1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Đánh giá chung (SWOT): Mạnh- Yếu- Thời cơ- Thách thức

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.6 MB, 120 trang )


Trong hơn năm mƣơi năm qua, trƣớc và sau khi đổi mới mở cửa, Đảng và

nhà nƣớc ta luôn quan tâm chú trọng đến việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ

thống giáo dục quốc dân. Đến nay, hầu hết các trƣờng THPT trên địa bàn tỉnh

Bắc Giang đều có dạy ngoại ngữ ( Anh, Pháp, Nga, hoặc Trung), đây là yếu tố

không nhỏ tạo nên bƣớc phát triển về quy mô và chất lƣợng đội ngũ lao động

sau này có trình độ nhất định về ngoại ngữ và hình thành đội ngũ nhân tài cho

tỉnh nhà. Những thắng lợi mà chúng ta đã đạt đƣợc trong các lĩnh vực chính

trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế .... có phần đóng góp nhất định của quá trình

dạy học tiếng nƣớc ngoài theo đƣờng lối và phƣơng châm giáo dục của Đảng

và Nhà nƣớc.

Đội ngũ giáo viên tiếng Pháp trong các trƣờng THPT của sở Giáo dục và

Đào tạo Bắc Giang rất yêu nghề, nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cao, luôn

phấn đấu trong chuyên môn, có ý thức vƣơn lên, có tổ chức kỷ luật. Hầu hết

những giáo viên của các trƣờng đều có trình độ và năng lực công tác, có lòng

say mê nghề nghiệp và đặc biệt đội ngũ đó đã đƣợc đào tạo chuẩn ( Tất cả

đều có trình độ Đại học chính qui trở lên), và rất nhiều ngƣời trong số giáo

viên này đã có cơ hội đƣợc học tập và làm việc cùng ngƣời Pháp nên trình độ

về tiếng cũng nhƣ những hiểu biết về đất nƣớc, về lịch sử nƣớc Pháp rất sâu.

Nhà trƣờng luôn tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục

vụ cho việc giảng dạy và học tập ngoại ngữ nói chung và tiếng Pháp nói

riêng.

Nội dung chƣơng trình dạy tiếng Pháp đã đƣợc biên soạn một cách có hệ

thống và tƣơng đối hoàn thiện giúp cho việc dạy và học ngoại ngữ của các

trƣờng THPT vào nề nếp.

Những học sinh đã chọn tiếng Pháp ở bậc học này đều rất yêu thích môn

học bởi qua môn học các em hiểu thêm về nền văn hoá và con ngƣời Pháp.

5.2. Điểm yếu

Trong một môi trƣờng sống đang chuyển dịch theo chiều hƣớng toàn cầu

hoá, hội nhập để phát triển thì chúng ta chƣa chú trọng việc đổi mới quan

70



niệm về mục tiêu dạy học tiếng nƣớc ngoài. Công tác quản lý, chỉ đạo việc

dạy và học tiếng nƣớc ngoài còn lúng túng. Chúng ta chƣa xác định đƣợc cơ

cấu tiếng nƣớc ngoài trƣớc sự biến động trong quan hệ ngoại giao giữa nƣớc

ta và nƣớc có thứ tiếng đang đƣợc dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân. Sự

chƣa liên thông giữa chƣơng trình dạy ngoại ngữ ở các cấp, bậc học, sự không

đồng bộ về trình độ đào tạo giữa các giáo viên, về cơ cấu ngoại ngữ đƣợc dạy

cũng nhƣ sự chƣa chú trọng đến dạy tiếng nuớc ngoài làm phƣơng tiện giao

tiếp dẫn đến chất lƣợng dạy và học ngoại ngữ nói chung và tiếng Pháp nói

riêng trong các nhà trƣờng cũng nhƣ ở các cơ sở dạy tiếng nƣớc ngoài đang là

mối quan tâm, lo lắng của các nhà quản lý, của ngƣời học và cả ngƣời dạy.

Ngay từ đầu cấp học, hầu hết Ban Giám hiệu của các trƣờng THPT đều bị

chịu áp lực từ phía phụ huynh và học sinh nên chƣa có cơ cấu hợp lý cho việc

dạy và học ngoại ngữ nào, chính vì vậy mà số các em xin vào lớp học tiếng

Anh rất đông dẫn đến sự quá tải về ngoại ngữ này trong khi đó thì tiếng Pháp,

tiếng Nga và tiếng Trung lại ít đƣợc quan tâm đến.

