên nắm bắt tình hình, xử lý uốn nắn kịp thời.

- Trong giờ họp chủ nhiệm hàng tuần BGH cần kiểm điểm rút kinh

nghiệm cho từng GV trẻ.



78



3.2.4. Nâng cao ý thức tự tu dưỡng và tự quản của HS.

HS vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá tình giáo dục. Mọi biện

pháp GDĐĐ có hiệu quả hay không suy cho cùng đều phụ thuộc vào ý thức tự

tu dưỡng của HS. Vì thế chúng ta cần phát huy được ý thức tự tu dưỡng, tự

học, tự rèn của HS thì quá trình giáo dục của chúng ta mới đạt được kết quả

như mong muốn. Sự hình thành và thể phát triển đạo đức của mỗi cá nhân là

một quá trình lâu dài và phức tạp. Trong quá trình đó, các tác động bên ngoài

và những động lực bên trong thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau. Nhờ

giáo dục những yếu tố bên trong dần dần lấn át được yếu tố bên ngoài trong

việc điều chỉnh hành vi của trẻ. Vậy tự tư dưỡng về mặt đạo đức là một hành

động tự giác, có hệ thống mà mỗi cá nhân thực hiện với bản thân mình nhằm

khắc phục những hành vi trái đạo đức và điều chỉnh những hành vi đạo đức

của mình, thúc đẩy sự thể phát triển nhân cách.

3.2.4.1. Mục tiêu

Quá trình GDĐĐ phải biến được nhu cầu giáo dục các giá trị đạo đức từ

bên ngoài thành nhu cầu bên trong của HS. Biến được quá trình giáo dục

thành quá trình tự giáo dục. Từ chỗ HS phải cưỡng bức hiện thực thành ý thức

tự giác chấp hành ở các em, dần biến tri thức đạo đức thành niềm tin đạo đức.

3.2.4.3. Nội dung

Thông qua nhiều con đường giáo dục khác nhau, khơi gợi lòng tự trọng,

ý thức về quyền và nghĩa vụ của các em đối với cộng đồng và xã hội. Chúng

ta phải coi các em là chủ thể của quá trình giáo dục. Giáo dục cho các em ý

thức tự lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hành vi ứng xử của mình. GV phải

giúp HS nắm vững mục đích, phương pháp và tổ chức việc tự tu dưỡng của

các em, trong đó phải hướng dẫn các em lập kế hoạch tự tu dưỡng, nêu rõ

những phẩm chất nào cần rèn luyện, củng cố hay khắc phục.

3.2.4.2. Cách thực hiện

Chúng ta đều biết rằng, tuổi HS THPT là giai đoạn đầu của tuổi thanh

niên. Về mặt tâm sinh lý các em không còn là trẻ con nữa mà đã có bước thể

79



phát triển mới về chất so với lứa tuổi thiếu niên. Các em rất có nhu cầu được

khẳng định mình, được mọi người xung quanh thừa nhận là người lớn, vì vậy

các em thường có lòng tự ái, tự trọng khá cao. Vì vậy chúng ta cần nắm bắt

được đặc điểm tâm lý này để phát huy ý thức tự tu dưỡng, học tập, tự rèn

luyện của các em.

Vậy chúng ta phải làm thế nào để nâng cao ý thực tự tu dưỡng của HS?

Một là phải giúp HS tự đánh giá đúng về mình, tránh tự mãn, tự cao tự

đại hoặc tự ti đều có hại cho công tác tự tu dưỡng.

Hai là HS phải có một viễn cảnh tốt đẹp về tương lai của mình vì một

người chỉ tích cực tự tu dưỡng khi biết mình phải đi tới đâu, trở thành con

người như thế nào. Vì vậy chúng ta cần giáo dục cho HS sống lạc quan, có

niềm tin vào tương lai.

Ba là HS phải có ý chí và nghị lực mạnh để kiên trì thực hiện mục tiêu

của mình, nhất là những HS ở xa gia đình phải ở nội trú cần có tính tự giác, tự

chủ trong sinh hoạt, học tập và vui chơi, phải biết hoà mình vào tập thể, cùng

giúp đỡ lẫn nhau để giảm bớt khó khăn.

Bốn là sự tự tu dưỡng của HS phải được tập thể giúp đỡ, đồng tình ủng

hộ. Được GV giúp đỡ, kiểm tra và uốn nắn thường xuyên.

Năm là HS phải có động cơ tu dưỡng đạo đức tốt đẹp, trong sáng, có ý

nghĩa xã hội cao cả.

Trong quá trình giáo dục, chúng ta không nên áp đặt suy nghĩ chủ quan

của mình cho các em mà cần gợi ý, hướng dẫn để các em tự nhận xét, đánh

giá, lĩnh hội những chuẩn mực đạo đức xã hội. Chúng ta cần làm cho HS hiểu

rừng tự kiểm tra, tự đánh giá thường xuyên là một việc không thể thiếu được

của người tự tu dưỡng, có như vậy mới có cơ sở để khuyến khích vươn lên và

củng cố lòng tin.

