1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Thực trạng hoạt động dạy học và đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp tại các trường THPT tỉnh Bắc Giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.6 MB, 120 trang )


lớp tiếng Pháp ngoại ngữ 2 và duy trì, mở rộng việc giảng dạy bộ môn này

trong các nhà trƣờng THPT.



Bảng 3: Thống kê số trƣờng có dạy cả tiếng Anh và

tiếng Pháp( năm học 2005- 2006)

Trƣờng



Số lớp



Số lớp học tiếng Pháp



( Lycées)



Số GV dạy tiếng

Pháp



- 3 lớp chuyên Pháp

THPT Chuyên



30



- 5 lớp học tiếng Pháp



03



NN2



THPT Thái Thuận



40



15



5



số 2



45



20



4



THPT Việt Yên



35



10



2



THPT Yên Dũng



35



10



3



40



10



3



THPT Yên Dũng



số 1



THPT Hiệp Hoà 1



Nguồn: Sở GD- ĐT Bắc Giang

3.1.2.Nhận thức của học sinh

Nhu cầu của ngƣời học là cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất để xác định

việc xây dựng chƣơng trình môn học cũng nhƣ vị trí của môn học đó so với

các môn học khác. Động cơ học ngoại ngữ của các em học sinh cũng rất khác

nhau: Có những học sinh thật sự có động cơ học ngoại ngữ vì nhận thức rằng

ngoại ngữ là công cụ cần thiết cho tƣơng lai của mình. Có những em học chỉ

47



vì nếu không học sẽ không có điểm. Nhƣng dù học ngoại ngữ với động cơ gì

đi nữa thì phần lớn các em đều mong muốn đƣợc theo học các lớp tiếng Anh

khi bƣớc chân vào trƣờng THPT, bởi môn học này các em đƣợc học từ cấp

THCS nên sẽ rất thuận lợi cho các em ở bậc THPT. Một số em khác, những

học sinh thật sự có động cơ nên đã chọn tiếng Pháp là ngoại ngữ ở bậc học

này hoặc là vào các lớp chuyên Pháp do đã nhận thức rằng tiếng Pháp cần

thiết cho tƣơng lai của mình. Dù động cơ lúc đầu có khác nhau, nhƣng hầu hết

các em ở các lớp tiếng Pháp khi đƣợc hỏi đều nói rằng rất thích thú với việc

đƣợc rèn luyện các kỹ năng nói và viết, với tài liệu học tập gốc nhiều màu sắc

với các yếu tố văn hoá xã hội phong phú, với khả năng diễn đạt nói và viết về

những trọng tâm của giới trẻ thuộc cộng đồng Pháp ngữ. Ngoài ra các em còn

khẳng định rằng việc học tiếng Pháp cũng tạo thêm cơ may cho các em trong

việc học ở bậc Đại học cũng nhƣ cho nghề nghiệp sau này.

3.2. Mạng lưới các cơ sở dạy học tiếng Pháp ở các trường THPT và ở Bắc

Giang

3.2.1. Về quy mô phát triển

Từ những kết quả đạt đƣợc trong những năm qua và trƣớc xu thế hội

nhập, Bắc Giang khẳng định sự cần thiết phải tiếp tục thực hiện giảng dạy

tiếng Pháp. Bởi lẽ giảng dạy tiếng Pháp( dù trên quy mô và phạm vi không

lớn) là hình thức giảng dạy giúp các em học sinh nắm vững và sử dụng thành

thạo thêm một ngoại ngữ nữa bên cạnh tiếng Anh- một công cụ làm việc

nhằm thúc đẩy và phát triển hợp tác văn hoá kỹ thuật và kinh tế với các nƣớc

có sử dụng tiếng Pháp, trƣớc mắt là phục vụ thiết thực cho sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh nhà.

Thực hiện chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, bên cạnh các trƣờng THPT đã có

tiếng Pháp ngoại ngữ 1 và tiếng Pháp chuyên, Bắc Giang đã triển khai các lớp

tiếng Pháp ngoại ngữ 2 và khuyến khích các trƣờng THPT trên toàn tỉnh nếu

có điều kiện về cơ sở vật chất nên mở rộng các lớp này. Đến nay bên cạnh 6



48



trƣờng có tiếng Pháp ngoại ngữ 1, có thêm 2 trƣờng tiếng Pháp ngoại ngữ 2

và 1 trƣờng có các lớp chuyên tiếng Pháp .

