1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Cơ sở và các nguyên tắc đề xuất biện pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.6 MB, 120 trang )


tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh đƣợc tăng cƣờng, thể chế kinh tế

thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa đƣợc hình thành về cơ bản; vị thế của

nƣớc ta trên trƣờng quốc tế đƣợc nâng cao ... ".

Bối cảnh chung đã trao cho nhà trƣờng một trách nhiệm vô cùng vẻ

vang và nặng nề, đó là hình thành và phát triển những giá trị mới cho con

ngƣời cả về khía cạnh nhân văn và kĩ thuật. Hoàn thành trách nhiệm đó là

nhiệm vụ của tất cả các môn học và các hoạt động trong nhà trƣờng nói chung

và của việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam

nói riêng. Kinh nghiệm của các nuớc phát triển và các nƣớc công nghiệp mới

trên thế giới cũng nhƣ khu vực châu Á- Thái Bình dƣơng đã chỉ rõ những

điều kiện cần thiết để hội nhập và phát triển trong thời đại ngày nay.

Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của ngoại ngữ, từ cuối những năm 60,

đầu những năm 70 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nƣớc ta đã rất quan tâm đến

việc dạy và học ngoại ngữ trong nhà trƣờng và đến nay lại càng quan tâm

hơn. Có thể nói, công tác dạy ngoại ngữ những năm qua đã có những đóng

góp tích cực vào tiến trình hội nhập và phát triển của đất nƣớc. Phong trào

dạy học ngoại ngữ của nƣớc ta chƣa bao giờ sôi động và phát triển mạnh mẽ

nhƣ ngày nay. Song để đảm bảo và nâng cao chất lƣợng dạy và học ngoại

ngữ, phục vụ thiết thực cho công cuộc hiện đại hoá, công nghiệp hoá đất

nuớc, tích cực hội nhập hơn nữa vào cộng đồng quốc tế, chúng ta cần đánh

giá đúng thực trạng dạy và học ngoại ngữ, trên cơ sở đó xây dựng chiến lƣợc

dạy học ngoại ngữ khả thi, tạo nên sự đổi mới mang tính đột phá trong việc

dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nƣớc ta.

Kể từ tháng 9 năm 1945, khi nƣớc nhà giành đƣợc độc lập, tự do đến nay,

do những điều kiện lịch sử, quan hệ ngoại giao và nhu cầu phát triển kinh tếxã hội của từng thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trên đất nƣớc ta đã tồn

tại và phát triển nhiều tiếng nƣớc ngoài, trong đó phổ biến nhất là tiếng Anh,

tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Trung Quốc, giúp chúng ta tìm hiểu thế giới,

tiến ra thế giới, làm cho thế giới hiểu mình và làm bạn với mình. Chúng ta,

74



không ai có thể phủ nhận đƣợc những đóng góp của việc dạy học ngoại ngữ

đối vói sự tiến bộ trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội của nƣớc ta trong suốt

thời gian qua.

Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hoá và sự hội nhập quốc tế đang là xu

thế của thời đại và trong bối cảnh đổi mới, mở cửa hƣớng ra thế giới, làm bạn

với các nƣớc trên thế giới, chúng ta đã nhận thấy những bất cập của việc dạy

học ngoại ngữ trƣớc đòi hỏi của sự phát triển kinh tế và trƣớc nhu cầu mở của

rộng quan hệ song phƣơng và đa phƣơng trên mọi phƣơng diện đặc biệt là

phuơng diện kinh tế và văn hoá, ngoại giao, mọi mặt, cho thấy những cơ hội

để đất nƣớc đi trƣớc, rút ngắn quãng đƣờng phải mầy mò, tránh lập lại những

bƣớc đi không cần thiết trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nƣớc, mặt khác cũng tạo ra cơ hội cho từng ngƣòi dân có thể lựa chọn, tìm

kiếm việc làm trong nƣớc, giúp con ngƣời phát triển những giá trị nhân văn,

hiểu mình và thông hiểu, vị tha đối với dân tộc khác, đặc biệt là tạo cơ hội cho

thế hệ trẻ của đất nƣớc ta có thể theo học, nghiên cứu, mở mang kiến thức ở

bất cứ nơi đâu hứa hẹn một tƣơng lai tốt đẹp cho cá nhân họ và những cống

hiến thực sự có ích cho đất nƣớc. Nhƣng cũng chính trong bối cảnh nhƣ vậy,

chúng ta bắt đầu cảm nhận sự yếu kém trong giao lƣu quốc tế, nhất là khi đàm

phán trực tiếp hay tham gia các khoá học về chuyên môn nghiệp vụ hay khi

tham dự các cuộc thi tài năng quốc tế. Chính vì vậy, để hoà nhập vào sự phát

triển chung của xã hội, tìm cho mình chỗ đứng thực sự trong thế giới đang

ngày càng toàn cầu hoá một cách mạnh mẽ, chúng ta không thể không xem

xét một cách nghiêm túc thực trạng dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo

dục quốc dân trong những năm qua, từ đó nghiên cứu kĩ lƣỡng, hoạch định

một chiến lƣợc dạy học ngoại ngữ vừa khả thi, vừa đáp ứng đƣợc những yêu

cầu phát triển tuơng lai của nƣớc ta.

Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách của thực tiễn, Đảng và Chính phủ

đã có nhiều chỉ thị đẩy mạnh việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo



75



dục quốc dân nƣớc ta, nhằm phục vụ tích cực và có hiệu quả sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc.

Ngày 11 tháng 4 năm 1968, Thủ tƣớng Chính phủ đã có chỉ thị số 43/TTg

về phƣơng hƣớng và nhiệm vụ dạy và học ngoai ngữ ở các trƣờng Đại học,

trung học chuyên nghiệp và các trƣờng phổ thông, chỉ thị nêu rõ:"Dạy học

một ngoại ngữ ở các trường cấp II và phấn đấu dạy học hai ngoại ngữ ở các

trường cấp III, các thứ tiếng đựợc dạy là: Tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Trung

và tiếng Anh"

Ngày 7 tháng 9 năm 1972, Thủ tƣớng Chính phủ ra Quyết định số 251TTG về việc cải tiến và tăng cƣờng công tác dạy và học ngoại ngữ trong các

trƣờng phổ thống. Quyết định này tiếp tục khẳng định ngoại ngữ là môn học

cơ bản trong chƣơng trình phổ thông từ cấp II trở lên nhấn mạnh việc dạy học

đồng thời hai ngoại ngữ( một chính, một phụ) ở cấp III, mở các trƣờng

chuyên ngoại ngữ ở những nơi có điều kiện, thành lập một trung tâm chuyên

nghiên cứu việc dạy và học ngoại ngữ.

Điều 24 của Luật Giáo Dục (1998) cũng khẳng định vị trí quan trọng

của ngoại ngữ trong nội dung học vấn phổ thông và đề ra yêu cầu bảo đảm

cho học sinh có kiến thức cơ bản về ngoại ngữ.

Tháng 8 năm 2002, Chính phủ đã phê duyệt đề án" Đổi mới chƣơng

trình giáo dục phổ thông" của Bộ GD- ĐT cũng đã khẳng định ngoại ngữ là

môn học bắt buộc và tiếp tục dạy học tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng

Trung Quốc ở các trƣờng phổ thông, trong đó tiếng Anh là ngoại ngữ chủ yếu.

Đối với những vùng có nhu cầu và đủ điều kiện cần thiết thì có thể thay thế

việc dạy học tiếng Anh bằng một trong ba thứ tiếng còn lại nêu trên.

1.2. Định hướng phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Pháp của tỉnh Bắc

Giang

Bắc Giang là một tỉnh miền núi nằm cách thủ đô Hà Nội 50 km về phía

Bắc, diện tích tự nhiên 3882,2 km2( Trung du chiếm 10,5%, miền núi chiếm



76



89,5%). Toàn tỉnh có 9 huyện và 1 thành phố trong đó có 6 huyện miền núi và

1 huyện vùng cao( Sơn Động), 229 xã, phƣờng, thị trấn.

Hệ thống giáo dục Bắc Giang tƣơng đối hoàn chỉnh với các ngành học

từ mầm non, phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp. Quy mô, loại hình trƣờng

lớp đƣợc củng cố, mở rộng phù hợp với điều kiện kinh tế của địa phƣơng,

đảm bảo yêu cầu chất lƣợng giáo dục. Hiện có 47 trƣòng THPT(34 trƣờng

THPT công lập, 10 trƣờng dân lập, 2 trƣờng tƣ thục); 1.495 lớp, 69.298 học

sinh.

