1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên dạy tiếng Pháp bậc THPT tỉnh Bắc Giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.6 MB, 120 trang )


sinh ở những lớp học tiếng Pháp có nhiều cơ hội tốt hơn đối với những học

sinh học tiếng Anh khi học vào Đại học.

Những năm gần đây, tình trạng mất cân đối về qui mô, cơ cấu ngoại

ngữ đƣợc dạy trong nhà trƣờng gây nên tình trạng tuỳ tiện, lộn xộn và kém

hiệu quả trong việc giảng dạy ngoại ngữ tại các trƣờng THPT. Rất nhiều các

nhà quản lý, do áp lực từ phía học sinh và phụ huynh, hoặc do thiếu sự chỉ

đạo thống nhất từ các cấp nên không mấy thiết tha với việc dạy tiếng Pháp,

tiếng Nga. Hơn thế nữa, yêu cầu có sự liên thông về chƣơng trình, nội dung,

phƣơng pháp dạy học đã đặt giáo viên cũng nhà các nhà quản lý trƣớc những

khó khăn và thách thức. Họ nghĩ rằng nếu dạy 2 ngoại ngữ trong một trƣờng

sẽ rất khó quản lý, chính vì vậy mà rất nhiều nhà quan lý không nhiệt tình đón

nhận tiếng Pháp cũng nhƣ các giáo viên dạy ngoại ngữ này.

Tuy nhiên, có không ít Hiệu trƣởng ở các trƣờng THPT tỉnh Bắc Giang

nhận thức đƣợc mục tiêu lâu dài của việc duy trì tiếng Pháp ngoại ngữ 1 và

mở thêm các lớp tiếng Pháp ngoại ngữ 2 là cần thiết trong bối cảnh của yêu

cầu phát triển đa dạng về ngôn ngữ, đối với tiếng Pháp, việc duy trì và mở

rộng tiếng Pháp mở ra cho học sinh một tầm nhìn mới về văn hoá Pháp ngữ

cũng nhƣ tạo điều kiện thuận lợi để các em có thể theo học ở bậc Đại học

những chuyên ngành đƣợc giảng dạy bằng tiếng Pháp vì nó thích ứng đƣợc

mục tiêu mới của nền giáo dục Việt Nam và đáp ứng đƣợc yêu cầu“ đào tạo

những công dân có tầm nhìn rộng về thế giới”

4.2. Chính sách, chế độ

Tuy đã có hƣớng dẫn thực hiện năm học hàng năm của Bộ GD- ĐT đối

với việc duy trì và phát triển các ngoại ngữ đƣợc dạy trong hệ thống giáo dục

quốc dân về “Chƣơng trình song ngữ và tiếng Pháp- Ngoại ngữ 2” nhƣng hiện

tại Bắc Giang vẫn chƣa có quy định về chính sách, chế độ cũng nhƣ cơ chế sử

dụng đối với giáo viên dạy tiếng Pháp trong và ngoài biên chế. Công tác

tuyên truyền, giáo dục, định hƣớng cho xã hội và đội ngũ cán bộ quản lí ở các

cấp, các ngành, các địa phƣơng trong việc nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò

62



và tác dụng của việc dạy và học tiếng Pháp tại Việt Nam nói chung và ở Bắc

Giang nói riêng trong bối cảnh Việt Nam là thành viên của Cộng đồng Pháp

ngữ và là một trong 51 nƣớc có sử dụng tiếng Pháp vẫn chƣa đƣợc quan tâm.

Hơn nữa, do chƣa có đƣợc một chiến lƣợc dạy học ngoại ngữ ở các

trƣờng THPT nên những năm qua đã tuyển một cách ồ ạt giáo viên tiếng Anh

làm mất cân đối nghiêm trọng về tỷ lệ giáo viên đối với các thứ tiếng khác

trong đó có giáo viên tiếng Pháp. Trong khi mà số giáo viên tiếng Nga, tiếng

Pháp đƣợc đào tạo cơ bản, chính qui thì không có lớp dạy và số đông sinh

viên tốt nghiệp(loại khá và giỏi) không tìm đƣợc việc làm. Số giáo viên tiếng

Pháp ngoài biên chế vẫn chƣa có hy vọng đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà

nƣớc nên họ không yên tâm công tác.