3.2.2. Tình hình dạy học tiếng Pháp trong trường phổ thông:

Từ sau khi hoà bình đƣợc lập lại đến nay, việc dạy học ngoại ngữ nói

chung và tiếng Pháp nói riêng trong trƣờng phổ thông Việt Nam có thể chia

thành hai giai đoạn chủ yếu:

*Từ năm 1954 đến năm 1975: ở miền Bắc, tiếng Nga và tiếng Trung quốc

đƣợc dạy phổ biến trong các nhà trƣờng cấp III và ở một số trƣờng cấp II,

tiếng Anh và tiếng Pháp cũng đƣợc đƣa vào giảng dạy trong nhà trƣờng

nhƣng với qui mô nhỏ hơn. Ngƣợc lại ở miền Nam, trong các trƣờng phổ

thông, chủ yếu là tiếng Anh và tiếng Pháp. Tiếng Trung quốc cũng đƣợc dạy

nhƣng với qui mô rất nhỏ.

*Từ năm 1975 đến nay: cả 4 thứ tiếng trên đƣợc dạy học ở THCS( cấp II)

và THPT(cấp III) theo chƣơng trình thống nhất trên phạm vi cả nƣớc. Số

trƣờng học có dạy ngoại ngữ phát triển nhanh.Tính đến năm học 2003- 2004,

cả nƣớc có 97,7% số trƣờng THPT có dạy ngoại ngữ.

Hình thức dạy học ngoại ngữ đa dạng: Ngoại ngữ là môn học bắt buộc ở

bậc THPT. Tiếng Pháp cũng giống nhƣ tiếng Anh và tiếng Nga trở thành môn

chuyên ở các trƣờng THPT chuyên các tỉnh. Hơn thế nữa, tiếng Pháp còn đƣợc dạy tăng cƣờng để có thể trở thành một chuyên ngữ ở một số địa

phƣơng.Tiếng Pháp đã trở thành môn thi tốt nghiệp bắt buộc của cấp THPT,

chất lƣợng học sinh tham gia thi tốt nghiệp môn tiếng Pháp ngày càng cao.

57/ 64 tỉnh, thành phố có lớp chuyên ngoại ngữ, có học sinh tham gia thi học

sinh giỏi quốc gia; một số địa phƣơng có học sinh tham gia và đạt giải ở các

kì thi Olympic .

Chương trình và sách giáo khoa:

Mỗi thứ tiếng nƣớc ngoài( Nga- Anh- Pháp- Trung ... ) đều đã xây

dựng đƣợc các bộ chƣơng trình và SGK để giảng dạy trong trƣờng phổ thông.

Tiếng Pháp đƣợc biên soạn với sự hợp tác của các chuyên gia bản ngữ nên rất

49



phù hợp với trào lƣu học tiếng Pháp trong cộng đồng Pháp ngữ và đã phản

ánh đƣợc xu thế của thế giới trong dạy học. Giáo trình thƣờng dùng hiện nay

để dạy tiếng Pháp trong các trƣờng THPT của cả nƣớc là sách giáo khoa tiếng

Pháp hệ 3 năm do nhà xuất bản Giáo dục phát hành. Bên cạnh đó, một số giáo

trình khác còn đƣợc sử dụng để dạy các lớp Chuyên tiếng Pháp và các lớp

tiếng Pháp ngoại ngữ 2 nhƣ: Tiếng Pháp hệ 7 năm, Nouvel Espace, Forum,

ADO ...

Việc giảng dạy ngoại ngữ nói chung và tiếng Pháp nói riêng đƣợc bố trí

xen kẽ với dạy các môn văn hoá khác với thời lƣợng 3 tiết/ 1 tuần đối với các

lớp tiếng ngoại ngữ Pháp 1; 2 tiết/ tuần đối với các lớp tiếng Pháp ngoại ngữ 2

và 7 tiết/ tuần đối với các lớp chuyên Pháp.

