1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIẾNG PHÁP TỈNH BẮC GIANG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.6 MB, 120 trang )


năm 2004 xuống còn 43,5% năm 2005. Tỉ trọng công nghiệp- xây dựng tăng

từ 20,5% năm 2004 lên 22% năm 2005. Dịch vị chiếm 34,5%.

Bắc Giang là một tỉnh miền núi chƣa phát triển, GDP bình quân đầu

ngƣời thấp vào khoảng 4,8 triệu đồng/ngƣời/năm. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn

mới là 30,67%. Thu nhập nông thôn ƣớc đạt 26 triệu đồng/ ha đất canh tác.

Điện, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục đã đến hầu hết 229 xã, phƣờng, thị trấn.

Đất đai chủ yếu là đất nông nghiệp, đồi rừng. Về kinh tế, nhân dân sống chủ

yếu bằng nghề nông, làm kinh tế đồi, vƣờn, thu nhập thấp chủ yếu qua trồng

lúa, hoa màu, cây ăn quả. Đời sống của nhân dân đa số còn gặp nhiều khó

khăn. Mặt bằng dân trí thấp và không đồng đều giữa các vùng; giao thông đi

lại gặp nhiều khó khăn. Việc chăm sóc nuôi dƣỡng cũng nhƣ đầu tƣ cho các

em ở độ tuổi đi học nhƣ xây dựng cơ sở vật chất trƣờng học và ngân sách đầu

tƣ cho giáo dục còn chƣa đạt kết quả nhƣ mong muốn.

Tình hình chính trị- xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh đƣợc đảm bảo.

Đảng bộ đoàn kết thống nhất, tích cực đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo và

quản lý. Nhân dân quan tâm đến xây dựng và phát triển sự nghiệp GD- ĐT.

Các cấp uỷ Đảng và chính quyền điạ phuơng nhận thức đúng đắn về phát triển

giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hoá nên rất quan tâm đến

xây dựng và phát triển sự nghiệp GD- ĐT của tỉnh nhà.

2. Khái quát sự nghiệp phát triển giáo dục THPT của tỉnh Bắc Giang

Trong quá trình hội nhập quốc tế và khu vực, trong bối cảnh khoa học

phát triển nhanh nhƣ vũ bão đang đặt ra cho ngành giáo dục những yêu cầu

đổi mới toàn diện nhằm đáp ứng những yêu cầu mà các mục tiêu kinh tế- xã

hội đặt ra.

Giai đoạn 2006-2010, mục tiêu tổng quát của GD- ĐT Bắc Giang là:

Phát triển GD- ĐT theo hƣớng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; xây dựng

xã hội học tập, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Nâng cao giáo dục

toàn diện, đặc biệt là giáo dục tƣ tƣởng, đạo đức, nhân cách, lối sống. Tăng

cƣờng phân luồng sau trung học cơ sở. Đẩy mạnh xây dựng trƣờng chuẩn,

43



xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và cơ sở vật chất phục vụ

GD- ĐT.

*Một số mục tiêu cụ thể đến năm 2010

- 50% trƣờng đạt chuẩn quốc gia; 90% phòng học ngành học phổ thông

đƣợc xây dựng kiên cố.

-70% huyện, thành phố đạt chuẩn phổ cập bậc trung học

- Huy động 85% trẻ trong độ tuổi ra các lớp mẫu giáo; 100% trẻ 6 tuổi

vào lớp 1; 1005 học sinh hoàn thành chƣơng trình tiểu học, vào lớp 6; 85 %

trở lên học sinh tốt nghiệp lớp 9 đƣợc học bậc trung học

- Học sinh ở các cấp phải nắm vững các kiến thức cơ bản của bậc học, có

kỹ năng vận dụng, thực hành. Chú trọng trang bị và nâng cao kiến thức tin

học, ngoại ngữ cho học sinh; bảo đảm sau khi tốt nghiệp THPT, một bộ phận

học sinh có thể sử dụng đƣợc một ngoại ngữ, có khả năng truy cập và sử lý

thông tin trên mạng internet, trong công việc và trong học tập ở các bậc cao

hơn.

Quan tâm thực hiện giáo dục toàn diện cho học sinh phổ thông, trƣớc hết

tập trung trang bị kiến thức cơ bản một cách vững chắc; chú trọng các môn có

khả năng phát triển tƣ duy lôgic nhƣ toán và các môn tin học, ngoại ngữ(

Anh, Trung, Pháp … ).