Trong một vài năm gần đây, số giáo viên tiếng Pháp ở Bắc Giang đã có

cơ hội tham gia các lớp tập huấn ngắn hạn về phƣơng pháp giảng dạy do các

chuyên gia Pháp và các chuyên gia của các trƣờng Đại học tổ chức nên tình

hình giảng dạy tiếng Pháp tại Bắc Giang rất tốt, song hiện nay, sở GD- ĐT

vẫn chƣa có kế hoạch nào cho tƣơng lai về đào tạo lại hoặc bồi dƣỡng cho đội

ngũ giáo viên tiếng Pháp của tỉnh nhà.

Những vấn đề trên ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả và chất lƣợng dạy

học tiếng Pháp ở trƣờng THPT và ảnh hƣởng rất lớn đến phụ huynh học sinh

trong việc lựa chọn ngoại ngữ để học khi con em họ bƣớc chân vào bậc học

này vì họ muốn vào học các lớp tiếng Anh để sau này có cơ hội lớn hơn khi

tìm việc làm. Điều này dẫn đến tình trạng các lớp học tiếng Pháp đã ít lại càng

ít hơn và cơ hội đối với những giáo viên ngoài biên chế lại mỏng manh hơn.



4.3. Cơ chế tuyển dụng, sử dụng

Vào đầu những năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến hành cho biên

soạn Chƣơng trình trung học phổ thông cho từng môn học trong đó có ngoại

ngữ( Anh, Nga, Pháp, Trung) với thời lƣợng 3 tiết một tuần với mục tiêu đa

dạng hoá môn ngoại ngữ ở các trƣờng học đồng thời duy trì hợp lý tỷ lệ các

63



ngoại ngữ đƣợc dạy trong nhà trƣờng. Tuy nhiên từ nhiều năm nay, tình trạng

chƣa hợp lý trong cơ cấu tuyển dụng dẫn đến sự không cân đối về tỷ lệ biên

chế đối với các giáo viên dạy các thứ tiếng khác nhau ở Bắc Giang cũng nhƣ

trên toàn quốc là điều không tránh khỏi.

Quan sát bảng 14 ta thấy mặc dù số biên chế cần tuyển giáo viên ngoại

ngữ có tăng lên trong năm học 2005-2006 tại sở GD- ĐT Bắc Giang do số lớp

trong các trƣờng THPT tăng nhƣng hầu nhƣ không tuyển thêm giáo viên tiếng

Pháp, Nga, Trung nào ngay cả trong những trƣờng vẫn có lớp học ngoại ngữ

này.



64



Bảng 14: Cơ cấu giáo viên dạy ngoại ngữ tại các trƣờng THPT Bắc Giang

Thực hiện năm học 2005-2006 và kế hoạch tuyển dụng năm học 2006-2007

ƣớc thực hiện



Kế hoạch năm



31/12/2005



học 2006-2007



Tổng số



Biên chế



Tổng số



Biên chế



3.1 Giáo viên môn văn hoá

3.2 Giáo viên tin học

3.3 Giáo viên ngoại ngữ



310



356



* Môn tiếng Anh



285



200



328



270



* Môn tiếng Pháp



20



18



22



18



* Môn tiếng Nga



03



03



03



03



* Môn tiếng Trung



02



01



03



02



Tổng cộng

Nguồn: Kế hoạch tuyển dụng GV do sở GD- ĐT Bắc Giang cung cấp

4.4. Đào tạo, bồi duỡng

Nghị quyết TW2( khoá VIII) đã khẳng định: “ Xây dựng đội ngũ giáo

viên, tạo động lực cho ngƣời dạy, ngƣời học” và khẳng định lại rằng“ Giáo

viên là nhân tố quyết định chất lƣợng giáo dục và đã đƣợc xã hội tôn vinh”,

kèm theo đó là một loạt giải pháp, biện pháp cụ thể nhằm khắc phục các mặt

yếu kém trong công tác đào tạo bồi dƣỡng giáo viên, nâng cao địa vị và uy tín

của giáo viên. Chính vì vậy, muốn xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên

tiếng Pháp THPT có phẩm chất tốt về chính trị đạo đức, giỏi về chuyên môn

thì phải đẩy mạnh và nâng cao chất lƣợng công tác bồi dƣỡng và tự bồi

dƣỡng.