Đội ngũ giáo viên:

Đến nay trên toàn tỉnh có 20 giáo viên tham gia giảng dạy tiếng Pháp( 18

trong biên chế, 2 hợp đồng). Khác với tiếng Anh, giáo viên đƣợc đào tạo từ

nhiều nguồn khác nhau( chính quy, tại chức, chuyển đổi ngoại ngữ) và công

tác bồi dƣỡng thƣờng xuyên còn nhiều hạn chế nên chất lƣợng giáo viên

không đồng đều. Đội ngũ viên tiếng Pháp bậc học THPT, 100% số giáo viên

dạy tiếng Pháp có bằng tốt nghiệp đại học. Đa số giáo viên đƣợc luân phiên

bồi dƣỡng hàng năm về chuyên môn nghiệp vụ sƣ phạm, về kiến thức văn

hoá, ngôn ngữ. Một thế mạnh của đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp là trên

50% trong số họ đƣợc tham gia các khoá tập huấn nâng cao trình độ tiếng

Pháp và kỹ năng sƣ phạm tại Cộng hoà Pháp. Tuy vậy trong sự cạnh tranh

khốc liệt với tiếng Anh, một số ít giáo viên tiếng Pháp trƣớc kia đã dạy trong

các nhà trƣờng phổ thông nay không còn lớp để dạy nữa.

Quan sát bảng 4 ta thấy tỷ lệ học sinh học các thứ tiếng trong trƣờng phổ

thông rất khác nhau bởi việc học thứ tiếng nào, không học thứ tiếng nào dạy

học ngoại ngữ theo chƣơng trình 3 năm hay 7 năm do các Sở GD- ĐT tự

quyết định theo điều kiện cụ thể của địa phƣơng mình.



50



Bảng 4: Thống kê số trƣờng THPT ở tỉnh Bắc Giang dạy tiếng Anh

và các ngoại ngữ khác.

Tổng số trƣờng

THPT



Ngoại ngữ đƣợc dạy

T. Pháp

T. Nga



T. Anh



47 trƣờng ( Quốc

lập dân lập, tư

thụcvà bán công)



47



6



T. Trung



1



1



Bảng 5: Tỷ lệ giáo viên ngoại ngữ ( Đang đứng lớp)

Năm học



GV T. Anh



GV T. Pháp



GV T. Nga



GV T. Trung



THCS

2004-2005



THPT



THCS



THPT



THCS



THPT



THCS



THPT



90%



92,8%



0%



6,3%



0%



0,5%



0%



0,4%



Bảng 6: Thống kê trình độ đào tạo giáo viên ngoại ngữ tại các trƣờng THPT

của sở GD-ĐT Bắc Giang tính năm học 2005- 2006.

Tổng số GV ngoại



Cao đẳng



Đại học



Sau đại học



ngữ: 310 GV



Ghi

chú



Tiếng Anh: 285



81



199



05



Tiếng Pháp: 20



0



18



02



Tiếng Nga: 03



0



02



01



Tiếng Trung: 02



0



02



0



Bảng 7: Tỷ lệ học sinh học ngoại ngữ ở các cấp năm học 2005-2006.

LOẠI NGOẠI NGỮ

CẤP



Tiếng Anh



THCS



92,8%



Tiếng Nga



Tiếng Trung



90,2%



THPT



Tiếng Pháp



6,3%



51



0,5%



0,4%



* Nhận xét:

Trên cơ sở điều tra thực trạng cho thấy qui mô, cơ cấu ngoại ngữ đƣợc

dạy trong các trƣờng THPT ở sở GD- ĐT Bắc Giang chƣa đƣợc cân đối. Điều

này dẫn đến cơ cấu đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ trong các trƣờng THPT

tỉnh Bắc Giang có sự phân hoá bất bình đẳng, đó là việc gây búc xúc cần đƣợc

các cấp quản lý phải quan tâm, nhất là đối với các trƣờng chỉ dạy duy nhất

một ngoại ngữ. Phát triển đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp góp phần giảm

thiểu đƣợc sự bất bình đẳng này sẽ tạo động lực thúc đẩy, góp phần nâng cao

chất lƣợng giáo dục, làm phong phú thêm trình độ ngoại ngữ cũng nhƣ hiểu

biết về văn hoá, đất nƣớc ... của học sinh ở bậc học này. Đảm bảo cho mọi ngƣời có quyền bình đẳng về cơ hội học tập, lao động và cơ hội thành đạt trong

cuộc sống, tạo đà đẩy mạnh phát triển kinh tế địa phƣơng, quan hệ hợp tác

giáo dục của nƣớc ta với các nƣớc trên thế giới.