Chƣa bố trí cán bộ làm công tác đào tạo tƣ vấn cho học sinh về ngoại ngữ

mà các em sẽ học nên nhiều học sinh dù có yêu thích tiếng Pháp vẫn nghĩ

rằng mình không học tiếng Pháp ở THCS thì làm sao có thể học tốt đƣợc ở

THPT. Nhƣng trên thực tế, tiếng Pháp đƣợc dạy cho ngƣời bắt đầu học tại bậc

học này chứ không phải là sự liên thông nhƣ tiếng Anh

Một thực tế hiển nhiên là đại đa số các học sinh, sinh viên của Việt Nam

nói chung và Bắc Giang nói riêng nếu đƣợc tuyển chọn đi học ở nƣớc ngoài

thƣờng phải dành khoảng thời gian rất dài cho việc bồi dƣỡng ngoại ngữ để

đạt trình độ yêu cầu. Khi đem so sánh với môn toán, ta thấy sự tụt hậu quá xa

của học sinh, sinh viên Việt Nam về ngoại ngữ và điều này cho thấy năng lực

ngoại ngữ của học sinh, sinh viên Việt Nam còn cách xa với trình độ cần thiết

cho công tác, học tập sau này

Hiệu quả sử dụng vốn ngoại ngữ học đƣợc trong công việc cũng khá hơn

bởi từ những ngƣời thuộc đội ngũ lao động giản đơn, đã tốt nghiệp THPT ở

71



Bắc Giang đến những ngƣời tốt nghiệp đại học hoặc cao hơn nữa khi đƣợc

chọn đi lao động ở nƣớc ngoài hoặc với ngƣời nuớc ngoài đều phải mất rất

nhiều thời gian và tiền bạc cho việc học ngoại ngữ.

5.3. Thời cơ

Xu thế toàn cầu hoá đã tạo ra những biến đổi sâu sắc tạo ra một động lực

thúc đẩy nền giáo dục phát triển. Toàn cầu hoá cũng tạo ra cơ hội to lớn cho

các nƣớc đang phát triển rút ngắn khoảng cách. Việc mở rộng quan hệ song

phƣơng và đa phƣơng trên mọi phƣơng diện tạo nên cơ hội để đất nƣớc ta có

thể học hỏi kinh nghiệm hay của các nƣớc đi trƣớc, rút ngắn quãng đƣờng

phải mày mò, tránh lập lại những bƣớc không cần thiết trong quá trình công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, giúp con ngƣời phát triển những giá trị

nhân văn, hiểu biết và thông hiểu, vị tha đối với dân tộc khác. Đặc biệt là tạo

cơ hội cho thế hệ trẻ của nƣớc ta có thể theo học, nghiên cứu, mở mang kiến

thức ở bất cứ nơi đâu hứa hẹn một tƣơng lai tốt đẹp cho các nhân tài và những

cống hiến thực sự có ích cho đất nƣớc.

Có thể thấy, cơ hội to lớn nhất là thông qua cuộc cách mạng khoa học kỹ

thuật, các nƣớc đang phát triển có điều kiện tiếp thu và đón đầu công nghệ

hiện đại để áp dụng ngay vào quá trình phát triển kinh tế- xã hội mà không

mất thời gian nghiên cứu và thử nghiệm. Hoà mình cùng xu thế đó, sự nghiệp

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc của tỉnh Bắc Giang cũng đang ngày

càng phát triển, điều đó dẫn đến nhu cầu nguồn nhân lực có chất lƣợng ngày

một lớn. Và đó cũng chính là cơ hội để Bắc Giang thực hiện nhiệm vụ đào tạo

nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nƣớc.

5.4. Thách thức

Việt Nam đã tích cực đàm phán để gia nhập tổ chức Thƣơng mại Thế

giới (WTO), lúc này, chúng ta phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh theo xu

thế toàn cầu hoá nền kinh tế Thế giới. Nếu chúng ta không chuẩn bị kịp thời

và kỹ nguồn nhân lực có chất lƣợng cao để làm chủ những công nghệ thì phần

72



thay đổi theo hƣớng tăng nhanh số lƣợng việc làm đòi hỏi có trí tuệ cao và tập

trung ở nhiều khu vực dịch vụ và công nghệ cao. Đây là thách thức lớn đối

với nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực có chất lƣợng cho sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc.