Chất lƣợng giáo dục phụ thuộc phần lớn vào trình độ đội ngũ giáo viên,

vì thế công tác bồi dƣỡng phải luôn gắn với sử dụng, phục vụ cho sử dụng



65



công tác bồi dƣỡng càng có tầm quan trọng chiến lƣợc khi trình độ đội ngũ

cũng nhƣ cơ cấu còn nhiều mặt bất cập so với yêu cầu cải cách giáo dục.



66



4.4.1.Mục tiêu đào tạo bồi dưỡng

Giúp giáo viên có đủ năng lực tham gia tích cực vào sự nghiệp cải cách

giáo dục, trƣớc mắt là cải cách phƣơng pháp dạy ngoại ngữ trong bối cảnh

hiện nay của đất nƣớc.

Giáo viên dạy ngoại ngữ nói chung và tiếng Pháp nói riêng theo kịp sự

phát triển của các yêu cầu xã hội đối với nhà trƣờng, sự phát triển về khoa

học- công nghệ và khoa học giáo dục làm cơ sở cho việc cải tiến công tác

giáo dục theo hƣớng vừa hiện đại, vừa sát với thực tế địa phƣơng. Trong việc

thực hiện kế hoạch bồi dƣỡng đội ngũ giáo viên, ƣu tiên quan tâm bồi dƣỡng

đội ngũ cán bộ, giáo viên để họ thực sự là lực lƣợng nòng cốt về chuyên môn,

giáo viên có điều kiện để rèn lại kỹ năng ngôn ngữ của mình đồng thời đƣợc

trang bị thêm một số hiểu biết cơ bản về lý thuyết ngữ học, các quan điểm về

kỹ thuật đọc và dạy đọc bằng tiếng Pháp chẳng hạn và nhất là có cơ hội thực

hành và kiểm nghiệm thực sự các kiến thức đó để biến chúng trở thành kỹ

năng thực sự của chính giáo viên.

4.4.2. Nội dung, cách thức thực hiện

Để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong hoạt động giảng dạy của nhà

trƣờng hiện nay nhất là đáp ứng đƣợc việc dạy tiếng nƣớc ngoài, nội dung bồi

dƣỡng cần bám sát các yêu cầu đối với ngƣời giáo viên. Căn cứ vào kế hoạch

bồi dƣỡng của ngành, tình hình thực tế của địa phƣơng để định ra trọng tâm

cho từng năm học và có yêu cầu cụ thể. Trong giai đoạn hiện nay, công tác

bồi dƣỡng giáo viên nên hƣớng vào các mặt sau:

- Về chính trị tư tưởng

Trƣớc hết nên tập trung vào việc bồi dƣỡng lý tƣởng cho đội ngũ. Lý

tƣởng yêu nghề nghiệp là biểu hiện tập trung của lòng yêu nƣớc nồng nàn,

lòng yêu nghề, yêu trẻ sâu sắc, là yếu tố quan trọng trong nhân cách cao đẹp

của ngƣời thày giáo xã hội chủ nghĩa. Nó là sự kết hợp hài hoà giữa tinh thần

giác ngộ xã hội chủ nghĩa với tình cảm cách mạng và đƣợc thể hiện bằng

hành động cụ thể là đem hết sức mình để chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ và xây

67



dựng nhà trƣờng, chống những biểu hiện của tƣ tƣởng trung bình chủ nghĩa,

bàng quan, vô trách nhiệm.