Thiết bị dạy học:

Cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn do phòng học thiếu nên số học sinh

học trong một lớp còn quá đông, không phù hợp với việc dạy ngoại ngữ. Thiết

bị dạy học tiếng Pháp tuy đã đƣợc hỗ trợ rất nhiều từ phía Pháp song còn

nghèo nàn, đơn giản. Ở nhiều trƣờng, thiết bị tối thiểu nhƣ máy cassettes,

băng ghi tiếng, tranh ảnh và các tài liệu tham khảo còn thiếu rất nhiều, thiếu

môi trƣờng thực hành tiếng nên học sinh mau chóng quên kiến thức và kỹ

năng ngoại ngữ đã tiếp thu đƣợc.

Tổ chức quản lý:

Công tác tổ chức quản lí, tổ chức, chỉ đạo dạy học không đồng bộ dẫn

đến tình trạng dạy học tiếng Pháp mất cân đối trầm trọng so với tiếng Anh.

Việc dạy và học tiếng Pháp tuy có những cải tiến nhất định về nội dung,

chƣơng trình, sách giáo khoa nhƣng còn mang tính hình thức, hiệu quả chƣa

cao, gây lãng phí và làm giảm cảm hứng của học tập của học sinh. Nhiều địa

phƣơng chƣa có cán bộ( chuyên viên phụ trách tiếng Pháp tại sở GD- ĐT) để

chỉ đạo việc dạy và học tiếng Pháp trong các trƣờng THPT.

52



53



3.2.3. Tình hình dạy học tiếng Pháp tại Bắc Giang

Cũng nhƣ trong cả nƣớc, ở Bắc Giang ngoại ngữ đƣợc xác định là môn

học bắt buộc từ bậcTHCS và là một trong các môn thi tốt nghiệp ở cấp THPT.

Do những biến động của tình hình chính trị, kinh tế, thế giới, nhất là của

những thập kỷ cuối thế kỷ 20, trƣớc sự phát triển nhƣ vũ bão của khoa học và

công nghệ và xu thế giao lƣu, hội nhập quốc tế, cơ cấu ngoại ngữ và vai trò vị

trí của mỗi thứ tiếng bắt đầu có những thay đổi. Tiếng Nga, tiếng Trung giảm

dần và hầu nhƣ không còn đƣợc dạy trong các trƣờng phổ thông vào những

năm 90 của thế kỷ 20. Tiếng Pháp tăng lên không đáng kể ở các lớp song ngữ

nhƣ ngoại ngữ 2 tại trƣờng THPT Chuyên nhƣng lại giảm số lƣợng các lớp

trong các trƣờng THPT nơi mà trƣớc kia tiếng Pháp luôn chiếm một nửa số

lớp. Ngƣợc lại tiếng Anh phát triển nhƣ vũ bão và có mặt ở mọi cấp học, mọi

ngành và lấn át các thứ tiếng khác.

Quan sát bảng 8 cho thấy tính đến năm 2000, ở bậcTHPT, tỷ lệ học

sinh học tiếng Anh tại Bắc Giang chiếm 87,70%, tiếng Pháp chiếm 9,25%,

tiếng Nga chiếm 1,05%, tiếng Trung chiếm 1,01%. Và con số này đã thay đổi

trƣớc sự phát triển nhƣ vũ bão của tiếng Anh vào năm học 2004- 2005.