Trong bối cảnh hiện nay, chúng ta bắt đầu cảm nhận sự yếu kém về ngoại

ngữ trong giao lƣu quốc tế, nhất là khi đàm phán trực tiếp hay tham dự các

hội nghị, hội thảo quốc tế cũng nhƣ khi tham gia các khoá học về chuyên môn

nghiệp vụ hay khi tham dự các cuộc thi tài năng quốc tế bởi ngoại ngữ là

phƣơng tiện đắc lực, là điều kiện tiên quyết và hữu hiệu trong tiến trình hội

nhập và phát triển hiện nay.

CHƢƠNG 3

MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

TIẾNG PHÁP Ở CÁC TRƢỜNG THPT TỈNH BẮC GIANG

1. Cơ sở và các nguyên tắc đề xuất biện pháp

1.1.Một số quan điểm của Đảng và của ngành GD&ĐT trong sự nghiệp

CNH-HĐH

Ngày nay, thế giới đã bƣớc vào thập kỉ đầu tiên của thế kỉ 21 và đang

chứng kiến dòng thác của một cuộc biến đổi vô cùng lớn lao của xã hội loài

ngƣời với đặc trƣng của xã hội học tập, toàn cầu hoá, công nghệ, đặc biệt là

công nghệ thông tin và nhu cầu học tập suốt đời đã và đang thôi thúc và giúp

chúng ta tổ chức lại một cách cơ bản đời sống xã hội, đƣa loài ngƣời đến với

nền tri thức, bƣớc vào nền văn minh trí tuệ.

Nhận thức rõ bối cảnh và xu thế phát triển của thời đại. Đại hội đại biểu

toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã xác định mục tiêu chiến lƣợc phát triển

kinh tế xã hội 10 năm( 2001-2010) là" Đƣa nƣớc ta ra khỏi tình trạng kém

phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền

tảng để đến năm 2020 nƣớc ta cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng

hiện đại. Nguồn lực con ngƣời, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ

73



tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh đƣợc tăng cƣờng, thể chế kinh tế

thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa đƣợc hình thành về cơ bản; vị thế của

nƣớc ta trên trƣờng quốc tế đƣợc nâng cao ... ".

Bối cảnh chung đã trao cho nhà trƣờng một trách nhiệm vô cùng vẻ

vang và nặng nề, đó là hình thành và phát triển những giá trị mới cho con

ngƣời cả về khía cạnh nhân văn và kĩ thuật. Hoàn thành trách nhiệm đó là

nhiệm vụ của tất cả các môn học và các hoạt động trong nhà trƣờng nói chung

và của việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

nói riêng. Kinh nghiệm của các nuớc phát triển và các nƣớc công nghiệp mới

trên thế giới cũng nhƣ khu vực châu Á- Thái Bình dƣơng đã chỉ rõ những

điều kiện cần thiết để hội nhập và phát triển trong thời đại ngày nay.

Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của ngoại ngữ, từ cuối những năm 60,

đầu những năm 70 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nƣớc ta đã rất quan tâm đến

việc dạy và học ngoại ngữ trong nhà trƣờng và đến nay lại càng quan tâm

hơn. Có thể nói, công tác dạy ngoại ngữ những năm qua đã có những đóng

góp tích cực vào tiến trình hội nhập và phát triển của đất nƣớc. Phong trào

dạy học ngoại ngữ của nƣớc ta chƣa bao giờ sôi động và phát triển mạnh mẽ

nhƣ ngày nay. Song để đảm bảo và nâng cao chất lƣợng dạy và học ngoại

ngữ, phục vụ thiết thực cho công cuộc hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất

nuớc, tích cực hội nhập hơn nữa vào cộng đồng quốc tế, chúng ta cần đánh

giá đúng thực trạng dạy và học ngoại ngữ, trên cơ sở đó xây dựng chiến lƣợc

dạy học ngoại ngữ khả thi, tạo nên sự đổi mới mang tính đột phá trong việc

dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nƣớc ta.

Kể từ tháng 9 năm 1945, khi nƣớc nhà giành đƣợc độc lập, tự do đến nay,

do những điều kiện lịch sử, quan hệ ngoại giao và nhu cầu phát triển kinh tếxã hội của từng thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trên đất nƣớc ta đã tồn

tại và phát triển nhiều tiếng nƣớc ngoài, trong đó phổ biến nhất là tiếng Anh,

tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Trung Quốc, giúp chúng ta tìm hiểu thế giới,

tiến ra thế giới, làm cho thế giới hiểu mình và làm bạn với mình. Chúng ta,

74



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

×