Gắn việc bồi dƣỡng lý tƣởng với việc bồi dƣỡng những phẩm chất của

ngƣời giáo viên, cán bộ nhƣ ý thức làm chủ tập thể tự lực tự cƣờng, tinh thần

đoàn kết tƣơng thân tƣơng ái, ý thức tổ chức kỷ luật ... làm cho đội giáo viên,

cán bộ thực sự là tấm gƣơng sáng cho học sinh noi theo.

Phối kết hợp với địa phƣơng và chính quyền để họ quan tâm, giúp đỡ giáo

viên, cán bộ nhất là giáo viên dạy ngoại ngữ( vì hầu hết đội ngũ giáo viên dạy

ngoại ngữ không muốn tham gia các công tác đoàn thể) để họ phấn đấu, tham

gia nhập Đảng. Số lƣợng Đảng viên càng nhiều thì công tác giáo dục càng

thuận lợi.

- Về nghiệp vụ

Có hai hƣớng bồi dƣỡng nghiệp vụ. Một là bồi dƣỡng thông qua thực tế

công tác của giáo viên, cán bộ nhằm hoàn thiện kỹ năng sƣ phạm. Hai là qua

việc tổ chức học tập có hệ thống để nâng cao trình độ đội ngũ một cách căn

bản hơn.

+ Tổ chức dự giờ, thăm lớp lẫn nhau, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên

môn, tổ chức đúc rút kinh nghiệm, sáng kiến sau một thời kỳ một năm học. ...

Mỗi năm, ngành chọn một trong hai chuyên đề có tính chất then chốt đối với

việc nâng cao chất lƣợng một mặt giáo dục cụ thể nào đó của nhà trƣờng để tổ

chức trao đổi ở hội đồng sƣ phạm.

+ Việc nâng cao trình độ cho giáo viên một cách hệ thống bao gồm

những việc làm sau: Có kế hoạch và tạo điều kiện cho giáo viên đƣợc bồi

dƣỡng tiêu chuẩn hoá hay tham dự các chƣơng trình bồi dƣỡng theo quy định

của ngành nhƣ bồi dƣỡng hè, bồi dƣỡng thay sách cải cách giáo dục ...

Chƣơng trình đào tạo tiếp tục để nâng cao trình độ giáo viên tiếng Pháp các

trường phổ thông đã góp phần quan trọng giúp cho giáo viên có cơ hội trao

đổi chuyên môn với nhau, có điều kiện tốt hơn về tƣ liệu tham khảo và các tƣ

liệu dạy và học. Qua chƣơng trình này, giáo viên có điều kiện để rèn lại kỹ

68



năng ngôn ngữ của mình đồng thời đƣợc trang bị thêm một số hiểu biết cơ

bản về lý thuyết ngữ học, các quan điểm về kỹ thuật đọc và dạy đọc bằng

tiếng Pháp chẳng hạn và nhất là có cơ hội thực hành và kiểm nghiệm thực sự

các kiến thức đó để biến chúng trở thành kỹ năng thực sự của chính giáo viên.

Đƣợc sự quan tâm chỉ đạo của Bộ GD-ĐT và sự giúp đỡ của đỡ của Pháp

nên chƣơng trình bồi dƣỡng từ xa này thể hiện tính khoa học và đƣợc thực thi

qua các khâu tổ chức, quản lí, phƣơng pháp dạy học, trang thiết bị dạy học,

điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo do vậy đã góp phần không nhỏ cho sự thành

công của toàn chƣơng trình. Các mục tiêu, mục đích của từng phần kiến thức

rõ ràng, mạch lạc thuận lợi cho ngƣời dạy, ngƣời học.

+ Chỉ đạo các tổ giúp đỡ các giáo viên còn yếu về chuyên môn, các giáo

viên đang ở thời kỳ tập sự, các giáo viên phải dạy thêm môn khác ngoài môn

ngoại ngữ, các giáo viên dạy cả ngoại ngữ 1 và ngoại ngữ 2, hoặc là các giáo

viên tốt nghiệp trƣòng Đại học ngoại ngữ chứ không phải là Đại học sƣ phạm

ngoại ngữ vì những giáo viên này chƣa qua đào tạo sƣ phạm nên nhất thiết

phải cử đi học các lớp bồi dƣỡng tiêu chuẩn hoá.