Ƣu tiên đầu tƣ kinh phí để tăng cƣờng cơ sở vật chất, trang thiết bị, đảm

bảo đủ giáo viên, có chính sách ƣu tiên cho giáo viên công tác tại vùng miền

núi, dân tộc, phấn đấu 100% giáo viên, cán bộ quản lý có trình độ đạt chuẩn,

trong đó: 60% cán bộ quản lý trên chuẩn; giáo viên giỏi cấp THPT đạt 20%.

Thực hiện tốt Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thƣ( khoá IX) về việc xây

dựng, nâng cao chất lƣợng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Thực

hiện qui hoạch, bố trí cán bộ quản lý, giáo viên hợp lý, bảo đảm đáp ứng yêu

cầu sự phát triển giáo dục- đào tạo trong thời gian tới. Tiếp tục rà soát, đánh

giá, sàng lọc và tuyển dụng mới để xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số

lƣợng, đồng bộ về cơ cấu, ngành nghề đào tạo.

44



45



Bảng 2: Cơ cấu giáo viên trung học phổ thông năm học 2005- 2006



Trong

Tổng số

biên

GV

chế



2119



1893





cấu

GV



Trình

độ

Sin

N N CM Đạt Trên Dƣới

KTCN

Văn L. sử Địa KTNN Tin TD

h

khác chuẩn chuẩn chuẩn



Toán V.lý



Hoá



361



144 154 266 97



202



101



64



37 79 310 131 1815



37



Nguồn: Sở GD- ĐT Bắc Giang

Tổ chức tốt việc đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao chất lƣợng toàn diện đội

ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục thuộc các cơ sở giáo dục và dạy

nghề, công lập và ngoài công lập. Trong đó, bảo đảm 100% cán bộ quản lý

đƣợc bồi dƣỡng về nghiệp vụ quản lý giáo dục có trình độ lý luận chính trị từ

trung cấp trở lên.

3. Thực trạng hoạt động dạy học và đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp tại

các trƣờng THPT tỉnh Bắc Giang

3.1. Nhận thức của học sinh và phụ huynh học sinh, của xã hội về tiếng

Pháp

3.1.1. Nhận thức của phụ huynh

Tuy không phải là ngƣời trực tiếp tham gia việc học nhƣng cha mẹ học

sinh cũng đóng vai trò rất quan trọng vì chính họ là ngƣời lựa chọn cho con

em mình học trƣờng nào, ngoại ngữ gì. Sự phát triển nhƣ vũ bão của tiếng

Anh đã ảnh hƣởng không nhỏ đến việc lựa chọn học ngoại ngữ gì của phụ

huynh và học sinh ngay từ đầu cấp học. Rất nhiều phụ huynh không muốn

hay do dự cho con em mình vào học các lớp có tiếng Pháp. Về sau trong thời

gian ngắn, nhìn chung phụ huynh học sinh đã thực sự hiểu đƣợc sự cần thiết

và ích lợi của việc học tiếng Pháp trong bối cảnh của yêu cầu phát triển đa

dạng hoá về ngôn ngữ bởi việc học tiếng Pháp đã giúp con em họ có một tầm

nhìn mới về văn hoá Pháp ngữ cũng nhƣ tạo điều kiện thuận lợi để các em có

thể theo học ở bậc Đại học những chuyên nghành bằng tiếng Pháp. Chính vì

vậy mà rất nhiều phụ huynh mong muốn sở GD- ĐT Bắc Giang mở thêm các

46



41



lớp tiếng Pháp ngoại ngữ 2 và duy trì, mở rộng việc giảng dạy bộ môn này

trong các nhà trƣờng THPT.



Bảng 3: Thống kê số trƣờng có dạy cả tiếng Anh và

tiếng Pháp( năm học 2005- 2006)

Trƣờng



Số lớp



Số lớp học tiếng Pháp



( Lycées)