Bảng 8:Tỷ lệ học sinh học ngoại ngữ ở các bậc học khác nhau

tỉnh Bắc Giang

Năm học

1997- 1998



1998-1999



1999-2000



2004- 2005



Bậc học

Tiểu học

THCS

THPT

Tiểu học

THCS

THPT

Tiểu học

THCS

THPT

Tiểu học

THCS

THPT



Tỷ lệ học sinh học

T. Anh

4,38%

58,71%

83,20%

7,66%

67,64%

86,29%

9,67%

73,25%

87,70%

92,20%

90,05%

91,05%



54



T. Pháp

0,09%

0,77%

4,59%

0,10%

0,81%

4,07%

0,12%

0,58%

9,25%

0,00%

0,00%

6,85%



T. Nga

0,00%

0,12%

1,50%

0,00%

0,05%

1,46%

0,00%

0,03%

2,04%

0,00%

0,00%

1,05%



T. Trung

0,00%

0,00%

0,01%

0,00%

0,00%

0,01%

0,00%

0,00%

1,01%

0,00%

0,00%

1,05%



3.3.Qui mô, số lượng học sinh THPT học tiếng Pháp

Chƣơng trình giảng dạy tiếng Pháp ở Bắc Giang đã đƣợc thực hiện từ

nhiều năm nay( từ đầu những năm 70 của thế kỷ 20) và cho đến nay, mặc dù

có sự cạnh tranh khốc liệt với tiếng Anh, nó vẫn đƣợc duy trì và phát triển

chút ít. Qua điều tra sơ bộ chúng tôi có đuợc kết quả sau:( Xem bảng 8)



Bảng 9: Số lớp học tiếng pháp của trƣờng và số GV dạy tiếng Pháp

Trƣòng( Lycées)



Số lớp của



Số lớp học



Số GV trong



trƣờng



tiếng Pháp



biên chế



-3 lớp chuyên Pháp

-5 lớp học tiếng

Pháp NN2

15



3



THPT Chuyên



30



THPT Thái Thuận



40



THPT Yên Dũng 2



45



20



4



THPT Việt Yên



35



10



2



THPT Yên Dũng 1



35



10



2



THPT Hiệp Hoà 1



40



10



2



5



Từ những chƣơng trình giảng dạy tiếng Pháp ngoại ngữ 1 truyền thống,

năm học 1992- 1993 Bắc Giang đã có các lớp chuyên Pháp( classes à option

du français) và ba năm gần đây đã có tiếng Pháp ngoại ngữ 2( Le français

langue vivante 2) thí điểm vào trƣờng Chuyên Bắc Giang. Kết quả rất khả

quan, đƣợc Bộ GD-ĐT và Đại sứ quán Pháp đánh giá rất cao, đƣợc các em

học sinh yêu mến và đón nhận, đƣợc phụ huynh ủng hộ. Từ 2006-2010, Bắc

Giang dự định đƣa chƣơng trình này vào tất cả các trƣờng THPT( Lycées

normals) khác: Các em học sinh đang học tiếng Anh có thể đăng kí học thêm

tiếng Pháp ngoại ngữ 2 với thời lƣợng 3 tiết/ tuần. Sự đa dạng của chƣơng

trình và các loại giáo trình khác nhau cũng nhƣ yêu cầu có sự liên thông về

chƣơng trình, nội dung, phƣơng pháp dạy học đã đặt giáo viên cũng nhà các

nhà quản lý trƣớc những khó khăn và thách thức mới bởi đa số các giáo viên

55



này đƣợc đào tạo theo phƣơng pháp dạy học truyền thống. Chính vì vậy mà

việc nghiên cứu biện pháp quản lý nhằm duy trì, phát triển các lớp tiếng Pháp

đang đƣợc sự khích lệ, động viên của Ban lãnh đạo sở GD&ĐT, của Ban

Giám hiệu các nhà trƣờng.

3.4. Loại hình đào tạo và các điều kiện bảo đảm( giáo viên, cơ sở vật chất)

3.4.1. Thực trạng trình độ được đào tạo của giáo viên tiếng Pháp cấp THPT

Bắc Giang

Trên cơ sở phân tích và tổng hợp số liệu của 6 trƣờng THPT ở Bắc

Giang, hiện trạng trình độ đào tạo của giáo viên tiếng Pháp cấp THPT ở Bắc

Giang( số liệu tháng 4/2005) đƣợc trình dƣới đây:

Bảng 10:Thống kê trình độ đào tạo giáo viên tiếng Pháp

của sở GD-ĐT Bắc Giang năm 2005.