Do có nhiều HS ở xa gia đình nên Nhà trường phải xây dựng một khu

nội trú để tiện cho có điều kiện ăn ở và đi lại. Do vậy mà khu nội trú được coi

là gia đình thứ hai. Để nâng cao hơn nữa ý thức tự tu dưỡng của các em, cần

80



chú ý động viên và mở rộng hơn nữa phong trào tự quản của HS đồng thời

cũng giúp cho các em có thể được cảm giác an toàn, thoả mái và tạo sự yên

tâm cho công việc học tập nhà trường cần thực hiện một số công việc sau :

- Thành lập một Ban Quản lý ký túc xá, cử một hiệu phó chuyên phụ

trách khu nội trú.

- Phối hợp với các ban ngành, hội cha mẹ HS và các nhà hảo tâm tăng

cường cơ sở vật chất cho khu nội trú như: phòng ở, khu ăn uống, khu vệ sinh,

mở rộng khu vui chơi giải trí.

- Xây dựng nội quy ký túc xá, thường xuyên kiểm tra đôn đốc việc thực

hiện các nội quy .

- Kết hợp với chính quyền và công an phường Kỳ Bá làm tốt công tác an

ninh trật tự để giúp cho HS và phụ huynh được yên tâm.

3.2.5. Nâng cao vai trò của tổ chức ĐTN trong nhà trường.

3.2.5.1. Mục tiêu

Xây dựng, củng cố tổ chức ĐTN trong nhà trường để tổ chức này giữ vai

trò chủ đạo trong tập hợp Đoàn viên, thanh niên trong trường vào các hoạt

động tập thể nhằm giáo dục HS bằng hoạt động và thông qua hoạt động. ĐTN

là lực lượng nòng cốt trong việc giáo dục chính trị tư tưởng, ĐĐHS qua các

hoạt động tập thể, đặc biệt là thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp

và các hoạt động thi đua thực hiện nền nếp ngày ngày.

3.2.5.2. Nội dung và cách thực hiện

Phát huy sức mạnh cũng như tính năng động của tổ chức Đoàn chúng ta

cần tạo hành lang pháp lý để Đoàn TN có thể thay mặt BGH chỉ đạo các hoạt

động trong lĩnh vực mình phục trách, tránh bị động. Nên tin tưởng vào năng

lực và bản lĩnh của tuổi trẻ, không nên can thiệp quá sâu vào hoạt động của

công tác này, không nên nghĩ thay, làm thay công việc của cán bộ Đoàn.

Chúng ta nên trân trọng những ý tưởng sáng tạo, dám nghĩ dám làm của tuổi

trẻ. Do đặc điểm tâm lý lứa tuổi nên suy nghĩ và hành động của cán bộ Đoàn

rất phù hợp với nguyện vọng của HS nên được HS hết sức ủng hộ. Vì vậy nhà

81



trường cần quan tâm, tạo điều kiện cho tổ chức Đoàn trong nhà trường phát

huy được vai trò của mình.

Để phong trào Đoàn đóng góp tích cực cho công tác GD đạo đức BGH

cần thực hiện một số công việc sau :

- Lựa chọn trong hàng ngũ GV trẻ của trường nhưng người năng nổ,

nhiệt tình, trách nhiệm, có năng lực hoạt động phong trào để bồi dưỡng tạo

nguồn. Năng lực của cán bộ có ảnh hưởng rất lớn đến phong trào hoạt động

sau này của Đoàn TN nhà trường. Một vấn đề nữa mà chúng ta cần quan tâm

hiện nay là lao động của cán bộ Đoàn rất vất vả nhưng chế độ đãi ngộ của nhà

nước còn rất hạn chế, vì vậy để động viên phong trào, nhà trường cần quan

tâm đến đội ngũ cán bộ Đoàn, cả về quyền lợi vật chất và chính trị để cán bộ

Đoàn yên tâm công tác.

- Tạo điều kiện để tổ chức Đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của

mình. Nhà trường giao cho Đoàn TN quản lý các hoạt động giáo dục ngoài

giờ lên lớp, các phong trào tự quản của HS.

- Kết hợp chặt chẽ với GVCN để chỉ đạo các phong trào thi đua, quản lý

và tổ chức có hiệu quả các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trong và

ngoài nhà trường. Thông qua các buổi chào cờ đầu tuần, các đợt sinh hoạt

chính trị theo chủ đề, giám sát việc thực hiện nội quy về nền nếp hàng ngày,

các cuộc thi tìm hiểu truyền thống, pháp luật, các vấn đề xã hội, các hoạt động

văn hoá văn nghệ,… cuốn hút HS vào các hoạt động vui tươi lành mạnh tránh

xa các tệ nạn xã hội.

- BGH giám sát, kịp thời uốn nắn để ĐTN hoạt động hiệu quả hơn.

- Hỗ trợ kinh phí để ĐTN tiện xử lý các công việc của mình.

3.2.6: Nâng cao chất lượng các môn học có ưu thế trong GDĐĐ.

Mỗi thầy giáo, cô giáo phải là tấm gương sáng cho HS noi theo, đồng

thời mỗi GV thông qua bài giảng của mình và thông qua sự tiếp tục với HS

hàng ngày cần có ý thức trong việc bồi dưỡng những tri thức đạo đức, điều

chỉnh thói quen và hành vi đạo đức cho HS. Điều này đặc biệt thuận lợi với

82



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (113 trang)

×