+Về phƣơng pháp nghiên cứu khoa học: Lựa chọn các vấn đề nghiên cứu

phạm vi nhỏ phù hợp với khả năng, điều kiện thực tế địa phƣơng có thể thực

hiện đƣợc nhƣ: nghiên cứu lịch sử của huyện, nghiên cứu phong tục tập quán

của đồng bào dân tộc ... nhằm phục vụ nâng cao chất lƣợng dạy và học.

+ Bồi dƣỡng về sức khoẻ

Sức khoẻ là một trong các tiêu chuẩn của giáo viên, cán bộ vì thế nội

dung bồi dƣỡng cần bao gồm cả mặt này. Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, phải

thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ, chính sách nhà nƣớc đã ban hành nhƣ chế

độ lao động, chế độ nghỉ hè, nghỉ phép, chế độ chăm sóc và khám sức khoẻ,

hƣu trí

5. Đánh giá chung (SWOT): Mạnh- Yếu- Thời cơ- Thách thức

5.1. Điểm mạnh



69



Trong hơn năm mƣơi năm qua, trƣớc và sau khi đổi mới mở cửa, Đảng và

nhà nƣớc ta luôn quan tâm chú trọng đến việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ

thống giáo dục quốc dân. Đến nay, hầu hết các trƣờng THPT trên địa bàn tỉnh

Bắc Giang đều có dạy ngoại ngữ ( Anh, Pháp, Nga, hoặc Trung), đây là yếu tố

không nhỏ tạo nên bƣớc phát triển về quy mô và chất lƣợng đội ngũ lao động

sau này có trình độ nhất định về ngoại ngữ và hình thành đội ngũ nhân tài cho

tỉnh nhà. Những thắng lợi mà chúng ta đã đạt đƣợc trong các lĩnh vực chính

trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế .... có phần đóng góp nhất định của quá trình

dạy học tiếng nƣớc ngoài theo đƣờng lối và phƣơng châm giáo dục của Đảng

và Nhà nƣớc.

Đội ngũ giáo viên tiếng Pháp trong các trƣờng THPT của sở Giáo dục và

Đào tạo Bắc Giang rất yêu nghề, nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao, luôn

phấn đấu trong chuyên môn, có ý thức vƣơn lên, có tổ chức kỷ luật. Hầu hết

những giáo viên của các trƣờng đều có trình độ và năng lực công tác, có lòng

say mê nghề nghiệp và đặc biệt đội ngũ đó đã đƣợc đào tạo chuẩn ( Tất cả

đều có trình độ Đại học chính qui trở lên), và rất nhiều ngƣời trong số giáo

viên này đã có cơ hội đƣợc học tập và làm việc cùng ngƣời Pháp nên trình độ

về tiếng cũng nhƣ những hiểu biết về đất nƣớc, về lịch sử nƣớc Pháp rất sâu.

Nhà trƣờng luôn tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục

vụ cho việc giảng dạy và học tập ngoại ngữ nói chung và tiếng Pháp nói

riêng.

Nội dung chƣơng trình dạy tiếng Pháp đã đƣợc biên soạn một cách có hệ

thống và tƣơng đối hoàn thiện giúp cho việc dạy và học ngoại ngữ của các

trƣờng THPT vào nề nếp.

Những học sinh đã chọn tiếng Pháp ở bậc học này đều rất yêu thích môn

học bởi qua môn học các em hiểu thêm về nền văn hoá và con ngƣời Pháp.

5.2. Điểm yếu

Trong một môi trƣờng sống đang chuyển dịch theo chiều hƣớng toàn cầu

hoá, hội nhập để phát triển thì chúng ta chƣa chú trọng việc đổi mới quan

70



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

×