Số GV dạy tiếng

Pháp



- 3 lớp chuyên Pháp

THPT Chuyên



30



- 5 lớp học tiếng Pháp



03



NN2



THPT Thái Thuận



40



15



5



số 2



45



20



4



THPT Việt Yên



35



10



2



THPT Yên Dũng



35



10



3



40



10



3



THPT Yên Dũng



số 1



THPT Hiệp Hoà 1



Nguồn: Sở GD- ĐT Bắc Giang

3.1.2.Nhận thức của học sinh

Nhu cầu của ngƣời học là cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất để xác định

việc xây dựng chƣơng trình môn học cũng nhƣ vị trí của môn học đó so với

các môn học khác. Động cơ học ngoại ngữ của các em học sinh cũng rất khác

nhau: Có những học sinh thật sự có động cơ học ngoại ngữ vì nhận thức rằng

ngoại ngữ là công cụ cần thiết cho tƣơng lai của mình. Có những em học chỉ

47



vì nếu không học sẽ không có điểm. Nhƣng dù học ngoại ngữ với động cơ gì

đi nữa thì phần lớn các em đều mong muốn đƣợc theo học các lớp tiếng Anh

khi bƣớc chân vào trƣờng THPT, bởi môn học này các em đƣợc học từ cấp

THCS nên sẽ rất thuận lợi cho các em ở bậc THPT. Một số em khác, những

học sinh thật sự có động cơ nên đã chọn tiếng Pháp là ngoại ngữ ở bậc học

này hoặc là vào các lớp chuyên Pháp do đã nhận thức rằng tiếng Pháp cần

thiết cho tƣơng lai của mình. Dù động cơ lúc đầu có khác nhau, nhƣng hầu hết

các em ở các lớp tiếng Pháp khi đƣợc hỏi đều nói rằng rất thích thú với việc

đƣợc rèn luyện các kỹ năng nói và viết, với tài liệu học tập gốc nhiều màu sắc

với các yếu tố văn hoá xã hội phong phú, với khả năng diễn đạt nói và viết về

những trọng tâm của giới trẻ thuộc cộng đồng Pháp ngữ. Ngoài ra các em còn

khẳng định rằng việc học tiếng Pháp cũng tạo thêm cơ may cho các em trong

việc học ở bậc Đại học cũng nhƣ cho nghề nghiệp sau này.

3.2. Mạng lưới các cơ sở dạy học tiếng Pháp ở các trường THPT và ở Bắc

Giang

3.2.1. Về quy mô phát triển

Từ những kết quả đạt đƣợc trong những năm qua và trƣớc xu thế hội

nhập, Bắc Giang khẳng định sự cần thiết phải tiếp tục thực hiện giảng dạy

tiếng Pháp. Bởi lẽ giảng dạy tiếng Pháp( dù trên quy mô và phạm vi không

lớn) là hình thức giảng dạy giúp các em học sinh nắm vững và sử dụng thành

thạo thêm một ngoại ngữ nữa bên cạnh tiếng Anh- một công cụ làm việc

nhằm thúc đẩy và phát triển hợp tác văn hoá kỹ thuật và kinh tế với các nƣớc

có sử dụng tiếng Pháp, trƣớc mắt là phục vụ thiết thực cho sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh nhà.

Thực hiện chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, bên cạnh các trƣờng THPT đã có

tiếng Pháp ngoại ngữ 1 và tiếng Pháp chuyên, Bắc Giang đã triển khai các lớp

tiếng Pháp ngoại ngữ 2 và khuyến khích các trƣờng THPT trên toàn tỉnh nếu

có điều kiện về cơ sở vật chất nên mở rộng các lớp này. Đến nay bên cạnh 6



48



trƣờng có tiếng Pháp ngoại ngữ 1, có thêm 2 trƣờng tiếng Pháp ngoại ngữ 2

và 1 trƣờng có các lớp chuyên tiếng Pháp .

3.2.2. Tình hình dạy học tiếng Pháp trong trường phổ thông:

Từ sau khi hoà bình đƣợc lập lại đến nay, việc dạy học ngoại ngữ nói

chung và tiếng Pháp nói riêng trong trƣờng phổ thông Việt Nam có thể chia

thành hai giai đoạn chủ yếu:

*Từ năm 1954 đến năm 1975: ở miền Bắc, tiếng Nga và tiếng Trung quốc

đƣợc dạy phổ biến trong các nhà trƣờng cấp III và ở một số trƣờng cấp II,

tiếng Anh và tiếng Pháp cũng đƣợc đƣa vào giảng dạy trong nhà trƣờng

nhƣng với qui mô nhỏ hơn. Ngƣợc lại ở miền Nam, trong các trƣờng phổ

thông, chủ yếu là tiếng Anh và tiếng Pháp. Tiếng Trung quốc cũng đƣợc dạy

nhƣng với qui mô rất nhỏ.