Từ nhiều thập kỷ qua, trong chƣơng trình giáo dục phổ thông, bộ môn

ngoại ngữ đã đƣợc liên tục giảng dạy, và vị trí của môn học này ngày càng

đƣợc khẳng định trong đó có tiếng Pháp. Hiện nay, ngoại ngữ đƣợc coi là bộ

môn văn hoá cơ bản có tầm quan trọng nhƣ những môn học khác. Hơn thế

nữa, ngày nay khi nhà nƣớc ta thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa thì vai

trò của môn ngoại ngữ càng trở nên quan trọng hơn trong mọi cấp học. Tại sở

GD- ĐT Bắc Giang, tuy không nhiều nhƣng tiếng Pháp chƣa bị suy giảm

mạnh nhƣ tiếng Nga trƣớc sự phát tiển nhƣ vũ bão của tiếng Anh. Số trƣờng

THPT có dạy tiếng Pháp ở Bắc Giang không đƣợc tăng lên nhƣng vẫn đƣợc

duy trì. Trong năm học 2006- 2007, việc giảng day môn tiếng Pháp thực hiện

theo các chƣơng trình: tiếng Pháp ngoại ngữ 1, tiếng Pháp ngoại ngữ 2 và

chuơng trình tiếng Pháp cho các lớp chuyên, cụ thể nhƣ sau:



Bảng15: Quy mô đào tạo tiếng Pháp bậc THPT ở Bắc Giang.

Tiếng Pháp NN 1



Tiếng Pháp NN 2 Tiếng Pháp chuyên



SỐ TRƢỜNG



06



02



01



SỐ LỚP



65



20



03



SỐ HỌC SINH



3055



750



80



77



Nguồn: Trường THPT Chuyên tỉnh Bắc Giang

Năm học 2006- 2007, giáo dục Bắc Giang đang nỗ lực phấn đấu thực

hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm trong đó có công tác quản lý, bồi dƣỡng và

phát triển đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ nói

riêng. Tại các trƣờng THPT trên toàn tỉnh, do xu thế phát triển của xã hội nên

gần nhƣ toàn bộ học sinh đầu cấp học này đều chọn tiếng Anh. Do vậy ngay

từ đầu năm học mới, sở GD&ĐT đã có văn bản hƣớng dẫn thực hiện nhiệm

vụ năm học 2006- 2007 ghi rõ: Duy trì các lớp tiếng Pháp ngoại ngữ 1 tại các

trƣờng THPT đã có, khuyến khích các trƣờng khác tổ chức dạy tiếng Pháp

ngoại ngữ 2 cho học sinh có nguyện vọng đặc biệt tiến hành tại trƣờng THPT

Yên Dũng số 1 và trƣờng THPT Hiệp Hoà I. Tiếp tục thực hiện tốt chƣơng

trình SGK thí điểm của dự án tăng cƣờng tiếng Pháp và bằng tiếng Pháp, dần

dần coi đây là ngoại ngữ 2 đƣợc dạy bắt buộc cho học sinh trong trƣờng

THPT. Đa dạng hoá hình thức dạy học ngoại ngữ khác, khai thác sự hợp tác,

hỗ trợ của các lực lƣợng xã hội và tổ chức việc dạy và học ngoại ngữ ngoài

nhà trƣờng để vừa tiết kiệm, vừa đạt hiệu quả.

Công văn hƣớng dẫn cũng đã nêu: Trên cơ sở dự báo số học sinh và giáo

viên dạy các thứ tiếng theo nhu cầu của xã hội, của cá nhân ngƣời học, phân

bố lƣợng giáo viên cần đào tạo và bồi dƣỡng cho cả cấp học trong từng năm

đối với các trƣờng THPT khác nhau. Củng cố và mở rộng khả năng đào tạo và

bồi dƣỡng giáo viên ngoại ngữ để đạt chuẩn và phù hợp với chƣơng trình,

SGK mới. Xây dựng chƣơng trình đào tạo giáo viên có hai ngoại ngữ để họ có

thể dạy cả chƣơng trình bắt buộc và chƣơng trình tự chọn( ngoại ngữ 2). Sử

dụng, điều động đội ngũ giáo viên ngoại ngữ hiện có giữa các trƣờng một

cách hợp lý, có hiệu quả thông qua các biện pháp hành chính và chế độ chính

sách. Khi chƣa có ngân sách từ địa phƣơng chi lƣơng cho số giáo viên dạy

tiếng Pháp ngoại ngữ 2, để duy trì và phát triển số lƣợng các lớp học tiếng

Pháp cũng nhƣ số giáo viên dạy bộ môn này, các trƣờng THPT có thể huy

động sự đóng góp của học sinh hoặc quỹ của nhà trƣờng để chi lƣơng cho

78



những giáo viên có đạo đức nghề nghiệp tốt, có năng lực chuyên môn và tinh

thần trách nhiệm cao.

1.3. Các nguyên tắc

Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiếng Pháp trong các trƣờng

THPT tỉnh Bắc Giang đƣợc căn cứ trên các nguyên tắc sau :

- Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống: Các biện pháp đƣợc đặt trong hệ

thống các mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp của toàn bộ chiến lƣợc phát triển

GD- ĐT cũng nhƣ trong bối cảnh chung của Tỉnh và của các trƣờng THPT.