Tổng số



Đại học



Sau đại học



Ghi chú

7 giáo viên đƣợc bồi



20



18



02



dƣỡng



chuyên



môn



nghiệp vụ sƣ phạm tại

Cộng hoà Pháp

Tất cả 18 giáo viên tiếng Pháp trong biên chế và 2 hợp đồng ở 6 trƣờng

THPT của tỉnh đều đã tốt nghiệp Đại học SPNN hệ chính quy(100%), trong

khi đó số giáo viên tiếng Anh có trình độ Đại học chiếm 85%. Có 2 giáo viên

đã có trình độ thạc sỹ và 7 giáo viên đã có ít nhất một lần( từ 2 tháng đến 12

tháng) đƣợc chọn đi bồi dƣỡng nâng cao nghiệp vụ sƣ phạm tại Cộng hoà

Pháp.

Nhƣ vậy, tất cả các giáo viên dạy tiếng Pháp tại 6 trƣờng THPT hiện

đang có tiếng Pháp đều đạt trình độ đào tạo chuẩn quốc gia trở lên. Đây là

vốn quý, là nhân tố quan trọng tạo nên chất lƣợng hiệu quả của việc dạy tiếng

56



Pháp ngoại ngữ trong các trƣờng THPT của tỉnh trong giai đoạn có sự cạnh

tranh khốc liệt với tiếng Anh hiện nay.

Bên cạnh những thuận lợi trên, đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp tại các

trƣờng THPT tỉnh Bắc Giang cũng còn bộ lộ một số hạn chế sau: Tuy số

lƣợng giáo viên tiếng Pháp không đông nhƣ các bộ môn khác và đã đạt chuẩn

về trình độ đào tạo, nhƣng trình độ giữa các giáo viên không đồng đều nhau,

một số giáo viên còn hạn chế ở phƣơng pháp giảng dạy. Kết quả điều tra cho

thấy có tới 45% giáo viên còn dạy ngoại ngữ theo phƣơng pháp đọc, chép là

chính và hầu nhƣ không sử dụng tiếng Pháp khi giảng bài

Chỉ có 20% giáo viên dạy tiếng Pháp có khả năng độc lập, chủ động

trong việc đề xuất, xây dựng kế hoạch và trực tiếp tổ chức các giờ giảng có sử

dụng phƣơng pháp mới( Projet- Tình huống) và giảng bài hoàn toàn bằng

tiếng Pháp trong giờ dạy. 56% giáo viên còn gặp khó khăn, lúng túng và còn

đến 24% giáo viên rất lúng túng, thậm chí không có khả năng vận dụng một

phƣơng pháp dạy học khác nào ngoài phƣơng pháp dạy truyền thống.

Kết quả dự giờ, thăm lớp cho thấy trong giờ dạy, giáo viên cố gắng duy trì

lớp học trật tự, nghiêm túc không gây ảnh hƣởng đến các lớp khác đã là thành

công. Hình thức dạy học chủ yếu là đọc, chép nên thực tế việc dạy học nói

chung và dạy ngoại ngữ nói riêng vẫn đƣợc dạy theo kiểu” Truyền thống”,

thậm chí có nơi xem“ Đọc chép” là phƣơng pháp chính. Thói quen suy nghĩ

rằng môn ngoại ngữ không quan trọng, đến tiếng mẹ đẻ còn chƣa đọc thông

viết thạo thì cần gì đến ngoại ngữ, học sinh không hứng thú học môn học này

và các em học ngoại ngữ chỉ là để thi cho qua, kiến thức, kỹ năng dễ bị mai

một lãng quên sau khi học.

Trả lời câu hỏi những nguyên nhân, yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng

công tác, chúng tôi thu đƣợc kết quả dƣới đây( xếp theo thứ tự ưu tiên): 80%

giáo viên khẳng định do môn học chƣa đƣợc quan tâm, các em học sinh chủ

yếu học tiếng Anh ở THCS nên rất muốn có sự liên thông của môn ngoại ngữ

ở THPT. Chính vì vậy mà hầu hết các em muốn đƣợc học tiếng Anh ở THPT.

57



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

×