*Từ năm 1975 đến nay: cả 4 thứ tiếng trên đƣợc dạy học ở THCS( cấp II)

và THPT(cấp III) theo chƣơng trình thống nhất trên phạm vi cả nƣớc. Số

trƣờng học có dạy ngoại ngữ phát triển nhanh.Tính đến năm học 2003- 2004,

cả nƣớc có 97,7% số trƣờng THPT có dạy ngoại ngữ.

Hình thức dạy học ngoại ngữ đa dạng: Ngoại ngữ là môn học bắt buộc ở

bậc THPT. Tiếng Pháp cũng giống nhƣ tiếng Anh và tiếng Nga trở thành môn

chuyên ở các trƣờng THPT chuyên các tỉnh. Hơn thế nữa, tiếng Pháp còn đƣợc dạy tăng cƣờng để có thể trở thành một chuyên ngữ ở một số địa

phƣơng.Tiếng Pháp đã trở thành môn thi tốt nghiệp bắt buộc của cấp THPT,

chất lƣợng học sinh tham gia thi tốt nghiệp môn tiếng Pháp ngày càng cao.

57/ 64 tỉnh, thành phố có lớp chuyên ngoại ngữ, có học sinh tham gia thi học

sinh giỏi quốc gia; một số địa phƣơng có học sinh tham gia và đạt giải ở các

kì thi Olympic .

Chương trình và sách giáo khoa:

Mỗi thứ tiếng nƣớc ngoài( Nga- Anh- Pháp- Trung ... ) đều đã xây

dựng đƣợc các bộ chƣơng trình và SGK để giảng dạy trong trƣờng phổ thông.

Tiếng Pháp đƣợc biên soạn với sự hợp tác của các chuyên gia bản ngữ nên rất

49



phù hợp với trào lƣu học tiếng Pháp trong cộng đồng Pháp ngữ và đã phản

ánh đƣợc xu thế của thế giới trong dạy học. Giáo trình thƣờng dùng hiện nay

để dạy tiếng Pháp trong các trƣờng THPT của cả nƣớc là sách giáo khoa tiếng

Pháp hệ 3 năm do nhà xuất bản Giáo dục phát hành. Bên cạnh đó, một số giáo

trình khác còn đƣợc sử dụng để dạy các lớp Chuyên tiếng Pháp và các lớp

tiếng Pháp ngoại ngữ 2 nhƣ: Tiếng Pháp hệ 7 năm, Nouvel Espace, Forum,

ADO ...

Việc giảng dạy ngoại ngữ nói chung và tiếng Pháp nói riêng đƣợc bố trí

xen kẽ với dạy các môn văn hoá khác với thời lƣợng 3 tiết/ 1 tuần đối với các

lớp tiếng ngoại ngữ Pháp 1; 2 tiết/ tuần đối với các lớp tiếng Pháp ngoại ngữ 2

và 7 tiết/ tuần đối với các lớp chuyên Pháp.

Đội ngũ giáo viên:

Đến nay trên toàn tỉnh có 20 giáo viên tham gia giảng dạy tiếng Pháp( 18

trong biên chế, 2 hợp đồng). Khác với tiếng Anh, giáo viên đƣợc đào tạo từ

nhiều nguồn khác nhau( chính quy, tại chức, chuyển đổi ngoại ngữ) và công

tác bồi dƣỡng thƣờng xuyên còn nhiều hạn chế nên chất lƣợng giáo viên

không đồng đều. Đội ngũ viên tiếng Pháp bậc học THPT, 100% số giáo viên

dạy tiếng Pháp có bằng tốt nghiệp đại học. Đa số giáo viên đƣợc luân phiên

bồi dƣỡng hàng năm về chuyên môn nghiệp vụ sƣ phạm, về kiến thức văn

hoá, ngôn ngữ. Một thế mạnh của đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp là trên

50% trong số họ đƣợc tham gia các khoá tập huấn nâng cao trình độ tiếng

Pháp và kỹ năng sƣ phạm tại Cộng hoà Pháp. Tuy vậy trong sự cạnh tranh

khốc liệt với tiếng Anh, một số ít giáo viên tiếng Pháp trƣớc kia đã dạy trong

các nhà trƣờng phổ thông nay không còn lớp để dạy nữa.

Quan sát bảng 4 ta thấy tỷ lệ học sinh học các thứ tiếng trong trƣờng phổ

thông rất khác nhau bởi việc học thứ tiếng nào, không học thứ tiếng nào dạy

học ngoại ngữ theo chƣơng trình 3 năm hay 7 năm do các Sở GD- ĐT tự

quyết định theo điều kiện cụ thể của địa phƣơng mình.