Hơn nữa các biện pháp phải có mối quan hệ biện chứng với nhau, biện pháp

này là cơ sở là điều kiện để thúc đẩy biện pháp kia, tất cả các biện pháp kết

hợp với nhau thành một hệ thống trong mối qua hệ chặt chẽ cộng lực

- Nguyên tắc bảo đảm tính nhất quán: Các biện pháp đƣợc xây dựng

trên cơ sở đƣợc đảm bảo sự nhất quán từ điều tra cơ bản, phân tích thực trạng,

xác định nhu cầu về số lƣợng, cơ cấu loại hình chất lƣợng đội ngũ giáo viên

đƣợc thống nhất trong mục tiêu, mục đích chung là phát triển đội ngũ giáo

viên phục vụ yêu cầu nâng cao chất lƣợng dạy và học ngoại ngữ trong bối

cảnh hiện nay của đất nƣớc.



- Nguyên tắc bảo đảm tính thực tiễn: Các biện pháp đƣợc đề ra phải sát

với nhóm đối tƣợng giáo viên theo từng điều kiện kinh tế- xã hội của địa

phƣơng cụ thể. Trên cơ sở phân tích kỹ thực trạng đội ngũ giáo viên dạy

ngoại ngữ và nguyên nhân dẫn đến thức trạng đó.

2. Một số biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiếng Pháp ở các truờng

THPT Bắc Giang

2.1. Hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với giáo viên tiếng Pháp

2.1.1.Mục tiêu

Trong chiến lƣợc phát triển giáo dục 2001-2010 về phần phát triển đội

ngũ giáo viên. Quyết định của thủ tƣớng Chính phủ có ghi" Điều chỉnh cơ cấu

79



đội ngũ giáo viên phổ thông....". Tháng 8 năm 2002, Chính phủ cũng đã phê

duyệt đề án" Đổi mới chƣơng trình giáo dục phổ thông" của Bộ Giáo dục và

Đào tạo. Đề án khẳng định ngoại ngữ là môn học bắt buộc và tiếp tục dạy học

tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc ở các trƣờng phổ thông.

Đảm bảo sự liên tục và hiệu quả của việc dạy và học ngoại ngữ thứ nhất( bắt

buộc) và ngoại ngữ thứ hai( tự chọn).

Tuy nhiên, hiện nay có nhiều vấn đề về đội ngũ giáo viên ngoại ngữ ở

các trƣờng phổ thông trong tỉnh. Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu thừa và

thiếu cục bộ. Rất nhiều trƣờng tuyển một cách ồ ạt giáo viên tiếng Anh làm

mất đối nghiêm trong về tỷ lệ biên chế giáo viên đối với các thứ tiếng khác

trong đó có tiếng Pháp. Trong khi mà số giáo viên tiếng Nga, Pháp, Trung

đƣợc đào tạo cơ bản, chính qui thì không có lớp để dạy và số đông sinh viên

sau khi tốt nghiệp không tìm đƣợc việc làm

Trƣớc sự phát triển tăng quy mô về số lƣợng trƣờng lớp ở bậc THPT tại

sở GD- ĐT Bắc Giang và trƣớc xu thế hội nhập của đất nƣớc, đòi hỏi phải

tăng số lƣợng đội ngũ giáo viên cũng nhƣ sự hợp lý về cơ cấu ngoại ngữ đƣợc

dạy đảm bảo chất lƣợng, để tránh tình trạng tuỳ tiện, lộn xộn, lãng phí thì cơ

chế tuyển dụng, chính sách giáo viên tiếng Pháp cần đƣợc đặc biệt quan tâm.

Đối với giáo dục THPT ở Bắc Giang, muốn phát triển đội ngũ giáo viên

dạy tiếng Pháp trƣớc hết cần có kế hoạch sử dụng hợp lý đội ngũ giáo viên

hiện có, khắc phục tình trạng những giáo viên tiếng Pháp đƣợc đào tạo bàn

bản, chính qui chƣa đƣợc sử dụng, nhằm đảm bảo chất lƣợng toàn diện cho

con em các địa phƣơng dân tộc trong tỉnh đƣợc học từ một đến hai ngoại ngữ

trong nhà trƣờng phổ thông.

2.1.2. Nội dung, cách thực hiện

Từ năm 2004 đến nay, sở GD- ĐT Bắc Giang phối kết hợp với sở Nội vụ

cải tiến hình thức xét tuyển giáo viên trên cơ sở, nhu cầu của các trƣờng

THPT để tuyển dụng bổ sung đội ngũ giáo viên có phẩm chất, kiến thức, năng

lực sƣ phạm, đáp ứng yêu cầu định mức cũng nhƣ nguyện vọng học ngoại

80



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

×