50



Bảng 4: Thống kê số trƣờng THPT ở tỉnh Bắc Giang dạy tiếng Anh

và các ngoại ngữ khác.

Tổng số trƣờng

THPT



Ngoại ngữ đƣợc dạy

T. Pháp

T. Nga



T. Anh



47 trƣờng ( Quốc

lập dân lập, tư

thụcvà bán công)



47



6



T. Trung



1



1



Bảng 5: Tỷ lệ giáo viên ngoại ngữ ( Đang đứng lớp)

Năm học



GV T. Anh



GV T. Pháp



GV T. Nga



GV T. Trung



THCS

2004-2005



THPT



THCS



THPT



THCS



THPT



THCS



THPT



90%



92,8%



0%



6,3%



0%



0,5%



0%



0,4%



Bảng 6: Thống kê trình độ đào tạo giáo viên ngoại ngữ tại các trƣờng THPT

của sở GD-ĐT Bắc Giang tính năm học 2005- 2006.

Tổng số GV ngoại



Cao đẳng



Đại học



Sau đại học



ngữ: 310 GV



Ghi

chú



Tiếng Anh: 285



81



199



05



Tiếng Pháp: 20



0



18



02



Tiếng Nga: 03



0



02



01



Tiếng Trung: 02



0



02



0



Bảng 7: Tỷ lệ học sinh học ngoại ngữ ở các cấp năm học 2005-2006.

LOẠI NGOẠI NGỮ

CẤP



Tiếng Anh



THCS



92,8%



Tiếng Nga



Tiếng Trung



90,2%



THPT



Tiếng Pháp



6,3%



51



0,5%



0,4%



* Nhận xét:

Trên cơ sở điều tra thực trạng cho thấy qui mô, cơ cấu ngoại ngữ đƣợc

dạy trong các trƣờng THPT ở sở GD- ĐT Bắc Giang chƣa đƣợc cân đối. Điều

này dẫn đến cơ cấu đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ trong các trƣờng THPT

tỉnh Bắc Giang có sự phân hoá bất bình đẳng, đó là việc gây búc xúc cần đƣợc

các cấp quản lý phải quan tâm, nhất là đối với các trƣờng chỉ dạy duy nhất

một ngoại ngữ. Phát triển đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp góp phần giảm

thiểu đƣợc sự bất bình đẳng này sẽ tạo động lực thúc đẩy, góp phần nâng cao

chất lƣợng giáo dục, làm phong phú thêm trình độ ngoại ngữ cũng nhƣ hiểu

biết về văn hoá, đất nƣớc ... của học sinh ở bậc học này. Đảm bảo cho mọi ngƣời có quyền bình đẳng về cơ hội học tập, lao động và cơ hội thành đạt trong

cuộc sống, tạo đà đẩy mạnh phát triển kinh tế địa phƣơng, quan hệ hợp tác

giáo dục của nƣớc ta với các nƣớc trên thế giới.

Thiết bị dạy học:

Cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn do phòng học thiếu nên số học sinh

học trong một lớp còn quá đông, không phù hợp với việc dạy ngoại ngữ. Thiết

bị dạy học tiếng Pháp tuy đã đƣợc hỗ trợ rất nhiều từ phía Pháp song còn

nghèo nàn, đơn giản. Ở nhiều trƣờng, thiết bị tối thiểu nhƣ máy cassettes,

băng ghi tiếng, tranh ảnh và các tài liệu tham khảo còn thiếu rất nhiều, thiếu

môi trƣờng thực hành tiếng nên học sinh mau chóng quên kiến thức và kỹ

năng ngoại ngữ đã tiếp thu đƣợc.

Tổ chức quản lý:

Công tác tổ chức quản lí, tổ chức, chỉ đạo dạy học không đồng bộ dẫn

đến tình trạng dạy học tiếng Pháp mất cân đối trầm trọng so với tiếng Anh.

Việc dạy và học tiếng Pháp tuy có những cải tiến nhất định về nội dung,

chƣơng trình, sách giáo khoa nhƣng còn mang tính hình thức, hiệu quả chƣa

cao, gây lãng phí và làm giảm cảm hứng của học tập của học sinh. Nhiều địa

phƣơng chƣa có cán bộ( chuyên viên phụ trách tiếng Pháp tại sở GD- ĐT) để

chỉ đạo việc dạy và học tiếng Pháp trong các trƣờng THPT.

52



53



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

×